Bài mới nhất

Sửa Đóng

                Họa sĩ và người mẫu

Tác giả : NGUYỄN HÀO HẢI ( 7/20/2009 4:23:12 PM )

... Chúng tôi ngồi im, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Nhưng có lẽ không có gì ngoài Hà Nội. Có thể nghĩ về cảnh đẹp của Hà Nội, nghĩ về những món ăn Hà Nội, nghĩ về những họa sĩ đích thực Hà Nội mà trên thực tế có vô cùng ít ỏi trong thủ đô cổ kính của chúng ta.

 

Tôi ra phố sau hơn một tuần ngồi viết trả nợ bài cho một tờ Tạp chí. Chiều, sau giờ tan tầm, phố xá vắng dần. Bầu trời pha trộn giữa màu xanh và xám, một vài chỗ có thêm mầu trắng mờ. Trời thoáng lạnh. Tôi thầm nghĩ: Có lẽ mình “ngồi thiền” trong nhà quá lâu, nên không biết thời gian đã đi sang một nẻo khác. Mùa thu, không khí, phố xá và trời mây đã làm cho lòng tôi có một chút gì đó hứng khởi. Tôi đạp xe lên mạn Hồ Tây cho đầu óc thoáng đãng.

Tôi rẽ vào đường Cổ Ngư. Lâu lắm rồi tôi mới lại đi vào con đường này, và bỗng dưng cảm thấy như đang đi về con đường của dĩ vãng. Bất chợt nghe thấy những tiếng chào, tôi dừng xe và nhận ra một tốp sinh viên trường Mỹ thuật đang dắt xe đi bộ dưới lòng đường. Mấy bạn trẻ này rất yêu họa sĩ Dương Bích Liên, được sự giới thiệu, họ đã đến chơi nhà tôi vài lần xin cho em một số tranh của họa sĩ mà tôi giữ. Tôi nhập vào giới trẻ và đi chơi với họ.

Đi một chầu đã mỏi chân, tôi mời các bạn trẻ vào cái quán cổ ven hồ uống bia. Quán hàng xưa, nay được xây thêm một sân trời, đón những ngọn cây, cành lá là xuống, hứng thêm những làn gió mạnh của cả hai con hồ và cũng để gần thêm những mảng trời mây. Chúng tôi ngồi xung quanh một cái bàn gọi bánh tôm và bia hơi Hà Nội. Bầu trời lúc này hơi thẫm lại. Phía Tây hồ có thêm những sắc tím hồng của hoàng hôn, xa xa những con thuyền về bến muộn.

Chúng tôi ngồi uống bia và chuyện trò. Anh bạn trai có tí ria xanh có vẻ lém nhất trong bọn, và cũng thông minh nữa, hay đưa ra những lời bình luận và câu hỏi. Anh ta hỏi tôi:

- Chúng em là những thế hệ sau, chỉ biết được tiếng của họa sĩ Dương Bích Liên, được xem tác phẩm của họa sĩ để lại, nhưng cuộc đời của họa sĩ thì biết rất ít. Có người nói ông sống rất nghèo khổ, lại có người nói rằng ông sống rất sang trọng, có người bảo ông sống xa lánh mọi người, bí ẩn và khó hiểu... Một nhà thơ nữ đã làm một bài thơ về ông. Em còn nhớ hai câu thơ trong bài:

Không cần đến những tiện nghi thời thượng

Không ghế bàn, không cả tranh treo.

Không có tranh treo trong nhà thì cũng dễ hiểu. Một họa sĩ có tài, nhiều người biết, lại vẽ ít, tranh như một thứ quả báu, vừa mới sinh nở ra đã có người chờ “đăng ký” mất rồi, nên không có tranh để treo. Còn vấn đề trong nhà họa sĩ không có ghế bàn gì, thì nhà thơ đã cường điệu thêm để nói lên họa sĩ là người sống giản dị và trong sạch phải không anh?

- Không, nhà thơ đã nói đúng sự thật đấy! - Tôi nói - nhưng chỉ có khác là trong nhà họa sĩ Dương Bích Liên không có bàn ghế, theo tôi chẳng liên quan gì đến vấn đề “không thích thời thượng” mà liên quan đến một kỷ niệm thật lý thú, mãi mãi thôi không bao giờ quên. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về câu chuyện đó. Nhân đây tôi cũng mở ngoặc nói rằng: Họa sĩ Dương Bích Liên của chúng ta là người rất hiện đại, rất “mốt”. Một ví dụ nhỏ: Họa sĩ đã đi một đôi giầy sục Thụy Điển - kiểu giầy “mốt” nhất trong thời gian họa sĩ đang sống. Họa sĩ cũng luôn luôn phê phán những ai đã quá thời cả về nội dung lẫn hình thức trong cách nghĩ và lối sống. Nhưng kìa chúng ta phải ăn bánh đi chứ, không nguội mất! - thấy mọi người mải chờ nghe chuyện tôi lại giục...

 

https://mail.google.com/mail/?ui=2&ik=f779629442&view=att&th=1239d0eed3cfabd2&attid=0.2&disp=thd&realattid=f_fzdkgv4q&zw

 

- Vào một chiều mùa đông lạnh chưa từng thấy, tôi và họa sĩ Dương Bích Liên từ quán rượu trở về nhà. Anh kéo chặt thêm chiếc khăn quàng len đã sờn mép màu đỏ nhạt với những đường kẻ chìm màu nhạt dẻ trên cổ. Còn tôi, tôi cố đút sâu thêm đôi tay vào hai chiếc túi nông choèn của chiếc áo khoác mà mùa rét nào tôi cũng thầm nguyền rủa tay thợ may hà tiện đã may ra nó. Không trung xám ngắt. Chúng tôi đi không ngẩng mặt nhìn trời để khỏi đương đầu vô ích với gió rét. Những cơn gió bấc lạnh buốt thổi từng đợt, kéo le xe những chiếc lá khô trên hè phố. Tôi mải để ý đến một chiếc lá khô nhỏ nhoi bị gió rê lướt đi trên mặt hè, bỗng chiếc lá dừng lại ngay dưới chân một thiếu nữ. Ngẩng lên, tôi nhận ra Thảo Miên, bạn gái của tôi. Đôi mắt đẹp của cô thẫm nước, dường như cô đang có điều gì xúc động. Liên lúc đó đã đi vượt chỗ chúng tôi gặp nhau một quãng, anh vốn không để ý đến người đi đường, nên không trông thấy Thảo Miên.

Tôi hỏi Thảo Miên điều gì đã làm cho cô buồn phiền. Cô nói: “chuyện vớ vẩn ấy mà” rồi kể lại: Bạn rủ đi xem phim, về quá muộn, lại cầm chìa khóa cửa, nên bà cô đi làm về không vào được nhà, đứng đợi lâu ngoài trời lạnh, khi thấy cô về, bà nổi cáu chửi mắng ầm lên, rồi khóa trái cửa lại, bảo cô thích đi chơi thì cứ đi tiếp cho thật chán rồi hãy về.

Bố mẹ Thảo Miên đều đã mất, cô ở với bà cô. Hồi ấy Miên đang học năm cuối cùng của trường phổ thông. Anh Liên biết Thảo Miên qua tôi. Anh rất thích dáng người mảnh mai, khuôn mặt có vẻ thanh tú và nhiều gợi cảm của cô gái. Anh thường ca ngợi những mẫu thiếu nữ như vậy. Hơn một năm trước đó, đã có lần anh định vẽ Thảo Miên, nhưng lại nói với tôi “ấy thế mà lại rất khó vẽ, vì cô ta còn quá trẻ, tính cách chưa định hình”.

Khi Liên quay lại, gặp Thảo Miên, anh mừng lắm, chào cô với một lời bông đùa đầy văn vẻ:

- Thế nào, con chim nhỏ của tôi, tại sao lại bay trong gió lạnh thế này?

Thảo Miên cười chào anh, nhưng anh nhận ngay ra cô đang có chuyện buồn.

- Tôi nói cho anh biết vắn tắt nguyên nhân. Nghe xong, anh đứng giữa hè phố cười rất to, nói với cô:

- Không sao, bà ta thế nào rồi cũng nguôi giận. Thảo Miên đã để bà đứng ở ngoài trời lạnh khá lâu, nên bà cũng muốn Thảo Miên đi trên đường phố lạnh thêm một chút nữa để cảm thông với nỗi khổ của bà. Bây giờ tôi đề nghị thế này: Trong lúc đợi bà ta nguôi giận tất cả hãy về đằng nhà tôi. Chiều lạnh thế này Thảo Miên không nên đi trên phố!

Tôi thấy anh Liên có lý, và khuyên Thảo Miên nên theo. Thảo Miên hơi phân vân một chút rồi đồng ý.

Chúng tôi quay trở lại nhà anh Liên và thấy ấm hẳn lên khi bước vào nhà. Anh Liên bật hết tất cả các ngọn đèn trong phòng rồi mới chúng tôi ngồi. Hồi ấy anh có bộ bàn ghế của hãng đồ gỗ “ MÉ MO ” - một trong những hãng đồ gỗ khá nổi tiếng ở Hà Nội trước ngày giải phóng. Loại bộ một bàn và bốn ghế. Tôi và Thảo Miên ngồi, trong khi đó anh Liên loay hoay tìm một món gì để thiết đãi Thảo Miên. Lục tìm mãi không tìm ra được thứ quà gì cho khách nữ, cuối cùng anh nảy ra một sáng kiến: pha một cốc nước chè đường nóng cho cô gái. Sau vài ngụm nước chè đường nóng, làn da mặt của Thảo Miên đã ửng hồng lại dần trong căn phòng ấm áp cùng hơi nóng của khói thuốc. Không khí trở nên vui vẻ.

Anh Liên ngắm nhìn Thảo Miên khá lâu với vẻ đầy xúc động. Tôi không biết mô tả thế nào cho các bạn hình dung và hiểu được một cách trọn vẹn cái nhìn ấy của người họa sĩ.

- Chắc họa sĩ yêu cô gái ấy? - Một bạn hỏi tôi.

- Nếu không hiểu, người ta tưởng đó là cái nhìn của một người đàn ông ngắm nhìn người thiếu nữ mà anh ta đang yêu thầm. Nhưng có sự khác nhau giữa cái ngắm nhìn của một họa sĩ (ở đây tôi chỉ bảo đảm cho trường hợp của anh Liên) đối với một thiếu nữ đẹp đầy gợi cảm, và cái nhìn của một chàng trai si tình với cô gái đẹp mà anh ta đem lòng yêu mến. Trường hợp đầu bắt nguồn từ cảm hứng sáng tạo. Trường hợp sau bắt nguồn từ tình yêu thuần túy.

Sau đó, anh Liên đứng dậy, đề nghị Thảo Miên ngồi mẫu để anh vẽ.

Tôi thấy trong lúc Thảo Miên ngồi chờ bà cô nguôi giận, giết thời gian bằng một công việc như vậy thì còn gì lý thú hơn nên khuyên Thảo Miên nhận lời. Cô chưa bao giờ được ai vẽ, nên sợ phải ngồi lâu, về muộn quá thì bất tiện. Khi biết nếu cố gắng vẽ nhanh thời gian chỉ mất khoảng hai tiếng, cô đồng ý.

Anh Liên kê lại ghế cho Thảo Miên ngồi vừa đúng tầm và hướng vẽ. Cô ngồi sát bên lò sưởi - loại lò sưởi của các biệt thự xây theo lối Tây ngày xưa. Anh dựng giá vẽ vào vị trí thích hợp nhất để làm việc rồi bảo tôi cứ nói chuyện với Thảo Miên một cách tự nhiên, đừng quan tâm đến anh. Anh hoàn toàn tập trung vào công việc. Khó có thể tả nổi những sự dồn nén, căng thẳng, xúc động thường xuyên thay đổi trên nét mặt của anh trong khi vẽ. Anh ngắm nhìn mẫu, ghi những cảm xúc của mình về đối tượng một cách chính xác và sinh động trên mặt giấy.

Thời giờ trôi nhanh. Đã qua đi một thời giờ. Không khí hội họa trong phòng cứ theo thời gian tăng lên mãi, chỉ có tiếng sột soạt trên mặt giấy, mọi người đều đang ở trong trạng thái nén thở: họa sĩ - người mẫu - người chứng kiến.

Rồi Thảo Miên nói nhỏ với tôi:

- Em thấy hơi lạnh!

Anh Liên nghe rất thính, anh dừng vẽ luôn. Lau qua những bụi phấn mầu bám trên tay, nói với chúng tôi như một người trưởng kíp:

- Bây giờ Hải và Thảo Miên nên đi ăn một chút gì. Trời lạnh cần phải nạp thêm ca-lo vào người, còn tôi đã có chai này - anh chỉ chai rượu để dưới giá vẽ, và dặn thêm - khi về mua cho tôi một chiếc bánh mì.

Chúng tôi mời anh cùng đi nhưng anh nói lúc này thích hợp nhất với anh không có gì ngoài rượu.

Khi tôi và Thảo Miên trở về, vừa đẩy cửa vào chúng tôi đầy sửng sốt: lửa cháy cùng những tiếng nổ lách tách trong lò sưởi. Hơi ấm tỏa ra khắp phòng. Cảnh tượng thật cổ kính và huyền diệu.

- Thật là mọt sáng kiến vĩ đại! - tôi thích thú reo lên.

Thảo Miên đặt chiếc túi giây trên bàn, trong đó có bánh mì và một số hoa quả mua ở đầu chợ Hôm. Anh Liên không ăn gì và bảo Thảo Miên ngồi vào ghế để anh vẽ tiếp.

Tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên với cái không khí mới lạ đầy chất cổ điển và màu sắc đượm hội họa này nên thắc mắc: không hiểu anh Liên kiếm củi ở đâu. Cuối cùng, tôi thấy trong phòng thiếu một chiếc ghế. Trong lò sưởi, đúng là những chân ghế và những tay ghế đang cháy dở dang. Anh Liên giải thích luôn:

- Chiếc ghế ấy đã long hết mộng, lung lay như răng bà lão, mấy lần khách ngồi suýt ngã.

Thảo Miên thấy vui, nhưng áy náy rằng anh Liên đã đốt cả ghế để cô khỏi bị lạnh.

Anh Liên vẽ, thỉnh thoảng lại liếc nhìn ngọn lửa đang cháy trong lò. Bên ánh lửa, cô gái càng trở nên đẹp rực rỡ hơn. Tôi thoáng nghĩ: phải chăng nghệ thuật hiện đại mất dần đi tính hấp dẫn do môi trường thiên nhiên và thần thoại cạn kiệt dần. Để khắc phục điều này, nhiều nghệ sĩ của thế giới này nay đã quay về với huyền thoại. Nhưng thực ra đó chỉ là cái phương thức đi lộn đầu xuống đất để tìm ra những mê say, do lịch sử không thể đảo ngược lại được. Có lẽ một cách thức tích cực hơn là cố tạo dựng lại trong hiện thực những cái gì tốt đẹp, thần diệu mà con người đã đánh mất.

Tôi không nói, không gây ra một tiếng động nào nữa. Bỗng anh Liên gọi:

- Hải! Tháo tiếp hộ tôi cái ghế kia! - anh chỉ chiếc ghế sát cạnh tôi - Cho luôn vào lò không lửa tắt mất!

- Chắc cái này cũng bắt đầu bị long mộng rồi à? - Tôi vừa hỏi, vừa lắc thử và lôi chiếc ghế ra phía góc nhà.

Thảo Miên đứng dậy can ngăn. Anh Liên bảo cô gái ngồi lại để anh vẽ tiếp, đừng quan tâm đến những công việc của đàn ông. Anh nói để cô yên tâm: Bộ bàn ghế này quá cũ, ọp ẹp hết cả, sẽ phải thay một bộ mới. Thảo Miên biết anh Liên hết sức kiên quyết trong quyết định của mình, nên trở về lại chỗ ngồi.

Ngọn lửa trong lò tiếp tục cháy với cái ghế thứ hai. Anh Liên kêu tôi đến xem và cho lời bình luận ban đầu.

Bức tranh bố cục hơi lạ. Anh đẩy người mẫu sang hẳn phía trái của tranh, ngồi với dáng người hơi nghiêng nghiêng. Phần phông của tranh phía bên phải để chừa rộng. Anh nói: phần phông này tôi sẽ mô tả đến nơi, đến chốn, để nói thêm cho phần chân dung của tranh chưa nói hết được. Làm xong phần chính, tôi sẽ làm tiếp phần kia.

Phần chân dung gần như đã hoàn chỉnh. Anh đã thể hiện rất thành công toàn bộ khuôn mặt với những nét, những đặc điểm nổi bật của Thảo Miên. Đôi môi của cô, tác giả đã thể hiện một cách tuyệt vời, đầy sinh động, nhiều lúc tôi đã bắt gặp những nét này ở cô, nhưng không sao mô tả một cách chính xác như vậy được. Đôi môi nhếch lên hơi mỉm cười một chút. Không hẳn ra nũng nịu, không hẳn ra kiêu sang, cũng không hẳn ra vui cười hay trách cứ một điều bâng quơ nào đó... Nghĩa là nó ở giữa những cái này và những cái kia, vừa là cái này, vừa là cái khác, biến động lạ thường.

Theo cách như vậy, họa sĩ đã cổ gắng thể hiện đôi mắt cũng là một nơi tập hợp những cảm xúc, những tâm trạng của nhân vật. Đôi mắt vốn là một thứ giác quan để nhìn, nhưng ở đây họa sĩ đã muốn cho chúng thay đổi chức năng và để nói được nhiều hơn. Tôi chợt thấy bao điều mới lạ qua đôi mắt đầy vẻ dịu dàng trong sáng. Đôi mắt như ngầm ánh lên những hào quang rực rỡ của sắc đẹp, ở độ chín của cô gái, và phảng phất một chút lo âu.

Tôi ngắm mãi bức tranh. Đồng hồ lúc ấy đã chỉ chín giờ tối, anh Liên nói khẽ với tôi:

- Lửa trong lò sắp tắt rồi. Đừng để lửa tắt, điều ấy rất quan trọng! Anh đã thấy tôi lao vào tường đá, nhưng không thể thất bại! Chỉ một chút nữa - anh lẩm bẩm nói với tôi, cũng như nói với chính mình - chỉ một chút nữa thôi!

Tôi hiểu ý anh. Tôi đã chứng kiến anh Liên vẽ chân dung nhiều lần, có những lần đang đà kết quả, đột nhiên hỏng. Chỉ vì một tình tiết nhỏ: một ông khách vào. Cuộc vẽ dừng. Sau đó hết hứng, không tiếp tục được nữa. Cảm hứng vẽ đến như một con ma, bất chợt nhập vào con người họa sĩ, nó có thể ở lì khá lâu, nhưng cũng có thể biến đi ngay chỉ cần một thoáng sự thay đổi hiện trạng và tâm lý.

Lửa cháy trong lò sưởi đang đóng vai trò khá lớn. Lửa không chỉ còn là vấn đề sưởi ấm cho cô gái. Lửa còn là tình cảm gián tiếp của lòng người họa sĩ đối với người mẫu. Lửa là thái độ, tính cách của họa sĩ. Và lửa còn đảm nhiệm tạo dựng duy trì cho không khí vẽ được hứng khởi và giữ cho nhịp điệu vẽ được cân bằng và liên tục...

Tôi lặng lẽ tháo chiếc ghế thứ ba. Thế là chỉ còn lại cái ghế cuối cùng. Thảo Miên đang ngồi làm mẫu. (không kể cái ghế mây để ngồi vẽ của anh Liên).

Lần này Thảo Miên không tham gia gì, vì cô biết can ngăn cũng vô ích. Vả lại cô cũng đang bị hút vào cuộc vẽ tranh. Có thể cái nhìn như thôi miên của anh. Liên đã làm cô bất động.

Những thanh gỗ của chiếc ghế thứ ba cháy rất đượm: Kỳ lạ thay, lửa không những bốc cháy mạnh mẽ hơn, mà còn tỏa ra hương vị hăng hắc của một loại gỗ có dầu thơm. Không khí trong phòng vẫn còn lạnh, nhưng mặt anh Liên lấm tấm mồ hôi do sự dồn sức, dồn trí tuệ, dồn cảm xúc cho những phút cuối cùng: anh đang hoàn tất những phần còn lại của bức tranh. Nhìn anh, thấy rõ sự căng thẳng trên đã nước rút. Anh đã vẽ luôn một hơi.

Tác phầm gần như đã hoàn thành: Phần chân dung anh đã vẽ xong hoàn toàn. Anh mặc cho Thảo Miên một cái áo khó tìm thấy trong cuộc đời. Một cái áo không có cổ, gần giống chiếc áo dài, mầu trắng. Nhưng sẽ khó có thể gọi là áo như người ta vẫn định nghĩa, vì nó như ẩn chìm vào thân thể. Chiếc áo dài chỉ thoáng qua như một ký hiệu, người khó tính sẽ thấy rằng cô ta cũng có một chiếc áo, thế thôi!

Khác hẳn với phong cách hiện thực khi vẽ phần chân dung, toàn bộ phần phông anh vẽ theo phong cách trừu tượng với những mảng mầu đủ loại như những đám mây xốp bồng bềnh đan xen, lồng quện vào nhau. Tuy nhiên hai gam màu chính được anh sử dụng nhiều nhất là hồng và ghi. Những mảng mây nhiều mầu tạo thành nhiều hình thù kỳ quái, tùy theo sự liên tưởng của mỗi người. Đáng chú ý nhất là một vệt thẫm nằm chìm, cắt ngang hai phần ba phông theo chiều dọc, có tác dụng như một thành tựa làm cho bức chân dung của thiếu nữ mảnh mai bớt chênh vênh, và còn nhằm chặn bớt sự quá trớn trong trí tưởng tượng miên man của người xem.

Có thể nói tác phẩm này đã vẽ hai chân dung: một của thiếu nữ, một của tác giả. Phần phông chính là chân dung tự họa của họa sĩ - một chân dung tự họa vô hình. Họa sĩ đã nói lên nhiều những nỗi niềm suy tư, tâm sự ở mảng phông trừu tượng mung lung này, nhưng ai có thể đọc được những thông điệp một cách chính xác, vì chìa khóa của bản mã số bằng màu sắc, tác giả đã giấu mất rồi?

Cuộc vẽ kết thúc. Họa sĩ mệt lử nhưng đầy vui sướng.

Cả ba chúng tôi đứng trước tác phẩm vừa hoàn thành. Anh Liên đề nghị Thảo Miên nói cảm tưởng, nhận xét của cô. Thảo Miên xúc động nói: "Đẹp quá, nhưng người thiếu nữ không giống em lắm. Hơi già dặn hơn, khuôn mặt có vẻ đẹp rực rỡ hơn, nhưng cái nhìn đằm thắm, và cái nhếch miệng mỉm cười có phần kiêu hãnh thì hoàn toàn là của em".

Anh Liên khẳng định: "không có một nét nào là không phải của cô cả. Tôi đã vẽ đúng cô trăm phần trăm không chệch vào đâu được. Cô bảo không giống cô lắm. Nhưng đúng là cô đấy! Chính cô là như vậy! Cuộc đời đã phủ lên cô một lớp bụi mỏng. Tôi là họa sĩ, trong khi vẽ, tôi có nhiệm vụ bóc lớp bụi ấy đi"...

Tôi và Thảo Miên cùng cười thích thú. Câu nói đó đã nói lên được một phần đặc tính của nghệ thuật vẽ chân dung, nó không thể giống sự sao chép của máy ảnh. Chụp ảnh thì thụ động, giống như một tấm gương phản chiếu người mẫu. Nhưng vẽ chân dung thì người mẫu đã được phản chiếu thông qua lăng kính của họa sĩ. Cho nên vẽ chân dung, không đơn thuần chỉ là vẽ giống, mà còn phải thể hiện được những chiều sâu của tính cách nhân vật. Bức chân dung thiếu nữ này của anh Liên đã đạt được một cách tài hoa tất cả những điều đó.

                          http://tapchinhavan.vn/UserFiles/Image/Thieu%20nu%20ao%20trang.jpg


Sau này anh Liên thỉnh thoảng có nhắc lại buổi vẽ chân dung trong buổi tối mùa đông năm ấy, và nói rằng cô là một trong những kỷ niệm đẹp nhất, xúc động nhất đối với cuộc đời họa sĩ của anh.

- Thế chân dung ấy bây giờ ở đâu? - Khi nghe xong mọi người đều hỏi tôi.

Tôi lại kể cho các bạn trẻ biết thêm rằng: Tối hôm đó, sau khi vẽ xong, anh Liên đã tặng Thảo Miên bức tranh. Hè năm sau cô thi vào đại học và trời đã phù hộ cho cô: sức học không phải là xuất sắc lắm, nhưng thi lại đạt được điểm rất cao, cô được đi học ở nước ngoài. Tôi gặp lại Thảo Miêu lần cuối cùng, vào một kỳ nghỉ hè giữa khóa học khi về thăm đất nước. Cô gói bức tranh để trong một chiếc hòm gỗ đựng sách vở, với những kỷ niệm cũ của đời học sinh. Chúng tôi giở ra xem lại và thấy một điều kỳ lạ rằng bức tranh vẽ ba năm trước đây, hoàn toàn giống cô hiện thời. Tựa như anh Liên là một nhà tiên tri vậy. Thảo Miên nói kỳ này cô sẽ mang bức tranh đi theo. Hoàn cảnh gia đình có nhiều éo le làm cô buồn chán, tốt nghiệp xong, cô sẽ lấy một người nước ngoài và không trở về nữa.

Đấy là toàn bộ câu chuyện tại sao không thấy có ghế bàn trong nhà anh Liên. Tôi không thể giải thích vì sao anh Liên không mua lại bộ bàn ghế khác. Phải chăng, anh vẫn muốn giữ lại những dấu tích của một kỷ niệm đẹp đầy chất Romantique ([1]) và chất aventureux ([2]) vốn là những đặc tính nổi bật của anh, hoặc có thể do thời gian sau đấy anh đã quyết định từ giã đồng nghiệp và giới nghệ thuật để đi vào “ở ẩn”. Anh chỉ mua một chiếc võng mắc chéo trong phòng nằm đung đưa, giao du với nghệ thuật của riêng mình và tiên tri các sự đời?

 

*          *

*

 

Sau câu chuyện kể, chúng tôi ngồi im, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Nhưng có lẽ không có gì ngoài Hà Nội. Có thể nghĩ về cảnh đẹp của Hà Nội, nghĩ về những món ăn Hà Nội, nghĩ về những họa sĩ đích thực Hà Nội mà trên thực tế có vô cùng ít ỏi trong thủ đô cổ kính của chúng ta.

Tối về, mùa thu đổ lên mặt hồ, thả trên những ngọn cây và con đường Cổ Ngư vắng dần người, những làn gió se lạnh.

 

N . H . H



[1] Romantique: chất lãng mạn.

[2] Aventureux: chất phiêu lưu. Nguồn Web Hội nhà văn

 

Bài viết về bạn hoặc có tag tên bạn:

  • Chưa có bài nào có liên quan.

Người đăng ký yêu thích blog này cũng đồng thời thích:

  • Chưa có blog yêu thích nào có liên quan.