|
... Chúng tôi ngồi im, mỗi người
theo đuổi một ý nghĩ. Nhưng có lẽ không có gì ngoài Hà Nội. Có thể nghĩ về
cảnh đẹp của Hà Nội, nghĩ về những món ăn Hà Nội, nghĩ về những họa sĩ đích
thực Hà Nội mà trên thực tế có vô cùng ít ỏi trong thủ đô cổ kính của chúng
ta.
Tôi ra phố sau hơn một tuần ngồi
viết trả nợ bài cho một tờ Tạp chí. Chiều, sau giờ tan tầm, phố xá vắng
dần. Bầu trời pha trộn giữa màu xanh và xám, một vài chỗ có thêm mầu trắng
mờ. Trời thoáng lạnh. Tôi thầm nghĩ: Có lẽ mình “ngồi thiền” trong nhà quá
lâu, nên không biết thời gian đã đi sang một nẻo khác. Mùa thu, không khí,
phố xá và trời mây đã làm cho lòng tôi có một chút gì đó hứng khởi. Tôi đạp
xe lên mạn Hồ Tây cho đầu óc thoáng đãng.
Tôi rẽ vào đường Cổ Ngư. Lâu lắm rồi
tôi mới lại đi vào con đường này, và bỗng dưng cảm thấy như đang đi về con
đường của dĩ vãng. Bất chợt nghe thấy những tiếng chào, tôi dừng xe và nhận
ra một tốp sinh viên trường Mỹ thuật đang dắt xe đi bộ dưới lòng đường. Mấy
bạn trẻ này rất yêu họa sĩ Dương Bích Liên, được sự giới thiệu, họ đã đến
chơi nhà tôi vài lần xin cho em một số tranh của họa sĩ mà tôi giữ. Tôi
nhập vào giới trẻ và đi chơi với họ.
Đi một chầu đã mỏi chân, tôi mời các
bạn trẻ vào cái quán cổ ven hồ uống bia. Quán hàng xưa, nay được xây thêm
một sân trời, đón những ngọn cây, cành lá là xuống, hứng thêm những làn gió
mạnh của cả hai con hồ và cũng để gần thêm những mảng trời mây. Chúng tôi
ngồi xung quanh một cái bàn gọi bánh tôm và bia hơi Hà Nội. Bầu trời lúc
này hơi thẫm lại. Phía Tây hồ có thêm những sắc tím hồng của hoàng hôn, xa
xa những con thuyền về bến muộn.
Chúng tôi ngồi uống bia và chuyện
trò. Anh bạn trai có tí ria xanh có vẻ lém nhất trong bọn, và cũng thông
minh nữa, hay đưa ra những lời bình luận và câu hỏi. Anh ta hỏi tôi:
- Chúng em là những thế hệ sau, chỉ
biết được tiếng của họa sĩ Dương Bích Liên, được xem tác phẩm của họa sĩ để
lại, nhưng cuộc đời của họa sĩ thì biết rất ít. Có người nói ông sống rất
nghèo khổ, lại có người nói rằng ông sống rất sang trọng, có người bảo ông
sống xa lánh mọi người, bí ẩn và khó hiểu... Một nhà thơ nữ đã làm một bài
thơ về ông. Em còn nhớ hai câu thơ trong bài:
Không cần đến những tiện nghi thời
thượng
Không ghế bàn, không cả tranh treo.
Không có tranh treo trong nhà thì
cũng dễ hiểu. Một họa sĩ có tài, nhiều người biết, lại vẽ ít, tranh như một
thứ quả báu, vừa mới sinh nở ra đã có người chờ “đăng ký” mất rồi, nên
không có tranh để treo. Còn vấn đề trong nhà họa sĩ không có ghế bàn gì,
thì nhà thơ đã cường điệu thêm để nói lên họa sĩ là người sống giản dị và
trong sạch phải không anh?
- Không, nhà thơ đã nói đúng sự thật
đấy! - Tôi nói - nhưng chỉ có khác là trong nhà họa sĩ Dương Bích Liên
không có bàn ghế, theo tôi chẳng liên quan gì đến vấn đề “không thích thời
thượng” mà liên quan đến một kỷ niệm thật lý thú, mãi mãi thôi không bao
giờ quên. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về câu chuyện đó. Nhân đây tôi cũng mở
ngoặc nói rằng: Họa sĩ Dương Bích Liên của chúng ta là người rất hiện đại,
rất “mốt”. Một ví dụ nhỏ: Họa sĩ đã đi một đôi giầy sục Thụy Điển - kiểu
giầy “mốt” nhất trong thời gian họa sĩ đang sống. Họa sĩ cũng luôn luôn phê
phán những ai đã quá thời cả về nội dung lẫn hình thức trong cách nghĩ và
lối sống. Nhưng kìa chúng ta phải ăn bánh đi chứ, không nguội mất! - thấy
mọi người mải chờ nghe chuyện tôi lại giục...
- Vào một chiều mùa đông lạnh chưa
từng thấy, tôi và họa sĩ Dương Bích Liên từ quán rượu trở về nhà. Anh kéo
chặt thêm chiếc khăn quàng len đã sờn mép màu đỏ nhạt với những đường kẻ
chìm màu nhạt dẻ trên cổ. Còn tôi, tôi cố đút sâu thêm đôi tay vào hai
chiếc túi nông choèn của chiếc áo khoác mà mùa rét nào tôi cũng thầm nguyền rủa tay thợ may hà tiện đã may ra nó.
Không trung xám ngắt. Chúng tôi đi không ngẩng mặt nhìn trời để khỏi
đương đầu vô ích với gió rét. Những cơn gió bấc lạnh buốt thổi từng đợt,
kéo le xe những chiếc lá khô trên hè phố. Tôi mải để ý đến một chiếc lá khô
nhỏ nhoi bị gió rê lướt đi trên mặt hè, bỗng chiếc lá dừng lại ngay dưới chân
một thiếu nữ. Ngẩng lên, tôi nhận ra Thảo Miên, bạn gái của tôi. Đôi mắt
đẹp của cô thẫm nước, dường như cô đang có điều gì xúc động. Liên lúc đó đã đi vượt chỗ chúng tôi gặp nhau một quãng,
anh vốn không để ý đến người đi đường, nên không trông thấy Thảo
Miên.
Tôi hỏi Thảo Miên điều gì đã làm cho
cô buồn phiền. Cô nói: “chuyện vớ vẩn ấy mà” rồi kể lại: Bạn rủ đi xem
phim, về quá muộn, lại cầm chìa khóa cửa, nên bà cô đi làm về không vào
được nhà, đứng đợi lâu ngoài trời lạnh, khi thấy cô về, bà nổi cáu chửi
mắng ầm lên, rồi khóa trái cửa lại, bảo cô thích đi chơi thì cứ đi tiếp cho
thật chán rồi hãy về.
Bố mẹ Thảo Miên đều đã mất, cô ở với
bà cô. Hồi ấy Miên đang học năm cuối cùng của trường phổ thông. Anh Liên
biết Thảo Miên qua tôi. Anh rất thích dáng người mảnh mai, khuôn mặt có vẻ
thanh tú và nhiều gợi cảm của cô gái. Anh thường ca ngợi những mẫu thiếu nữ
như vậy. Hơn một năm trước đó, đã có lần anh định vẽ Thảo Miên, nhưng lại
nói với tôi “ấy thế mà lại rất khó vẽ, vì cô ta còn quá trẻ, tính cách chưa
định hình”.
Khi Liên quay lại, gặp Thảo Miên,
anh mừng lắm, chào cô với một lời bông đùa đầy văn vẻ:
- Thế nào, con chim nhỏ của tôi, tại
sao lại bay trong gió lạnh thế này?
Thảo Miên cười chào anh, nhưng anh
nhận ngay ra cô đang có chuyện buồn.
- Tôi nói cho anh biết vắn tắt
nguyên nhân. Nghe xong, anh đứng giữa hè phố cười rất to, nói với cô:
- Không sao, bà ta thế nào rồi cũng
nguôi giận. Thảo Miên đã để bà đứng ở ngoài trời lạnh khá lâu, nên bà cũng
muốn Thảo Miên đi trên đường phố lạnh thêm một chút nữa để cảm thông với
nỗi khổ của bà. Bây giờ tôi đề nghị thế này: Trong lúc đợi bà ta nguôi giận
tất cả hãy về đằng nhà tôi. Chiều lạnh thế này Thảo Miên không nên đi trên
phố!
Tôi thấy anh Liên có lý, và khuyên
Thảo Miên nên theo. Thảo Miên hơi phân vân một chút rồi đồng ý.
Chúng tôi quay trở lại nhà anh Liên
và thấy ấm hẳn lên khi bước vào nhà. Anh Liên bật hết tất cả các ngọn đèn
trong phòng rồi mới chúng tôi ngồi. Hồi ấy anh có bộ bàn ghế của hãng đồ gỗ
“ MÉ MO ”
- một trong những hãng đồ gỗ khá nổi tiếng ở Hà Nội trước ngày giải phóng.
Loại bộ một bàn và bốn ghế. Tôi và Thảo Miên ngồi, trong khi đó anh Liên
loay hoay tìm một món gì để thiết đãi Thảo Miên. Lục tìm mãi không tìm ra
được thứ quà gì cho khách nữ, cuối cùng anh nảy ra một sáng kiến: pha một cốc
nước chè đường nóng cho cô gái. Sau vài ngụm nước chè đường nóng, làn da
mặt của Thảo Miên đã ửng hồng lại dần trong căn phòng ấm áp cùng hơi nóng
của khói thuốc. Không khí trở nên vui vẻ.
Anh Liên ngắm nhìn Thảo Miên khá lâu
với vẻ đầy xúc động. Tôi không biết mô tả thế nào cho các bạn hình dung và
hiểu được một cách trọn vẹn cái nhìn ấy của người họa sĩ.
- Chắc họa sĩ yêu cô gái ấy? - Một
bạn hỏi tôi.
- Nếu không hiểu, người ta tưởng đó
là cái nhìn của một người đàn ông ngắm nhìn người thiếu nữ mà anh ta đang
yêu thầm. Nhưng có sự khác nhau giữa cái ngắm nhìn của một họa sĩ (ở đây
tôi chỉ bảo đảm cho trường hợp của anh Liên) đối với một thiếu nữ đẹp đầy
gợi cảm, và cái nhìn của một chàng trai si tình với cô gái đẹp mà anh ta
đem lòng yêu mến. Trường hợp đầu bắt nguồn từ cảm hứng sáng tạo. Trường hợp
sau bắt nguồn từ tình yêu thuần túy.
Sau đó, anh
Liên đứng dậy, đề nghị Thảo Miên ngồi mẫu để anh vẽ.
Tôi thấy trong lúc Thảo Miên ngồi
chờ bà cô nguôi giận, giết thời gian bằng một công việc như vậy thì còn gì
lý thú hơn nên khuyên Thảo Miên nhận lời. Cô chưa bao giờ được ai vẽ, nên
sợ phải ngồi lâu, về muộn quá thì bất tiện. Khi biết nếu cố gắng vẽ nhanh
thời gian chỉ mất khoảng hai tiếng, cô đồng ý.
Anh Liên kê lại ghế cho Thảo Miên
ngồi vừa đúng tầm và hướng vẽ. Cô ngồi sát bên lò sưởi - loại lò sưởi của
các biệt thự xây theo lối Tây ngày xưa. Anh dựng giá vẽ vào vị trí thích
hợp nhất để làm việc rồi bảo tôi cứ nói chuyện với Thảo Miên một cách tự
nhiên, đừng quan tâm đến anh. Anh hoàn toàn tập trung vào công việc. Khó có
thể tả nổi những sự dồn nén, căng thẳng, xúc động thường xuyên thay đổi
trên nét mặt của anh trong khi vẽ. Anh ngắm nhìn mẫu, ghi những cảm xúc của
mình về đối tượng một cách chính xác và sinh động trên mặt giấy.
Thời giờ trôi nhanh. Đã qua đi một
thời giờ. Không khí hội họa trong phòng cứ theo thời gian tăng lên mãi, chỉ
có tiếng sột soạt trên mặt giấy, mọi người đều đang ở trong trạng thái nén
thở: họa sĩ - người mẫu - người chứng kiến.
Rồi Thảo Miên nói nhỏ với tôi:
- Em thấy hơi lạnh!
Anh Liên nghe rất thính, anh dừng vẽ
luôn. Lau qua những bụi phấn mầu bám trên tay, nói với chúng tôi như một
người trưởng kíp:
- Bây giờ Hải
và Thảo Miên nên đi ăn một chút gì. Trời lạnh cần phải nạp thêm ca-lo vào người, còn tôi
đã có chai này - anh chỉ chai rượu để dưới giá vẽ, và dặn thêm - khi về mua
cho tôi một chiếc bánh mì.
Chúng tôi mời anh cùng đi nhưng anh
nói lúc này thích hợp nhất với anh không có gì ngoài rượu.
Khi tôi và Thảo Miên trở về, vừa đẩy
cửa vào chúng tôi đầy sửng sốt: lửa cháy cùng những tiếng nổ lách tách
trong lò sưởi. Hơi ấm tỏa ra khắp phòng. Cảnh tượng thật cổ kính và huyền
diệu.
- Thật là mọt sáng kiến vĩ đại! -
tôi thích thú reo lên.
Thảo Miên đặt chiếc túi giây trên
bàn, trong đó có bánh mì và một số hoa quả mua ở đầu chợ Hôm. Anh Liên
không ăn gì và bảo Thảo Miên ngồi vào ghế để anh vẽ tiếp.
Tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên với cái
không khí mới lạ đầy chất cổ điển và màu sắc đượm hội họa này nên thắc mắc:
không hiểu anh Liên kiếm củi ở đâu. Cuối cùng, tôi thấy trong phòng thiếu
một chiếc ghế. Trong lò sưởi, đúng là những chân ghế và những tay ghế đang
cháy dở dang. Anh Liên giải thích luôn:
- Chiếc ghế ấy đã long hết mộng,
lung lay như răng bà lão, mấy lần khách ngồi suýt ngã.
Thảo Miên thấy vui, nhưng áy náy
rằng anh Liên đã đốt cả ghế để cô khỏi bị lạnh.
Anh Liên vẽ, thỉnh thoảng lại liếc
nhìn ngọn lửa đang cháy trong lò. Bên ánh lửa, cô gái càng trở nên đẹp rực
rỡ hơn. Tôi thoáng nghĩ: phải chăng nghệ thuật hiện đại mất dần đi tính hấp
dẫn do môi trường thiên nhiên và thần thoại cạn kiệt dần. Để khắc phục điều
này, nhiều nghệ sĩ của thế giới này nay đã quay về với huyền thoại. Nhưng
thực ra đó chỉ là cái phương thức đi lộn đầu xuống đất để tìm ra những mê
say, do lịch sử không thể đảo ngược lại được. Có lẽ một cách thức tích cực
hơn là cố tạo dựng lại trong hiện thực những cái gì tốt đẹp, thần diệu mà
con người đã đánh mất.
Tôi không nói, không gây ra một
tiếng động nào nữa. Bỗng anh Liên gọi:
- Hải! Tháo tiếp hộ tôi cái ghế kia!
- anh chỉ chiếc ghế sát cạnh tôi - Cho luôn vào lò không lửa tắt mất!
- Chắc cái này cũng bắt đầu bị long
mộng rồi à? - Tôi vừa hỏi, vừa lắc thử và lôi chiếc ghế ra phía góc nhà.
Thảo Miên đứng dậy can ngăn. Anh
Liên bảo cô gái ngồi lại để anh vẽ tiếp, đừng quan tâm đến những công việc
của đàn ông. Anh nói để cô yên tâm: Bộ bàn ghế này quá cũ, ọp ẹp hết cả, sẽ
phải thay một bộ mới. Thảo Miên biết anh Liên hết sức kiên quyết trong
quyết định của mình, nên trở về lại chỗ ngồi.
Ngọn lửa trong lò tiếp tục cháy với
cái ghế thứ hai. Anh Liên kêu tôi đến xem và cho lời bình luận ban đầu.
Bức tranh bố cục hơi lạ. Anh đẩy
người mẫu sang hẳn phía trái của tranh, ngồi với dáng người hơi nghiêng
nghiêng. Phần phông của tranh phía bên phải để chừa rộng. Anh nói: phần phông
này tôi sẽ mô tả đến nơi, đến chốn, để nói thêm cho phần chân dung của
tranh chưa nói hết được. Làm xong phần chính, tôi sẽ làm tiếp phần kia.
Phần chân dung gần như đã hoàn
chỉnh. Anh đã thể hiện rất thành công toàn bộ khuôn mặt với những nét,
những đặc điểm nổi bật của Thảo Miên. Đôi môi của cô, tác giả đã thể hiện
một cách tuyệt vời, đầy sinh động, nhiều lúc tôi đã bắt gặp những nét này ở
cô, nhưng không sao mô tả một cách chính xác như vậy được. Đôi môi nhếch
lên hơi mỉm cười một chút. Không hẳn ra nũng nịu, không hẳn ra kiêu sang,
cũng không hẳn ra vui cười hay trách cứ một điều bâng quơ nào đó... Nghĩa
là nó ở giữa những cái này và những cái kia, vừa là cái này, vừa là cái
khác, biến động lạ thường.
Theo cách như vậy, họa sĩ đã cổ gắng
thể hiện đôi mắt cũng là một nơi tập hợp những cảm xúc, những tâm trạng của
nhân vật. Đôi mắt vốn là một thứ giác quan để nhìn, nhưng ở đây họa sĩ đã
muốn cho chúng thay đổi chức năng và để nói được nhiều hơn. Tôi chợt thấy
bao điều mới lạ qua đôi mắt đầy vẻ dịu dàng trong sáng. Đôi mắt như ngầm
ánh lên những hào quang rực rỡ của sắc đẹp, ở độ chín của cô gái, và phảng
phất một chút lo âu.
Tôi ngắm mãi bức tranh. Đồng hồ lúc
ấy đã chỉ chín giờ tối, anh Liên nói khẽ với tôi:
- Lửa trong lò sắp tắt rồi. Đừng để
lửa tắt, điều ấy rất quan trọng! Anh đã thấy tôi lao vào tường đá, nhưng
không thể thất bại! Chỉ một chút nữa - anh lẩm bẩm nói với tôi, cũng như
nói với chính mình - chỉ một chút nữa thôi!
Tôi hiểu ý anh. Tôi đã chứng kiến
anh Liên vẽ chân dung nhiều lần, có những lần đang đà kết quả, đột nhiên
hỏng. Chỉ vì một tình tiết nhỏ: một ông khách vào. Cuộc vẽ dừng. Sau đó hết
hứng, không tiếp tục được nữa. Cảm hứng vẽ đến như một con ma, bất chợt
nhập vào con người họa sĩ, nó có thể ở lì khá lâu, nhưng cũng có thể biến đi
ngay chỉ cần một thoáng sự thay đổi hiện trạng và tâm lý.
Lửa cháy trong lò sưởi đang đóng vai
trò khá lớn. Lửa không chỉ còn là vấn đề sưởi ấm cho cô gái. Lửa còn là
tình cảm gián tiếp của lòng người họa sĩ đối với người mẫu. Lửa là thái độ,
tính cách của họa sĩ. Và lửa còn đảm nhiệm tạo dựng duy trì cho không khí
vẽ được hứng khởi và giữ cho nhịp điệu vẽ được cân bằng và liên tục...
Tôi lặng lẽ tháo chiếc ghế thứ ba.
Thế là chỉ còn lại cái ghế cuối cùng. Thảo Miên đang ngồi làm mẫu. (không
kể cái ghế mây để ngồi vẽ của anh Liên).
Lần này Thảo Miên không tham gia gì,
vì cô biết can ngăn cũng vô ích. Vả lại cô cũng đang bị hút vào cuộc vẽ
tranh. Có thể cái nhìn như thôi miên của anh. Liên đã làm cô bất động.
Những thanh gỗ của chiếc ghế thứ ba
cháy rất đượm: Kỳ lạ thay, lửa không những bốc cháy mạnh mẽ hơn, mà còn tỏa
ra hương vị hăng hắc của một loại gỗ có dầu thơm. Không khí trong phòng vẫn
còn lạnh, nhưng mặt anh Liên lấm tấm mồ hôi do sự dồn sức, dồn trí tuệ, dồn
cảm xúc cho những phút cuối cùng: anh đang hoàn tất những phần còn lại của
bức tranh. Nhìn anh, thấy rõ sự căng thẳng trên đã nước rút. Anh đã vẽ luôn
một hơi.
Tác phầm gần như đã hoàn thành: Phần
chân dung anh đã vẽ xong hoàn toàn. Anh mặc cho Thảo Miên một cái áo khó
tìm thấy trong cuộc đời. Một cái áo không có cổ, gần giống chiếc áo dài,
mầu trắng. Nhưng sẽ khó có thể gọi là áo như người ta vẫn định nghĩa, vì nó
như ẩn chìm vào thân thể. Chiếc áo dài chỉ thoáng qua như một ký hiệu,
người khó tính sẽ thấy rằng cô ta cũng có một chiếc áo, thế thôi!
Khác hẳn với phong cách hiện thực
khi vẽ phần chân dung, toàn bộ phần phông anh vẽ theo phong cách trừu tượng
với những mảng mầu đủ loại như những đám mây xốp bồng bềnh đan xen, lồng
quện vào nhau. Tuy nhiên hai gam màu chính được anh sử dụng nhiều nhất là
hồng và ghi. Những mảng mây nhiều mầu tạo thành nhiều hình thù kỳ quái, tùy
theo sự liên tưởng của mỗi người. Đáng chú ý nhất là một vệt thẫm nằm chìm,
cắt ngang hai phần ba phông theo chiều dọc, có tác dụng như một thành tựa
làm cho bức chân dung của thiếu nữ mảnh mai bớt chênh vênh, và còn nhằm
chặn bớt sự quá trớn trong trí tưởng tượng miên man của người xem.
Có thể nói tác phẩm này đã vẽ hai
chân dung: một của thiếu nữ, một của tác giả. Phần phông chính là chân dung
tự họa của họa sĩ - một chân dung tự họa vô hình. Họa sĩ đã nói lên nhiều
những nỗi niềm suy tư, tâm sự ở mảng phông trừu tượng mung lung này, nhưng
ai có thể đọc được những thông điệp một cách chính xác, vì chìa khóa của
bản mã số bằng màu sắc, tác giả đã giấu mất rồi?
Cuộc vẽ kết thúc. Họa sĩ mệt lử
nhưng đầy vui sướng.
Cả ba chúng tôi đứng trước tác phẩm
vừa hoàn thành. Anh Liên đề nghị Thảo Miên nói cảm tưởng, nhận xét của cô.
Thảo Miên xúc động nói: "Đẹp quá, nhưng người thiếu nữ không giống em
lắm. Hơi già dặn hơn, khuôn mặt có vẻ đẹp rực rỡ hơn, nhưng cái nhìn đằm
thắm, và cái nhếch miệng mỉm cười có phần kiêu hãnh thì hoàn toàn là của
em".
Anh Liên khẳng định: "không có
một nét nào là không phải của cô cả. Tôi đã vẽ đúng cô trăm phần trăm không
chệch vào đâu được. Cô bảo không giống cô lắm. Nhưng đúng là cô đấy! Chính
cô là như vậy! Cuộc đời đã phủ lên cô một lớp bụi mỏng. Tôi là họa sĩ,
trong khi vẽ, tôi có nhiệm vụ bóc lớp bụi ấy đi"...
Tôi và Thảo Miên cùng cười thích
thú. Câu nói đó đã nói lên được một phần đặc tính của nghệ thuật vẽ chân
dung, nó không thể giống sự sao chép của máy ảnh. Chụp ảnh thì thụ động,
giống như một tấm gương phản chiếu người mẫu. Nhưng vẽ chân dung thì người
mẫu đã được phản chiếu thông qua lăng kính của họa sĩ. Cho nên vẽ chân
dung, không đơn thuần chỉ là vẽ giống, mà còn phải thể hiện được những
chiều sâu của tính cách nhân vật. Bức chân dung thiếu nữ này của anh Liên
đã đạt được một cách tài hoa tất cả những điều đó. 
Sau này anh Liên thỉnh thoảng có
nhắc lại buổi vẽ chân dung trong buổi tối mùa đông năm ấy, và nói rằng cô
là một trong những kỷ niệm đẹp nhất, xúc động nhất đối với cuộc đời họa sĩ
của anh.
- Thế chân dung ấy bây giờ ở đâu? -
Khi nghe xong mọi người đều hỏi tôi.
Tôi lại kể cho các bạn trẻ biết thêm
rằng: Tối hôm đó, sau khi vẽ xong, anh Liên đã tặng Thảo Miên bức tranh. Hè
năm sau cô thi vào đại học và trời đã phù hộ cho cô: sức học không phải là
xuất sắc lắm, nhưng thi lại đạt được điểm rất cao, cô được đi học ở nước
ngoài. Tôi gặp lại Thảo Miêu lần cuối cùng, vào một kỳ nghỉ hè giữa khóa
học khi về thăm đất nước. Cô gói bức tranh để trong một chiếc hòm
gỗ đựng sách vở, với những kỷ niệm cũ của đời học sinh. Chúng tôi giở ra
xem lại và thấy một điều kỳ lạ rằng bức tranh vẽ ba năm trước đây, hoàn
toàn giống cô hiện thời. Tựa như anh Liên là một nhà tiên tri vậy. Thảo
Miên nói kỳ này cô sẽ mang bức tranh đi theo. Hoàn cảnh gia đình có nhiều
éo le làm cô buồn chán, tốt nghiệp xong, cô sẽ lấy một người nước ngoài và
không trở về nữa.
Đấy là toàn bộ câu chuyện tại sao
không thấy có ghế bàn trong nhà anh Liên. Tôi không thể giải thích vì sao
anh Liên không mua lại bộ bàn ghế khác. Phải chăng, anh vẫn muốn giữ lại
những dấu tích của một kỷ niệm đẹp đầy chất Romantique ([1])
và chất aventureux ([2])
vốn là những đặc tính nổi bật của anh, hoặc có thể do thời gian sau đấy anh
đã quyết định từ giã đồng nghiệp và giới nghệ thuật để đi vào “ở ẩn”. Anh
chỉ mua một chiếc võng mắc chéo trong phòng nằm đung đưa, giao du với nghệ thuật của riêng mình và tiên tri các sự
đời?
*
*
*
Sau câu chuyện kể, chúng tôi ngồi
im, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Nhưng có lẽ không có gì ngoài Hà Nội.
Có thể nghĩ về cảnh đẹp của Hà Nội, nghĩ về những món ăn Hà Nội, nghĩ về
những họa sĩ đích thực Hà Nội mà trên thực tế có vô cùng ít ỏi trong thủ đô
cổ kính của chúng ta.
Tối về, mùa thu đổ lên mặt hồ, thả
trên những ngọn cây và con đường Cổ Ngư vắng dần người, những làn gió se
lạnh.
N . H . H
[1] Romantique: chất lãng mạn.
[2] Aventureux: chất phiêu lưu. Nguồn Web Hội nhà văn
|
[♥s0L-HgH♥][♥sonata♥] 20:28 06-11-2009
dangminhlien- friend vannghe 11:42 06-10-2009
Bài hay!
Bên bác có ảnh off P1 rồi
Các mém sang xem nhá
ღ♥ღ Sky ღ♥ღHNP 00:31 06-10-2009
daisu[de tu tuc gia HNP] 00:28 06-10-2009
BOC TEM CAI
THE CHUA UP ANH LEN HA BAC