Nhắc đến Khám Chí Hòa chắc hẳng ai ai cũng biết đến , nói thông thường
thì có từ thời Pháp. Tuy nhiên Khám Chí Hòa không chỉ thông thường là
một trai giam mà mọi người từng nghĩ mà nó là một Trận đồ triệt để về
Âm Dương, Ngũ Hành và theo Kỳ Môn Trận Pháp. Nếu ai đã tìm hiểu về dịch
lý, dịch thuật, Tam thức, nếu có cơ hội chứng kiến tận cảnh xây cất,
sắp đặt của Khám Chí Hòa, nó là một trận đồ vô cùng màu nhiệm.
Kỳ
môn Độn Giáp nếu muốn đi đến tuyệt đỉnh của môn học này thì phải có
thiên, địa giao lưu. Phải có cái lực trong cõi giới vô hình thì trận đồ
mới hoàn toàn phát được cái lực uy vũ, vô cùng tận của nó. trận đồ này
được bày ra do một vị thầy rất là cao tay ấn. Những vị thầy như thế
này, thật sự không phải lúc nào cũng có thể gặp. Trong trận đồ này đã
được 8 cô gái đồng trinh trấn giữ , cho nên, trong Khám Chí Hoà, trên
nguyên tắc là những ai mà bị vô “sỗ bì đen” rồi, thì đừng bao giờ mà
mong có thể thoát khỏi Khám Chí Hoá.
Tuy nhiên, nếu nói theo ngôn
ngữ của bên Tiên Gia thì vì ông trời có luôn có đức hiều sanh, cho nên
trận đồ Kỳ Môn phải có cửa “Sanh”. Vị thầy này khi sắp đặt trần đồ này,
vì phải làm theo tụi sự yêu cầu của Thực Dân Pháp, có thể ông ta biết,
mà cũng có thể ông ta không biết cho nên trong 8 vị đồng trinh này, có
một vị không còn là gái đồng trinh nửa. Khi trận pháp đã được dàn ra,
trên nguyên lý là không có gì có thể thoát ra được trần đồ này, nhưng
cũng vì có một ngưới con gái không còn là động trinh nửa, cho nên, Khám
Chí Hoá, tuy bị giam nhưng cũng có người có thể thoát ngục được. Nếu có
thoát đi chăng nửa, trước sau cũng bị bắt trở về.
Trận Bát Quái đồ
này rất sát, nếu như có một tù nhân nào chết trong đó thì linh hồn cũng
không được siêu thoátlinh hồn của họ phần cũng bị giữ lại, không thể
nào thoát được. Vị vậy ở đây, âm khí, lẫn oán khí rất là nặng, và cũng
vì lý do này mà Khám Chí Hoà thường hay có Lôi Công, Lôi Mẫu đến thăm
viếng luôn.
Trại giam khi đi vào thì rất ngộp ngạt âm khí rất nhiều bao trùm
xung quanh trại giam này. Khi vào nhà giam còn thấy một thanh kiếm rất
to nghe nói là "Tru Tiên Kiếm" trấn hình như là ngay giữa Trại Giam
này, nghe kể lại thanh kiếm này là toàn bộ kiến trúc trong trại này ,mà
khi nghe kể lại thì tác dụng của thanh kiếm này dùng để trấn yếm những
kẻ cao tay ấn khi bị bắt vào trong trai này, khi bị bắt vào đây mọi
công lực sẽ bị mất hết không làm bất cứ thủ đoạn gì trong trại này
được, nếu nhìn từ trên vệ tinh chụp hình lại thì quả thật đúng là một
trận đồ khổng lồ ngay thành phố.
Những người đã bị giam ở Chí Hòa trong suốt hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ đều nói, Chí Hòa có một cửa ra là cửa Tử, còn
cửa Sinh là cửa nào thì không biết. Tù nhân bị giam ở
đây bảo rằng, người chết linh hồn không siêu thoát được vì bị bát quái
cầm giữ, nên “âm khí” ở Chí Hòa thường rất nặng nề. Để giải thoát “âm
khí”, năm 1954, cai ngục Khám Chí Hòa cho xây bên ngoài “lò bát quái”
một ngôi chùa và có tượng Phật...
Tại miền Nam, từ trước năm
1975, khám Chí Hòa, cùng với hệ thống nhà tù ở Côn Đảo, Phú Quốc, Phú
Lợi, Đề lao Gia Định... là nơi giam cầm, hành hạ với đủ các hình thức
dã man nhất đối với những người cách mạng. Nhưng chính những nơi này đã
hun đúc ý chí chiến đấu, thử thách lòng kiên trung của các chiến sĩ
Cộng sản...
Thời gian đi như chớp mắt và khép lại nhiều quá khứ
đau thương... Nhưng với những ai đã và từng bị giam ở Chí Hòa thì họ
không bao giờ có thể quên được những chuyện xảy ra sau cửa ngục ấy.
Ban
Biên tập Chuyên đề ANTG cùng tác giả chân thành cảm ơn bà Trương Mỹ
Hoa, nguyên Phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam; ông Lê Hồng Tư; Vũ Quang
Hùng, cựu tù chính trị Trại giam Chí Hòa; nhà báo Phan Kim Thịnh (tức
Lý Nhân), Ban Giám đốc Công an TP HCM; Ban Giám thị Trại giam Chí
Hòa... đã giúp hoàn thành tư liệu này.
Phần I - “Lò bát quái” Chí HòaTôi vào Trại giam Chí Hòa vào một ngày đầu tháng 6.
Nếu
như trại giam của Công an Hà Nội nằm giữa cánh đồng rộng mênh mông của
xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm thì Trại giam Chí Hòa lại nằm gần trung
tâm TP HCM, và con đường Hòa Hưng đi qua cổng trại lúc nào cũng nườm
nượp người xe. Con đường vốn đã chật hẹp nay lại như bị nút lại bởi
những “lô cốt” của hệ thống thoát nước đang được thi công bằng tốc độ
của rùa... Và với những anh em lái xe của trại giam thường ngày phải
đưa bị cáo ra xét xử thì quãng đường chỉ hơn 4 cây số từ trại đến Tòa
án thành phố là dài... miên man bởi nạn tắc đường. Gặp những lúc như
vậy, dù có dùng còi ưu tiên cũng vô ích bởi cả một biển người như đặc
lại, chèn trước mũi xe.

Mô hình “lò bát quái” Chí Hòa
Các
đồng chí trong Ban Giám thị Trại giam Chí Hòa đưa tôi đến thẳng buồng
giam cấm cố mang số 2F, nơi ngày xưa từng giam người Anh hùng Nguyễn
Văn Trỗi. Từ ngoài cổng trại đi vào, tới được buồng giam 2F, tôi đếm
được đúng 9 lần cửa sắt và nếu thêm cánh cửa buồng cấm cố được làm bằng
gỗ có nẹp sắt, thì người tù, khi vào buồng này, phải qua 10 lần cửa...
Nếu như ở một số trại giam khác do thực dân Pháp xây dựng, các buồng
giam cấm cố được đặt khá biệt lập thì tại Chí Hòa, các buồng cấm cố lại
được để ngay góc của hai khu. Mỗi góc có 3 buồng giam cấm cố và sát
hành lang.
Căn buồng cấm cố nơi anh Nguyễn Văn Trỗi đã bị giam
cho đến khi ra pháp trường chỉ rộng khoảng hơn 4m2 và được dùng làm
“kho” chứa quần áo có lẽ đã lâu lắm rồi. Trên trần, có một bóng đèn
điện tỏa thứ ánh sáng vàng đục, và không gian ngột ngạt bởi sự tù túng,
bốc mùi ẩm mốc... Tôi đứng vào trong buồng cấm cố, và khi cánh cửa
buồng đóng lại thì bỗng dưng thấy mất hẳn cảm giác ngày hay đêm, không
còn biết phương hướng, và một sự im lặng nặng nề đến nghẹt thở ập đến
làm tôi lạnh cả người...
Tôi đã đến nhiều trại giam, trong đó có
những trại được xây từ thời Pháp như Trại Hỏa Lò ở Hà Nội, Trại giam
Hải Phòng... Nhưng quả thật, không đâu có thể so sánh được với Trại
giam Chí Hòa bởi lối kiến trúc độc đáo: vừa mang những đặc trưng cơ bản
của một nhà tù là kiên cố, kín đáo, bí hiểm, nhưng dễ kiểm soát, lại
vừa mang nét thần bí của phương Đông.
Để lần tìm lại lịch sử
khám Chí Hòa từ thời Pháp cũng như lịch sử của trại suốt từ những năm
đầu thập niên 40 của thế kỷ trước cho đến ngày miền Nam hoàn hoàn giải
phóng vào tháng 4/1975 là một điều cực kỳ khó khăn. Hồ sơ, tài liệu về
khám Chí Hòa đã mất hết sạch. Các đồng chí trong Ban Giám thị hiện nay
thì đa phần là người mới đến, và cũng chẳng được bàn giao lại những gì
gọi là tài liệu cũ, cho nên hầu như không hiểu về lịch sử khám Chí Hòa
qua các thời kỳ Pháp - Mỹ.
Theo hượng tá Hồi, Phó trưởng Phòng
5 của Cục Hồ sơ cảnh sát thì từ hơn 30 năm trước, anh đã nhiều lần vào
Trại giam Chí Hòa làm công tác hướng dẫn cán bộ quản giáo của trại lập
hồ sơ theo dõi phạm nhân. Và anh thấy rất nhiều tài liệu của Trại giam
Chí Hòa từ thời kỳ trước để lại. Anh khẳng định rằng ngày trước, công
tác quản lý hồ sơ, tàng thư, căn cước của cảnh sát chế độ Sài Gòn đã
được làm khá chặt chẽ và rất tỉ mỉ. Tuy nhiên, sau này, một phần hồ sơ
của trại được chuyển về các trung tâm lưu giữ, nhưng chủ yếu là lý lịch
phạm nhân, còn những thứ khác dần dà biến mất!

Cổng Trại giam Chí Hòa hôm nay
Bây
giờ, muốn tìm hiểu về lịch sử xây dựng khám Chí Hòa như thế nào, có lẽ
phải sang... Pháp. Mà ở đó, chắc chắn người ta lưu giữ vô cùng cẩn
thận. Có câu chuyện nhỏ thế này: Vào năm 1996, khi tiến hành sửa chữa,
trùng tu Nhà hát Lớn Hà Nội để chuẩn bị cho Hội nghị Cộng đồng các nước
nói tiếng Pháp, thì các nhà kiến trúc Việt Nam lo lắng vì kiếm đâu ra
cái thứ ngói đen lợp mái? Trong lúc đang còn bàn là tìm ở đâu thì phía
Pháp thông báo cho biết, loại ngói lợp trên nóc nhà là được làm từ một
loại đá ở tỉnh Lai Châu, mà thứ đá đó, có đầy tại các mỏ đá thuộc thị
xã Lai Châu (cũ)...
Khám Chí Hòa được thực dân Pháp xây từ năm 1943 (cũng có tài liệu nói là từ năm 1939) nhằm thay thế Khám Lớn Sài Gòn.
Cũng phải nói thêm chút ít về Khám Lớn Sài Gòn.
Bây
giờ, mỗi khi đi trên đường Lý Tự Trọng và đến gần ngã tư nối với đường
Nam Kỳ Khởi Nghĩa, ai cũng thấy một tòa nhà bề thế ba tầng mang lối
kiến trúc phương Tây - đó là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia khu vực II.
Nhưng không phải nhiều người đã biết nơi đây, hơn 60 năm trước, khu đất
này là nơi đặt nhà tù khét tiếng của thực dân Pháp có tên: Khám Lớn Sài
Gòn.
Khám Lớn Sài Gòn được xây dựng trên khu đất của chợ Cây Đa
Còm và xung quanh có 4 con đường là Lagran Diere (nay là đường Lý Tự
Trọng); Mac Mahon (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa); đường Espagne (nay
là đường Lê Thánh Tôn) và đường Filippini (nay là đường Nguyễn Trung
Trực). Từ Khám Lớn Sài Gòn đi sang Tòa án Sài Gòn chỉ không đầy trăm
mét và dưới thời Pháp, hai nơi này cùng với Dinh Thống đốc Nam Kỳ tạo
thành một “tam giác quỷ”. Vào ngày 8/3/1953, sau khi Khám Chí Hòa đã
xây dựng hoàn chỉnh thì Bảo Đại cho phá Khám Lớn Sài Gòn và xây Trường
đại học Văn khoa.
Khám Lớn Sài Gòn (Maison Centrale de Saigon)
được xây từ năm 1886 và sau hơn 4 năm thì xong. Khởi đầu, khám chỉ dài
hơn 30 mét và rộng 15 mét, có lối đi hẹp ở giữa. Hai bên là hai gian
nhà giam, có hai bệ xi măng được tráng một thứ nhựa giống như nhựa
đường màu đen, trên cùng trổ một cửa sổ nhỏ, nhỏ đến mức không đủ cho
ánh sáng mặt trời lọt vào.
Vào những năm đầu thập niên 30, do số
tù nhân tăng cho nên thực dân Pháp cho xây thêm nhiều buồng giam và
phân chia thành nhiều khu vực để giam cầm nhiều loại tù nhân khác nhau.
Khám Lớn Sài Gòn là nhà giam lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ. Nhiều nhà
yêu nước và chiến sĩ cách mạng Việt Nam từng bị giam ở đây như Nguyễn
An Ninh, Phan Xích Long, Tạ Thu Thâu, Trần Phú, Ngô Gia Tự, Hà Huy Tập,
Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng, Lê Văn
Lương, Mai Chí Thọ, Lý Tự Trọng...
Trong khám này có khu biệt
giam tù chính trị, có nơi giam người bị kết án tử hình, gọi là “xà lim
án chém”; có phòng để máy chém... Chiếc máy chém đặt tại Khám Lớn Sài
Gòn là được đưa từ Pháp sang. Máy chém cao 4,5 mét và có lưỡi dao vát
cạnh nặng 50kg. Đêm ngày 20 rạng sáng ngày 21/11/1931, Lý Tự Trọng đã
bị xử tử hình bằng chiếc máy chém này. Sự hy sinh của anh đã làm dấy
lên một phong trào đấu tranh mạnh mẽ ở Khám Lớn Sài Gòn, và cũng từ
đấy, bọn cai ngục ở đấy luôn gọi Lý Tự Trọng là Ông Nhỏ.
Còn
xà lim án chém, là một gian buồng hẹp, chiều dài khoảng 30 mét, chiều
ngang 5 mét... thì đã được ông Phạm Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng viết trong hồi ký “Trong xà lim án chém”
như sau: “Một miếng sắt đục lỗ li ti không đút lọt điếu thuốc lá. Xà
lim tối như bưng, suốt ngày thắp một ngọn đèn đỏ đòng đọc. Lại nóng vô
chừng; phải ở trần truồng mới chịu được. Nằm ngay xuống sàn xi măng,
một chân đút vào cái cùm dài suốt chiều dài xà lim. Vài ba tháng, bọn
mã tà mở cùm cho đổi chân một lần. Mỗi lần tôi đổi chân thì chúng phải
đóng kín tất cả các khám khác, tập trung lính tráng, mã tà, gác dan rầm
rập đến y như là tập trận rồi mới dám vào mở khóa còng. Trong xà lim,
không có một tý gì bằng kim khí. Bát gáo dừa, thùng gỗ đai bằng mây.
Chỉ có cái bô ỉa đái là bằng tôn...”.
Về
thiết kế và cấu trúc của Khám Chí Hòa có một điều lạ là không hiểu tại
sao người Pháp lại lấy thiết kế của một nhóm kiến trúc sư người Nhật.
Chắc hẳn người kỹ sư trưởng thiết kế công trình này phải là người am
hiểu Kinh Dịch và có lẽ cũng là người “mê Tam quốc Diễn nghĩa” vì thế
họ mới thiết kế Khám Chí Hòa là một hình bát giác, tượng trưng cho 8
quẻ trong Kinh Dịch là: Càn - Đoài - Ly - Chấn - Tốn - Khảm - Cấn -
Khôn. Và nếu như theo trận đồ bát quái của Khổng Minh thì 8 quẻ này
tương ứng với 8 cửa trận là: Hưu - Sinh - Thương - Đỗ - Cảnh - Tử -
Kinh - Khai.
Nhưng cũng
không hiểu rằng Trại giam Chí Hòa có 8 cạnh như vậy thì cửa ra vào
tương ứng với quẻ nào, có người nói tương ứng với quẻ Càn và trong trận
đồ bát quái là cửa Sinh. Do cổng trại ứng với quẻ Càn cho nên thường có
hai vị thần là Lôi Công và Lôi Mẫu đến “viếng thăm”. Mà Lôi Công, Lôi
Mẫu là “sét ông, sét bà” vì vậy đã có mấy lần sét đánh trúng cổng trại
vào những năm 1956; 1964; 1965? Nhưng những người nào đã bị giam ở Chí
Hòa trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thì đều nói,
Chí Hòa có một cửa ra là cửa Tử, còn cửa Sinh là cửa nào thì không
biết. Do được xây dựng theo bát quái cho nên Khám Chí Hòa rất “sát”, tù
nhân bị giam ở đây bảo rằng, người chết linh hồn không siêu thoát được
vì bị bát quái cầm giữ, nên “âm khí” ở Chí Hòa thường rất nặng nề.
Để
giải thoát “âm khí”, năm 1954, cai ngục Khám Chí Hòa cho xây bên ngoài
“lò bát quái” (nhưng vẫn nằm trong khuôn viên khám) một ngôi chùa và có
tượng Phật... Sau này ngôi chùa đã bị phá và hiện nay chỉ còn một tượng
Phật nằm trơ trọi trên một cái hồ nước nhỏ và cách pháp trường đã xử
bắn Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi chỉ hơn 200 mét.
Khám Chí Hòa được
xây dựng từ năm 1943 nhưng sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương
thì bị đình chỉ và mãi đến năm 1950 việc xây dựng mới được tiếp tục và
hầu như toàn bộ vật liệu như xi măng, sắt, thép đều chở từ Pháp sang.

Đường hầm dẫn vào một khu giam
Khám
Chí Hòa có 3 lầu. Tầng trệt là nơi làm việc của giám thị và các lực
lượng bảo vệ, các khu dịch vụ. Đồng thời có 2 khu giam phạm nhân nữ.
Lầu 1 (người ngoài Bắc thường gọi là tầng 2) là nơi để giam giữ tù
chính trị, lầu 2 và lầu 3 là nơi giam giữ thường phạm. Khám Chí Hòa có
8 khu tất cả và đặt từ A đến H. Ví dụ, tầng trệt được gọi là O, phòng
số 1 khu F, dưới tầng trệt sẽ được đặt số hiệu là OF1, nếu là trên tầng
2 thì sẽ đặt là 2F...
Mỗi cạnh của bát quái trận đồ là một
khu, lưng xây bịt kín ở phía ngoài còn phía trong toàn song sắt và mỗi
khu có 4 buồng giam. Ở giữa bát quái Chí Hòa là một vọng gác cao hơn 20
mét, trên đó có bể chứa nước và có chòi canh. Đứng tại đây, lính canh
có thể dễ dàng quan sát tất cả các phòng giam.
Có thể nói với
cách kiến trúc như của Chí Hòa, phạm nhân khi đã vào đây thì không thể
trông mong gì việc tìm đường vượt ngục. Trong suốt những năm kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ, những chiến sĩ Cộng sản bị giam ở đây
cũng đã nhiều lần bàn mưu tính kế tìm cách vượt ngục, nhưng đều không
thành. Lịch sử Khám Chí Hòa cho đến ngày hôm nay chỉ ghi nhận có hai
trường hợp vượt trại thành công.
Lần thứ nhất là vào đêm ngày
9/3/1945, lợi dụng lúc Nhật đảo chính Pháp, những người tù Cộng sản đã
tổ chức cướp trại và giải thoát hết số tù chính trị giam tại đây. Còn
lần thứ hai là vào năm 1995, tên tử tù Nguyễn Hữu Thành đã cưa còng,
khoét tường rồi xé quần áo bện làm dây, tụt xuống... và trốn thoát.
cparisuji 19:23 09-11-2009
cparisuji 19:22 09-11-2009
Cupidon 15:22 04-11-2009