Thưa các ông,
Điều mà tôi muốn nói với các ông trong lá thư này lẽ ra tôi phải nói từ hơn 20 năm trước. Nhưng tôi đã không nói. Vừa rồi, mấy đứa cháu tôi học xa về chơi. Trong một bữa cơm tối, chúng đã nói chuyện với nhau về một người Mỹ được trao giải Nobel hoà bình năm 2009. Đó là ông Tổng thống Mỹ. Chúng tranh luận với nhau rất nhiều. Tôi ngồi nghe chúng mà không hề tham gia vào câu chuyện của chúng. Nhưng những đêm sau đó, tôi nghĩ nhiều về câu chuyện đó.
Khi ông Barack Obama được bầu là Tổng thống Mỹ, các cháu tôi cũng tranh luận về chuyện đó. Riêng cá nhân mình, tôi xin chúc mừng ông. Vì trước kia, tôi đọc báo và thấy chuyện phân biệt chủng tộc rất nặng nề ở chính nước Mỹ. Thế mà, là một người da màu mà ông lại được bầu là Tổng thống của nước Mỹ. Ông phải làm được gì đó mới được nhân dân Mỹ tín nhiệm như thế. Giờ đây, ông lại được trao giải Nobel hoà bình vì những nỗ lực để giải trừ vũ khí hạt nhân. Ai yêu hoà bình cũng sẽ ủng hộ ông nếu ông thực sự vì nền hoà bình của con người. Bởi hầu hết mọi người trên thế giới đều biết đến sự huỷ diệt ghê gớm như thế nào của những quả bon nguyên tử mà chính người Mỹ các ông đã ném xuống nước Nhật hơn một nửa thế kỷ trước.
Thế nhưng, tôi vẫn nghĩ, giá như các ông xét giải thưởng ở UB Giải Nobel hoà bình trao cho một người nào đó với những việc làm cụ thể hơn đối với hoà bình của con người hiện này thì thiết thực hơn. Tôi nói điều này với danh nghĩa là một người chứng kiến nỗi đau đớn hiện tại do chiến tranh gây ra. Nỗi đau đớn này phải nói đến cả về mặt tinh thần của nó. Là một người làm công tác xã hội ở một huyện nhỏ, nhưng tôi quan niệm hoà bình không chỉ là chấm dứt một cuộc chiến tranh súng đạn mà là chấm dứt những đau đớn tinh thần cho con người.
Thưa các ông,
Hơn ai hết, tôi là một người phải chứng kiến nỗi đau đớn tinh thần mấy chục năm nay do cuộc chiến tranh mà chính quyền Mỹ gây ra trên xứ sở tôi. 19 tuổi, tôi đã trở thành một người vợ của một chiến sĩ Quân giải phóng. Cưới nhau được ba ngày, thì chồng tôi, một chàng trai 21 tuổi phải xa vợ đi vào mặt trận. Lúc đó, tất cả những người Việt Nam chúng tôi đều thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Năm tuần sau đó, chồng tôi hy sinh. Tôi xung phong vào một đơn vị thanh niên xung phong. Tôi cứ thế sống trong đau đớn tinh thần của mất mát cho đến sau khi chiến tranh kết thúc. Tôi trở về quê hương và làm công tác xã hội, sau đó, kết hôn lần thứ hai với một người lính từ mặt trận trở về. Hạnh phúc mới tưởng sẽ làm cho những mất mát trong chiến tranh của cá nhân tôi nguôi đi. Nhưng sự tàn ác của chiến tranh vẫn theo tôi cho đến bây giờ và có lẽ đến khi chết.
Đứa con đầu lòng của chúng tôi sinh ra cùng với nỗi bất hạnh vô bờ. Đứa bé ấy ra đời nhưng không được nhìn mặt ba má nó. Nó không có mắt. Sau này tôi mới biết đó là do chất độc da cam mà quân đội Mỹ thả xuống xứ sở tôi. Các bác sỹ đã khuyên vợ chồng tôi phải suy nghĩ kỹ khi sinh đứa con tiếp theo. Nhưng chúng tôi đã đi qua nỗi sợ hãi để sinh thêm một đứa con nữa.
 |
Chúng tôi là những con người đã chiến đấu cho hoà bình xứ sở mình. Chúng tôi có quyền mơ ước về một hạnh phúc bình dị như bao con người ở Na Uy, nơi có UB xét giải Nobel hoà bình và như bao người dân Mỹ, nơi có ông Tổng thống được trao giải Nobel hoà bình. Nhưng đứa con thứ hai của chúng tôi ra đời cũng không được làm một con người bình thường. Tôi đã nhìn thấy ông Tổng thống Mỹ tươi cười với hai đứa con gái thông minh và xinh đẹp của mình trên ti vi. Tôi biết ông vô cùng hạnh phúc vì hai đứa con gái của mình. Là một người phụ nữ, tôi cũng thấy rất cảm tình với hai cô bé đó. Ông sẽ sống thế nào khi những đứa con của mình sinh ra không được làm một con người bình thường như mọi con người khác?
Sau nhiều năm, vợ chồng tôi lại tiếp tục sinh thêm đứa con thứ ba. Bởi trong những giấc mơ của vợ chồng tôi, chúng tôi vẫn nhìn thấy và nghe thấy tiếng những đứa trẻ trong sáng và đẹp tựa thiên thần chạy về phía chúng tôi và gọi tên chúng tôi. Sau những giấc mơ như thế, cả hai vợ chồng tôi ôm nhau khóc. Khát khao có những đứa con lành lặn lại thúc giục chúng tôi như chưa bao giờ như thế.
Thưa các ông trong UB Giải Nobel hoà bình các ông có biết đứa trẻ thứ ba được sinh ra như thế nào không ? Nó được sinh ra với đôi tay không phải là tay, đôi chân không phải là chân và không bao giờ nó có thể nói được một từ tiếng mẹ đẻ của nó. Một người mẹ như tôi sẽ có hoà bình hay không khi những đứa con mình như thế? Hơn thế, không chỉ có một bà mẹ là tôi phải gánh chịu tội ác ấy của chiến tranh gây ra mà có hàng ngàn những người phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu ngày ngày nỗi đau đớn tinh thần như thế? Vậy mà, bao năm qua, Toà án Mỹ và những người Mỹ có trách nhiệm vẫn không chịu nói một lời xin lỗi hàng ngàn phụ nữ chúng tôi và hàng vạn những đứa trẻ có số phận bất hạnh như ba đứa con của tôi.
Tôi không biết luật pháp và Toà án của Hoa Kỳ như thế nào. Nhưng tôi biết và ai cũng biết trong Toà án lương tâm của con người chỉ có một điều luật mà thôi. Nhưng cho đến bây giờ, tôi vẫn không thấy Toà án lương tâm của các ông hé cửa một lần. Gia đình tôi là một gia đình còn nghèo khó trên mảnh đất miền Trung bão lụt quanh năm, nhưng chúng tôi vẫn lặng lẽ cày cuốc trên cánh đồng quê hương mình để sinh sống chứ không ngửa tay xin một đồng bố thí.
Các ông có biết chúng tôi phải cấy cày và gieo hạt trên những cánh đồng còn vùi những trái bom của quân đội Mỹ ném xuống không? Sao các ông không nghĩ đến và vì một nền hoà bình cụ thể hơn? Tôi nói vậy để các ông hiểu rằng chúng tôi đấu tranh cho những nạn nhân chất độc da cam không phải vì những đồng đô la bồi thường mà để đánh thức lương tâm của con người và đòi sự công bằng cho những đứa trẻ vô tội sinh ra trên mặt đất này. Chúng tôi đã sống cả cuộc đời mình bằng bàn tay lao động của mình như ông cha chúng tôi hàng ngàn năm nay. Nếu có cầu xin điều gì thì đó chỉ là cầu xin sự an lành cho con người mà thôi.
Tôi cứ tự hỏi: Sao các ông ở UB Giải Nobel không cử những thành viên của mình đến nơi này để chứng kiến những đứa trẻ tật nguyền và mãi mãi không được làm một con người bình thường. Nếu một thành viên nào đó của các ông đến đây, sống trong ngôi nhà của hàng ngàn gia đình có những đứa con như ba đứa con của tôi một ngày thôi chứ không phải một tháng, một năm thì tôi nghĩ trong lương tâm các ông sẽ có những điều gì đó đổi thay cho dù rất nhỏ bé.
Tôi tin rằng trong suốt cuộc đời của các ông, chắc chắn các ông cũng một lần mơ thấy con mình ngã cầu thang hay khi tập đi xe đạp thì các ông sẽ hoảng sợ và tỉnh giấc. Nhưng tôi và hàng vạn người phụ nữ ở nơi này đã chứng kiến con mình đau đớn không phải trong những cơn ác mộng hàng chục năm nay rồi. Tôi chỉ là một người phụ nữ bình thường với những suy nghĩ bình thường để nói với các ông những điều bình thường nhất. Liệu các ông có hiểu những điều bình thường của một con người như tôi không?
Thưa các ông,
Các ông có biết hơn hai mươi năm nay tôi sống với ba đứa con như thế nhưng chưa một phút nào chúng phải nghe một lời nói nặng từ tôi. Tất cả những bà mẹ có những đứa con như các con tôi cũng sống như vậy với những đứa trẻ ấy. Chúng tôi muốn mang đến cho những đứa trẻ kia sự thanh bình trong ngôi nhà của chúng. Một con thú cũng cần sự âu yếm và tình thương của con người huống hồ những đứa trẻ ấy là con người, cho dù chúng là những con người không bình thường. Những người phụ nữ Việt Nam chúng tôi đã và đang mang đến sự yên bình cụ thể cho mỗi ngôi nhà trên xứ sở chúng tôi.
Tôi biết ông Tổng thống Mỹ cũng không đợi chờ gì một giải thưởng cho dù nó lớn đến đâu. Tôi thiển nghĩ giải thưởng lớn nhất cho ông chính là lòng tin yêu của người dân Mỹ đối với ông trong những ngày tháng qua. Một ngày nào đó các ông ở UB Giải thưởng Nobel hoà bình và ông Tổng thống Mỹ hãy đến quê hương tôi, một huyện còn nghèo khó nhưng người dân ở đó qua bao đời nay luôn luôn mơ về một cuộc sống hoà bình và đã hy sinh cho cuộc sống hoà bình ấy. Ông sẽ đồng cảm và hiểu hơn với quan niệm của tôi, một con người bình thường như hàng tỷ con người trên trái đất là: Một cuộc sống hoà bình thực sự là một cuộc sống mà tinh thần con người không còn đau đớn, chứ không phải không có tiếng súng nào đó vang lên.
Kính chúc các ông mạnh khoẻ.
Võ Thị Rạng
Việt Nam