<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[Trang blog cua Mr. Hoàng Anh]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd]]></link>
        <description><![CDATA[Chia sẻ cùng mọi người mọi lúc mọi nơi.]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2009/11/22 01:19:05</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[Không nên dạy trẻ thói đạo đức giả?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=332]]></link>
            <description><![CDATA[Ngay từ buổi ấu thơ, bước chân đến trường trẻ đã thuộc lòng những câu hát: “...cô yêu cháu vì cháu không khóc nhè...”, hay “thứ hai... bé hứa cố gắng chăm ngoan, thứ ba... càng ngày cháu càng cố gắng, ...thứ sáu cô cho cháu phiếu bé ngoan,... cả nhà đều vui vì bé ngoan suốt tuần”.
Những câu hát đó minh họa thật chính xác cho phương pháp dạy dỗ từ mẫu giáo cho đến hết phổ thông là: cháu không được khóc, phải ngồi im, muốn nói phải giơ tay đúng kiểu chờ cô cho phép, khoanh tay lắng nghe không được tranh luận với cô, hạn chế cười đùa, luôn được theo dõi bằng hệ thống điểm, phiếu, cán bộ cờ đỏ, phạt... luôn coi đó là các chuẩn mực tốt? chả thế nhiều&nbsp;cháu bé&nbsp;sợ các cô quá, một ngày phải thay mấy cái quần.
Trẻ con là phải hồn nhiên và ngây thơ, việc khóc cười là tùy chúng, nô đùa nghịch ngợm thoải mái, nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng, vui tươi, đấy mới là là lẽ phát triển tự nhiên, thậm chí giành nhau cũng là một phản xạ tự nhiên, một hành động bình thường. Thay vì quá khuôn mẫu trong mọi hoạt động hằng ngày, hãy cho chúng nhiều hơn những không khí vui tươi học hành, được thể hiện sự ham thích khám phá thế giới xung quanh. Giáo viên chỉ nên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn tích cực.
Đằng này, trong giáo dục từ lâu dường như đang có một xu hướng: cố giữ cho trường lớp một cái vẻ ngoài yên tĩnh,&nbsp;lặng lẽ, nghiêm túc, mà ngầm chấp nhận tình trạng quay cóp triền miên, nâng điểm, làm bài theo mẫu, “đóng kịch” với đoàn kiểm tra, tham quan dự giờ...; nặng hơn là một lối sống ù lì, thụ động, giả tạo nơi học sinh, và ngược lại là hiện tượng “bùng nổ” khi ra khỏi cổng trường bằng các trò đua xe, nhảy nhót, hút hít, phạm tội. Tất cả là vì thành tích và sự dễ dàng hơn cho việc dạy dỗ của thầy cô. Tựa như đại dương, lặng sóng phía trên nhưng bên dưới luôn ẩn chứa&nbsp;những đợt sóng ngầm nguy hiểm.
Hãy nhìn những hiện tượng tha hóa hằng ngày ngoài xã hội, nơi cán bộ có chức quyền, hoàn toàn có cội rễ bởi cách giáo dục con người từ thời tấm bé. Nếu cứ khuyến khích những kẻ đạo đức giả, luôn tỏ ra “ngoan ngoãn”, “gọi dạ bảo vâng”, đe nẹt những người có chính kiến riêng, thừa&nbsp;tài năng nhưng thiếu khả năng. Kiểu “đặt đâu ngồi đó”, “bảo sao làm vậy” thì sẽ lấy đâu ra nhân tài? làm méo mó nhân cách con người ngay từ nhỏ, tạo môi trường thuận lợi cho những kẻ thụ động, ăn bám, vụ lợi, chây ì, xu nịnh, bịp bợm, giả dối, chủ nghĩa cơ hội đương nhiên phát triển bền vững.
st]]></description>
            <pubDate>2009/11/22 01:08:00</pubDate>
            <guid><![CDATA[Không nên dạy trẻ thói đạo đức giả?:332]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Không thông minh vẫn có thể làm giàu]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=331]]></link>
            <description><![CDATA[Bạn không cần phải thông mới có thể giàu có. Những ai có chỉ số IQ dưới trung bình vẫn sung túc như những kẻ nhiều trí não, một cuộc khảo sát tại Mỹ đã cho thấy như vậy.  
&quot;Kết quả cho thấy cho dù bạn sinh ra với bộ óc thông minh hay không thì bạn vẫn có thể làm giàu hiệu quả&quot;, tác giả Jay Zagorsky, nhà kinh tế học tại Trung tâm nghiên cứu nhân lực thuộc Đại học bang Ohio , Mỹ, nói. &quot;Vấn đề là nếu bạn có một thái độ tích cực và muốn tiết kiệm tiền và tích luỹ của cải, bạn hoàn toàn có thể làm được bất kể IQ là bao nhiêu&quot;. 
Nghiên cứu còn cho thấy những người có trí tuệ cao lại gặp khó khăn về tài chính, như vét sạch thẻ tín dụng và nợ nần hoá đơn. Đó là do họ không biết tiết kiệm. 
Các nghiên cứu trước cho thấy trí thông minh ảnh hưởng tích cực tới thu nhập. Những người có IQ cao thường có trình độ giáo dục cao, địa vị nghề nghiệp tốt và như vậy có nền tảng tốt để làm giàu. Nhưng một công việc lương cao không hoàn toàn có nghĩa là người đó sẽ giàu có - mức đo sự chênh lệch giữa tài sản và nợ của một người. 
Các nhà khoa học đã kiểm tra thông tin khảo sát từ 7.400 người sinh năm từ 1957 đến 1964 trên toàn nước Mỹ. Những người tham gia trả lời câu hỏi về thu nhập, tổng giá trị tài sản và 3 tiêu chuẩn của khó khăn tài chính: vét sạch thẻ tín dụng, thanh toán hoá đơn không đúng hạn và bị phá sản. 
Những người có chỉ số IQ cao thường có thu nhập cao. Tuy nhiên chỉ số IQ lại không tác động tới tài sản của họ. Vì vậy mặc dù những người tài giỏi này kiếm được nhiều tiền, họ lại không có khoản tiết kiệm nào để trưng ra. Và thực tế, những người có chỉ số IQ cao lại gặp vấn đề trong việc trễ hạn trả thanh toán, vét sạch thẻ tín dụng.
Theo http://www.huongnghiep.com.vn]]></description>
            <pubDate>2009/11/20 11:43:05</pubDate>
            <guid><![CDATA[Không thông minh vẫn có thể làm giàu:331]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Sự phân chia giàu nghèo]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=330]]></link>
            <description><![CDATA[Chúng ta mong muốn giàu có, chúng ta sợ nghèo đói, thậm chí là căm ghét cái nghèo. Rất nhiều nơi cao cấp, đặc biệt là những nhà hàng lớn sang trọng cấp 5 sao, nếu bạn ăn mặc xuềnh xoàng, chắc chắn bạn sẽ không được phép vào.  
Mặc dù chúng ta không giàu có, nhưng chúng ta cũng thường phải tỏ ra sang trọng. Mỗi tháng phát lương, trước tiên phải làm mới lại mình với quần áo hàng hiệu, túi sách hàng hiệu, vào nhà hàng sang trọng… Có những lúc chúng ta tiêu tiền không tiếc để được coi là “tầng lớp thượng lưu”. 
Việc phân chia giàu nghèo rất dễ làm nảy sinh tâm lý “thù giàu”, “ghét nghèo”. Vậy thì, với việc thù giàu và ghét nghèo nói chung, chúng ta nên có thái độ thế nào? 
Trước tiên phải nhìn nhận sự tích lũy tài sản một cách toàn diện và khách quan. Có những người giàu có do được kế thừa tài sản hoặc gặp vận may, có những người giàu có do họ cần cù, chịu khó hy sinh sức lực và trí tuệ. Đó là sự giàu có chính đáng, bạn không thể đem lòng đố kỵ. Còn cũng có người nhờ đầu cơ tích trữ, lừa gạt, giàu có như vậy chỉ là giàu tạm thời, rồi sẽ mất hết. Tiếp đến phải đặt tâm tư vào hành động của mình, chỉ cần bạn cố gắng, cần cù, dám làm, thì cuối cùng sẽ vượt ra khỏi nghèo đói. 
M. năm nay 42 tuổi, anh rất bất mãn với cuộc sống nghèo túng buồn chán. Mỗi khi thấy người khác đi xe đẹp, anh luôn cảm thấy không chịu được cứ như mình gặp phải trắc trở gì. Anh căm ghét tất cả những người thành công hơn mình, anh cảm thấy mình nỗ lực học tập, cố gắng làm việc, nhưng vẫn không có được xe đẹp. Lòng M. đầy thù hận với người có tiền, lại cảm thấy mình rất đáng thương. 
Thực ra, M. nên trân trọng tất cả những gì mình đã có, đồng thời cho phép mình theo đuổi nhiều thứ tốt hơn, đây cũng là thách thức mới mà M. phải đối mặt. Khi nhìn thấy xe đẹp của người khác, nên tự nói với mình rằng: “Mình cũng có thể có chiếc xe như vậy”. Dần dần sẽ thay đổi được sự đố kỵ với người giàu và bắt đầu theo đuổi nhu cầu vật chất của mình. 
Phân chia giàu nghèo có thể nhưng không tất nhiên gây ra sự bất ổn của xã hội. nếu người giàu phát tài do ăn cắp, do lừa gạt, do tham ô, do tống tiền thì việc phân chia giàu nghèo sẽ trở thành sự bất công của xã hội. Điều này sẽ dẫn đến sự bất ổn của xã hội. Nếu người giàu có tiền là nhờ cần lao, sáng tạo đổi mới, nhanh nhạy linh hoạt thì trong một mức độ nhất định khoảng cách giàu nghèo lớn nhưng lại trở thành động lực để động viên thành viên xã hội tạo ra nhiều của cải hơn. Thứ chúng ta cần là loại bỏ sự bất công của xã hội, chứ không phải là xóa bỏ hoàn toàn khoảng cách giàu nghèo. 
Phân chia giàu nghèo rất dễ tạo thành hiện tượng xấu trong xã hội. Mặc dù nguồn gốc của tiền là chính đáng, nhưng sự kênh kiệu của người giàu, cách sinh sống của người nghèo vẫn sẽ làm rất nhiều người cảm thấy áp lực. Vì thế mà xuất hiện vấn đề khoảng cách giàu nghèo như thế nào có thể coi là hợp lý? 
Đố kị với sự giàu có của người khác cũng là điều thường tình của con người. vấn đề là làm thế nào để giữ được sự ổn định và hòa hợp của xã hội, làm thế nào để biến sự đố kị ấy thành động lực làm giàu? 
Người Mỹ có một vài thói quen có lợi cho việc giữ sự cân bằng quan hệ xã hội. Họ không nghe ngóng mức độ thu nhập của nhau, nếu bạn hỏi người khác một tháng anh ta kiếm được bao nhiêu tiền, bạn sẽ bị coi là rất bất lịch sự, giống như hỏi một người phụ nữ là “chị bao nhiêu tuổi” vậy. 
Hiện nay, ngoài các trường hợp xã giao chính thức, người Mỹ cũng không chú trọng đến cách ăn mặc, vì thế nhìn vẻ bề ngoài rất khó đoán được người đó là khá giả hay bần hàn. Giảng viên đại học trước đây lên lớp còn thắt cà vạt, nhưng vài năm gần đây các giảng viên trẻ tuổi lại ăn mặc tùy theo sở thích. 
Người Mỹ không ngại khi nói đến tiền. Tiền trở thành động lực thúc đẩy tất cả các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên sự vật có giá trị với mỗi người lại không hạn chế ở những thứ có được thông qua trao đổi. Chẳng hạn như sức khỏe, không khí thoáng đãng có giá trị nhưng người giàu và người nghèo lại thở cùng một không khí như nhau. Ngoài ra, sự thành công, tình yêu, bạn bè, tuổi thọ, lý tưởng đều có giá trị nhưng cũng không thể mua được bằng tiền. 
Nhìn bề ngoài thì tài sản gần như kiểm soát tư tưởng của chúng ta, cuộc sống chúng ta, nhưng trên thực tế, chúng ta mới chính là người chủ của của cải. Sự thỏa mãn do của cải vật chất mang lại thường mất đi dần dần. Nếu ỷ lại vào của cải vật chất để làm mình hạnh phúc, dù có trở thành người có tiền, cũng sẽ mất đi bản thân mình, mất đi niềm vui hưởng thụ. 
Tiền có thể làm rất nhiều việc chính đáng, cũng có thể làm rất nhiều việc thiện nhưng cũng có thể làm rất nhiều việc xấu. Tiền có thể mua được rất nhiều thứ ngoài hàng hóa, gồm cả sự ủng hộ và phản đối của lòng người, cũng bao gồm cả địa vị đặc quyền. Nhưng đừng đố kị người giàu hơn mình, đừng khinh bỉ người nghèo hơn mình, nên tập trung tinh thần theo đuổi con đường riêng của mình, cùng mọi người hướng đến sự giàu có! 
Trích từ “Ranh giới giữa giàu và nghèo” – NXB Từ điển bách khoa.]]></description>
            <pubDate>2009/11/20 11:40:57</pubDate>
            <guid><![CDATA[Sự phân chia giàu nghèo:330]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Doanh nhân lớn phải thông minh, dũng cảm, may mắn]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=329]]></link>
            <description><![CDATA[Là những nhà đầu tư mạo hiểm, tôi cùng vài cộng sự thường xuyên gặp gỡ không ít các doanh nghiệp, những người sẵn sàng lao vào những ý tưởng và rượt đuổi theo những ước mơ của riêng họ. Chúng tôi đều yêu quý, trân trọng họ - đặc biệt khi niềm đam mê đi cùng với khả năng và những ý tưởng hay.
Xuất phát từ sự yêu quý đó, tôi bị lôi cuốn vào việc tìm hiểu “cấu trúc gen” của những doanh nhân xuất sắc, với nỗ lực tìm ra đâu là những đặc điểm hay dấu hiệu báo hiệu không sớm thì muộn doanh nhân đó sẽ thành công.
Sau khi nỗ lực tìm hiểu, tôi đã đi tới kết luận rằng những doanh nhân xuất sắc nhất đều có chung một số đặc điểm: Sự thông minh, nhanh nhạy – Sự cương quyết, dũng cảm – và Sự may mắn.
Sự thông minh, nhạy bén: Mỗi buổi sáng bạn đều thức dậy với một phần thưởng thắng cá độ trong các cuộc đua ngựa, trong những ván bài may rủi ở Las Vegas đang chờ đợi, thì có nghĩa là sự may mắn gõ cửa nhà bạn nhiều hơn cả mong đợi. Nhưng những trường hợp như bạn đâu có nhiều. Theo tôi, “sự thông minh, nhạy bén” mới là nền tảng vững chắc nhất cho bất kì doanh nhân nào.
Tuy nhiên, trí tuệ của một người không chỉ giới hạn trong những khóa học MBA truyền thống. Nói một cách thành thực, nếu bản thân tôi không sở hữu một trong số những tấm bằng như vậy, thì có lẽ tôi cũng không ngần ngại, thẳng thắn mà nói rằng có nhiều điều rất thật trong những gì mà cộng sự của tôi – Mats Lederhausen – đã nói: “Hầu hết thành quả của những thạc sĩ quản trị kinh doanh chỉ là những doanh nghiệp mang đậm màu sắc truyền thống”.
Thực tế này không xuất phát từ việc những người tham gia khóa học là kém thông minh, mà bởi một tấm bằng MBA vốn được kì vọng sẽ hữu ích trong tương lai lại không phải là một đòi hỏi bắt buộc.
Các doanh nhân tự thân lập nghiệp thành đạt nhất thường sở hữu những kĩ năng, kiến thức thực tế nổi trội, khả năng trực giác rất nhạy bén, sự hiểu biết về cả tri thức lẫn tình cảm, những điều này thường tạo ra nhiều ưu thế hơn là sự hiểu biết sách vở, khả năng phân tích hay kĩ năng quản lý.
Đó là lý do tại sao những nhà sáng lập thường rất giỏi trong việc đưa công ty tiến tới một mức độ nào đó, nhưng lại kém thành thục trong việc mở rộng phạm vi ý tưởng của mình. Các CEO - những người phát triển, mở rộng quy mô của doanh nghiệp - có thể không phải là nhà sáng lập ra chúng; trong khi đó, những người thành lập nên doanh nghiệp lại không phải là người có khả năng mở rộng chúng.
Nếu nhắc tới những trường hợp ngoại lệ, nhất thiết phải kể đến Michael Dell, Steve Jobs, Bill Gates, và Howard Schultz. Những con người này sở hữu một khả năng đặc biệt, hiếm hoi, cho phép kết nối tư duy phân tích và sức sáng tạo, kết hợp hài hòa sự vận động của não trái và não phải.
Trong những giai đoạn đầu tiên của các phi vụ đầu tư, tôi thường bị chi phối nhiều hơn bởi hoạt động của não phải, có thiên hướng nghiêng về sức sáng tạo, những kĩ năng và kiến thức thực tế. “101 những kĩ năng đột phá” dường như khó mà tìm thấy trong nội dung của bất kì một chương trình học MBA nào.
Ý chí quyết tâm, can đảm: Sau khi có những ý tưởng triển vọng, những doanh nhân lớn là những người lúc nào cũng tràn đầy quyết tâm để đi tiếp. Họ sẵn sàng quẳng mình vào những nơi mà mọi người tỏ ra lo lắng, chồn chân, hay băn khoăn tự hỏi “Liệu những người khác sẽ nghĩ gì nhỉ?”
Định nghĩa về tinh thần khởi nghiệp mà giáo sư Bill Shahlman của Trường kinh doanh Havard đã chỉ ra rất rõ rằng chính “tinh thần không nao núng, sự theo đuổi không biết mệt mỏi các cơ hội mà chẳng mấy quan tâm đến việc mình sở hữu bao nhiêu nguồn lực” sẽ tạo nên một trung tâm nơi tập trung mọi ý chí và tinh thần khởi nghiệp.
Những doanh nghiệp này có thể không lo lắng về nguồn lực họ thiếu, mà quan tâm nhiều hơn tới tài tháo vát, xoay xở cần thiết để biến các ý tưởng lớn thành sự thực.
Thật là dũng cảm khi theo đuổi một sứ mệnh mà bất chấp hố sâu ngăn cách giữa những nguồn lực sẵn có và sự hào phóng của các ý tưởng. Cũng dũng cảm biết bao khi bạn muốn vượt rào, muốn leo cao trong khi người nào đó có thể cho chướng ngại vật đo ván chỉ với một chiêu đơn giản. Và quả là dũng cảm khi bạn kiên quyết tạo ra sự đổi thay mà dường như vẫn còn vô hình với hầu hết mọi người, và khi bạn luôn một lòng một dạ tiến lên phía trước với một niềm tin và sự rõ ràng mà có lẽ chỉ mình bạn mới thấy.
Đây là một thực tế hết sức thú vị: Khoảng 2/3 những người nằm trong danh sách các tỷ phú do Forbes bầu chọn đều khởi đầu với hai bàn tay trắng. Sự liều lĩnh tuyệt vọng có thể là một nguồn động lực tốt, tuy nhiên những người này đã được sinh ra trong một bầu nhiệt huyết luôn cháy sáng, một sức tưởng tượng, đột phá lúc nào cũng sẵn sàng bùng lên trong tâm trí.
Hãy đọc tiểu sử của những Andy Grove, Ralph Lauren, hay J.K Rowling và bạn chắc chắn sẽ tìm thấy những mẩu chuyện đầy sức truyền cảm. Và hẳn bạn còn chưa quên lời tuyên bố rất hùng hồn của ngài Eleanor Roosevelt rằng: “Tương lai thuộc về những người có niềm tin vào vẻ đẹp của những giấc mơ, những hoài bão”.
Sự may mắn: Dù cho có tất cả sự thông minh và tràn đầy lòng quả cảm, nhưng vinh quang sẽ không đến thăm bạn nếu không có một chút may mắn. Thời cơ đến bất chợt, những cuộc chạm trán ngẫu nhiên, hay những mối liên kết không tài nào giải thích nổi kết hợp với nhau sẽ tạo thành một nhân tố thiết yếu dẫn dắt bạn đến với mục tiêu cuối cùng của mình.
Mọi người có thể tự tạo ra vận may cho mình, nhưng cũng không nên xem nhẹ giá trị do thần may mắn tốt bụng mang đến cho mình. Nhận ra may mắn là một biến số không thể thiếu trong phương trình thành công sẽ giúp bạn duy trì sự khiêm nhường ở mức cần thiết trong suốt hành trình khởi nghiệp và cả về sau này nữa.
Những tình huống nằm ngoài kiểm soát có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chấp nhận thực tế này, cũng như hiểu rằng đôi khi bạn chỉ cần một chút may mắn là cần rất cần thiết để duy trì niềm tin, sự can đảm, và động lực dám nghĩ dám làm của mình. Khi nghĩ lại những thăng trầm tôi đã từng trải qua trong quá trình khởi nghiệp, tôi luôn cảm thấy biết ơn số phận đã dẫn dắt mình đi đúng hướng.
Triết lý chủ đạo tồn tại trong công ty đầu tư của tôi – Cue Ball – là: nguồn lực con người sẽ chiến thắng mọi thách thức đang trực sẵn ngoài kia. Chúng tôi vẫn nói với nhau rằng vấn đề cốt lõi nằm ở con người, và rằng bất kì ngày nào, chúng tôi cũng sẵn sàng đón nhận phương án B do nhóm A triển khai thay cho phương án A do nhóm B triển khai. Nhưng chắc chắn một điều là, nhóm A đó phải phát huy công dụng của một liều thuốc 3 trong 1: Thông minh – Dũng cảm – May mắn.
- Bài viết của Anthony Tjan trên Harvard Business Publishing -
Tuyết Lan dịch
Theo http://tuanvietnam.net]]></description>
            <pubDate>2009/11/20 11:00:57</pubDate>
            <guid><![CDATA[Doanh nhân lớn phải thông minh, dũng cảm, may mắn:329]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Muốn phát triển phải có đội ngũ doanh nhân trí thức]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=327]]></link>
            <description><![CDATA[Một quốc gia giàu mạnh không thể thiếu tầng lớp doanh nhân có tầm vóc, tạo ra giá trị cho xã hội. Và để trở thành có tầm vóc, các doanh nhân không thể thiếu kiến thức và cách hành xử lương thiện, trung thực, đàng hoàng. Nói cách khác, đó phải là một tầng lớp doanh nhân trí thức. 
Nhìn vào câu chuyện cả một làng ven đô mỗi ngày làm &quot;công nghệ&quot; tẩy trắng hàng triệu quả trứng gà Trung Quốc vỏ nâu thành trứng gà ta vỏ trắng, đem bán ra thị trường để đầu độc người tiêu dùng, mà không khỏi kinh hãi. 
Đó chỉ là một trong nhiều ví dụ tiêu cực về những người làm kinh doanh trên đất nước ta, với những thói xấu đã và đang bị cả xã hội ca thán: lừa đảo, gian lận, thiếu văn hóa, thiếu kiến thức... 
Chẳng thiếu gì những doanh nhân mà:  
- Với người tiêu dùng, họ vô đạo đức; 
- Với môi trường và xã hội, họ vô trách nhiệm; 
- Với đối thủ cạnh tranh trong nước, họ thủ đoạn, chơi bẩn; 
- Với đối thủ cạnh tranh nước ngoài, họ yếu thế, bất lực. 
Tất cả đều là biểu hiện của một lối kinh doanh thiếu tinh thần trí thức, chụp giật và không đàng hoàng. 
Từ nguyên nhân &quot;do lịch sử để lại&quot; 
Lối kinh doanh chụp giật vốn đặc thù ở những xã hội chậm phát triển, nơi mọi người đều bị dồn vào thế &quot;đói đầu gối phải bò&quot;, hoặc trong những nền kinh tế đang thời kỳ chuyển đổi, ở đó ai nấy đều đang khao khát thoát khỏi nghèo đói, làm giàu cho mau, mà hệ thống pháp luật thì còn nhiều điều bất cập. 
Nói như vậy để khẳng định rằng cách hành xử không đàng hoàng, lừa đảo, gian lận không phải là &quot;độc quyền&quot; hay &quot;tố chất bẩm sinh&quot; của người làm kinh doanh xứ ta. 
Mọi nền kinh tế chuyển đổi, như nước Nga giai đoạn cải cách, Đông Âu thời kỳ mới mở cửa, đều từng chứng kiến sự hỗn loạn khi người người, nhà nhà bung ra làm kinh doanh, mà các yếu tố cần thiết cho một nền kinh tế thị trường đều chưa có. 
Giai đoạn tranh tối tranh sáng quả là thời điểm lý tưởng để những phần tử cơ hội &quot;cướp bóc&quot; của dân chúng và xã hội. Một ví dụ phổ biến ở nhiều nước, dĩ nhiên kể cả Việt Nam, thời kỳ chuyển đổi là việc cổ phần hóa DNNN theo cái cách chuyển toàn bộ tài sản của Nhà nước (xuất phát từ tiền thuế của dân) vào túi riêng của một số cá nhân. Hành động đó là gì nếu không phải là sự cướp đoạt trên quy mô lớn? 
Doanh nghiệp lớn ăn lớn thì doanh nghiệp nhỏ cũng ăn nhỏ: làm hàng giả hàng nhái, bán thực phẩm kém chất lượng, rút ruột công trình, trốn thuế, quịt nợ v.v. 
Khi đất nước còn trong chế độ kế hoạch hóa tập trung, thương mại, thị trường, khối kinh tế tư nhân bị triệt tiêu. Dễ hiểu là sau một thời gian dài bị kìm kẹp như thế, khi được tự do hóa, các cá nhân, tập thể làm kinh doanh khó tránh khỏi tâm lý &quot;vơ vét&quot;, cốt sao kiếm thật nhiều lợi nhuận mà bất chấp tất cả, nhất là khi không có sự kiểm soát hữu hiệu của luật pháp. 
Đến nguyên nhân &quot;do cơ chế sinh ra&quot; 
Ngoài nguyên nhân &quot;lịch sử&quot;, cũng còn yếu tố khác khiến doanh nhân Việt trở thành &quot;xấu xí&quot;, mà yếu tố này chỉ đến nay mới bộc lộ rõ. Đó là môi trường chính sách không thuận lợi, không thật ủng hộ, nâng đỡ cho người làm kinh doanh. 
Cụ thể, những chính sách thay đổi liên tục và... giật cục, thậm chí nhiều khi mâu thuẫn nhau, khiến doanh nghiệp, doanh nhân trở tay không kịp. Đơn cử như chuyện giá năng lượng tăng không có lộ trình, hay chuyện đột ngột cấm mặt hàng này, hạn chế lĩnh vực kinh doanh kia, làm doanh nghiệp, nhất là khối tư nhân, rất khó có cái nhìn dài hạn. 
Một doanh nhân từng phát biểu: &quot;Sự ứng phó một cách tháo vát với sự thay đổi của chính sách tạo ra sự phát triển của một đặc tính là cơ hội trong kinh doanh&quot;. Tính cơ hội chẳng qua là cách nói khác của sự chụp giật, tham lam, ngắn hạn. 
Làm doanh nhân thời nay: vinh quang và trách nhiệm 
Bên cạnh việc Nhà nước kiện toàn bộ máy điều hành kinh tế vĩ mô để hỗ trợ các doanh nghiệp, bản thân doanh nghiệp phải là lực lượng giữ vai trò chủ động. 
Nói gì thì nói, thời kỳ các doanh nhân có thể làm ăn manh mún, chụp giật, chạy theo lợi nhuận bất chấp tất cả, cũng sẽ đến lúc phải qua. Một khi hệ thống luật pháp được kiện toàn và nghiêm minh, một khi đất nước hội nhập đầy đủ với thế giới, kinh tế thị trường mở sẽ buộc người làm kinh doanh phải thay đổi: lừa đảo, gian trá, thiếu văn hóa thì mất khách, kém năng lực thì phá sản. 
Ngày 13/10 hàng năm đã được chọn là Ngày Doanh nhân Việt Nam, để tôn vinh những người làm kinh doanh, góp phần xây dựng nền kinh tế của đất nước. Điều đó là vinh quang của cả một giới, nhưng cũng mang lại sức ép lớn hơn bao giờ hết đối với họ: Họ phải thực sự trở thành những &quot;người lính thời bình&quot;, &quot;chiến sĩ trên mặt trận kinh tế&quot;... như xã hội kỳ vọng. 
Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh: &quot;Việc quyết định lấy ngày 13/10 hàng năm là Ngày Doanh nhân Việt Nam càng nhắc nhở trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nhân đối với đất nước&quot;. 
Muốn là &quot;những chiến sĩ trên mặt trận kinh tế&quot;, doanh nghiệp, doanh nhân thời nay không thể cứ tiếp tục lối làm ăn &quot;do lịch sử để lại&quot;, &quot;do cơ chế sinh ra&quot;. 
Khác với mặt trận quân sự, các chiến sĩ kinh tế nếu áp dụng lối đánh du kích thì không thể thành công kéo dài mà chỉ chuốc tiếng xấu &quot;chơi bẩn, đánh hèn&quot; vào thân mà sớm chuốc lấy thất bại. Nhất là khi đối thủ ngày càng đông - các doanh nghiệp đến từ bên ngoài - và cứ chiếm thị phần của chúng ta một cách dần dần, mềm mại, hiệu quả. Và người tiêu dùng thì ngày càng thông thái hơn, đòi hỏi hơn. 
Thời đại sẽ đòi hỏi ở doanh nhân những phẩm chất phải có để có thể làm lực lượng đưa đất nước đi lên: trung thực, lương thiện, sáng tạo, hiểu biết. 
Xét cho cùng, đó là phẩm chất của giới trí thức tinh hoa trong xã hội. Một đất nước mà giới trí thức tinh hoa càng mở rộng về số lượng và chất lượng, đất nước đó càng giàu mạnh. Việt Nam, với đội ngũ hơn 260.000 doanh nghiệp trên 86 triệu dân số, sẽ còn phải nỗ lực để vươn tới địa vị phát triển hơn. Nỗ lực này đòi hỏi đóng góp từ cả bộ máy điều hành vĩ mô lẫn phần rất lớn từ lực lượng doanh nghiệp.
Theo http://tuanvietnam.net]]></description>
            <pubDate>2009/11/20 10:53:43</pubDate>
            <guid><![CDATA[Muốn phát triển phải có đội ngũ doanh nhân trí thức:327]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Doanh nhân Việt tắt ánh sáng của người khác để tỏa sáng?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=326]]></link>
            <description><![CDATA[Ngày trước người ta vẫn quen với lối suy nghĩ &quot; thương trường là chiến trường &quot; cho nên trong kinh doanh cần khôn ngoan hơn đối thủ, giành giật thị phần phải quyết liệt , khuếch trương hàng hóa phải rầm rộ và tinh vi đồng thời phải làm sao cố gắng giữ chân khách hàng, khống chế nhà cung cấp. Theo quan điểm đó, sẽ luôn có người thắng và kẻ bại. 
Thế nhưng trong thế giới hiện đại được đặc trưng bởi những mối tương tác ngày càng đa dạng, phong phú với sự lan truyền thông tin nhanh chóng và rộng khắp qua các kênh truyền thông đa phương tiện (multimedia) thì thực tế cuộc sống đang cho thấy một xu hướng mà nhà tài phiệt ngân hàng nổi tiếng của thế kỷ XX Bernard Baruch đã khắc họa một cách hình tượng là: &quot;không cần phải thổi tắt ánh sáng của người khác để mình tỏa sáng.&quot; (1) 
Có thể thấy là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành công khi những người khác thành công. Các doanh nghiệp phần cứng và phần mềm trong lĩnh vực tin học là một ví dụ sinh động. Phần cứng chạy nhanh hơn khuyến khích người sử dụng nâng cấp các phần mềm mạnh hơn và các phần mềm mạnh hơn là động cơ thúc đẩy người sử dụng mua các phần cứng chạy nhanh hơn. 
Nhiều lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm tưởng như hoàn toàn khác biệt nhưng thực tế lại có liên hệ với nhau vô cùng khăng khít như dân gian thường nói là &quot;cùng hội cùng thuyền&quot; cho nên cùng vận hành theo lối &quot;nước nổi thì bèo nổi&quot;.  
Số lượng xe hơi bán ra tăng dẫn tới việc dịch vụ tín dụng của ngân hàng, bảo hiểm phát đạt và các con đường cao tốc, các khu đô thị cách xa trung tâm thành phố cũng theo đó mà có cơ phát triển... Tình huống này được gọi là &quot;cùng thắng&quot; ( win- win ). Vậy thì phải chăng kinh doanh giờ đây chỉ còn là hợp tác và hòa bình? 
Câu trả lời xác thực là: không hẳn như vậy, ngày nay kinh doanh là sự hợp tác khi cần tạo ra chiếc bánh (càng to hơn càng tốt!) và sẽ là cạnh tranh khi đến lúc chia phần chiếc bánh đó. 
Tóm lại, kinh doanh vừa là cạnh tranh vừa là hợp tác trong cùng một thời điểm do vậy mà nó mang tính năng động và bao quát, hệ thống hơn trước kia rất nhiều, khi mà các doanh nghiệp còn tư duy tách rời hai cụm từ &quot;cạnh tranh&quot; và &quot;hợp tác&quot;. 
Tính hai mặt đó của kinh doanh gợi nhớ tới triết lý truyền thống của người phương Đông là &quot;trong Dương có Âm, trong Âm có Dương&quot; và &quot;Ngũ hành tương sinh tương khắc&quot;. (Không phải ngẫu nhiên người Hoa giỏi kinh doanh, bởi lẽ họ đã có được truyền thống hàng ngàn năm trong việc &quot;cạnh tranh, hợp tác&quot; theo triết lý Âm - Dương, Ngũ hành (2) và là hậu duệ của thương gia nổi tiếng - Lã Bất Vi, cha đẻ ra Tần Thủy Hoàng). 
Người Việt ta đi sau trong kinh doanh nên không tránh khỏi những bỡ ngỡ, va vấp phải trả giá cho những yếu kém và ngộ nhận của mình. Bên cạnh tính năng động, nhạy bén, cần cù, chăm chỉ chịu khó và khát khao vươn lên làm giàu là những nhược điểm &quot;chết người&quot; như thiếu tính hợp tác lâu dài, kém tầm nhìn xa, dễ thỏa mãn trước thành công và thiếu bản lĩnh đi tiên phong lãnh đạo thiên hạ (nhưng lại rất hài lòng làm kẻ bắt chước!)... 
Có một con đường thiết nghĩ sẽ là rất hữu ích trong việc rút ngắn khoảng cách giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế, góp phần củng cố năng lực kinh doanh và trang bị tư duy mới &quot;cùng thắng&quot; (win-win) cho các doanh nhân ngày nay đó là Lý thuyết Trò chơi trong kinh doanh. 
Ra đời từ nhu cầu phục vụ quân sự trong Thế chiến lần thứ II khi lực lượng hải quân Anh chơi trò mèo vờn chuột với các tàu ngầm của phát xít Đức, các nhà khoa học Anh đã khám phá ra rằng những bước đi đúng hóa ra không phải là những gì hoa tiêu và thuyền trưởng vẫn làm dựa vào trực giác và kinh nghiệm của mình. Bằng cách áp dụng những khái niệm về sau được biết đến như lý thuyết trò chơi, người Anh đã cải thiện thành tích bắn trúng tầu ngầm Đức một cách đáng kể. 
Sau này lý thuyết đó đã được phát triển để ứng dụng cho nhiều hoạt động, trong đó có kinh doanh. Vào năm 1944 khi nhà toán học thiên tài John von Neumann và nhà kinh tế Oscar Morgenstern xuất bản cuốn sách tựa đề Lý thuyết trò chơi và hành vi kinh tế thì ngay lập tức công trình khoa học này đã được tiên đoán sẽ trở thành một trong những thành tựu vĩ đại nhất của thế kỷ. Năm 1994, ba nhà tiên phong trong lý thuyết trò chơi là John Nash, John Harsanyi và Reihart Selten đã được nhận giải Nobel (1).  
Có thể nói, lý thuyết trò chơi có khả năng làm biến chuyển hoàn toàn cách suy nghĩ của mọi người về kinh doanh từ trước tới nay. Nó cho phép nhìn toàn cục việc kinh doanh với những mối tương tác qua lại lẫn nhau trong khi không một quyết định nào có thể được đưa ra hoàn toàn độc lập với các quyết định khác. 
Qua lăng kính của lý thuyết trò chơi người kinh doanh sẽ thấy rõ hơn &quot;giá trị gia tăng&quot; của việc hợp tác thay vì &quot;quyết chiến, đấu đầu&quot; hay gợi mở ra những phương án lựa chọn mà nếu không có lý thuyết đó thì sẽ bỏ lỡ những cơ hội quý giá. Tầm nhìn chiến lược của nhà kinh doanh chắc chắn sẽ dài hơn, linh hoạt hơn và hành động sẽ uyển chuyển hơn một khi được trang bị lối tư duy mới mẻ này. 
Những nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô sẽ có một công cụ hiệu quả để đánh giá phản ứng của xã hội trước các quyết định của mình, bên cạnh việc lắng nghe và thu thập một cách dân chủ những phản biện từ mọi phía. Người ta có thể lường trước được hiệu ứng dây chuyền khi cấm bán hàng rong ở các thành phố lớn hay cấm người có ngực lép đi xe máy, liên tục tăng giá xăng, giá điện hay tăng thuế chuyển nhượng bất động sản.v.v ... 
Trong quan hệ hội nhập quốc tế cũng giống như một trò chơi có nhiều người tham gia nếu chúng ta hiểu rõ &quot;cái giá thực sự của mình&quot; thì sẽ biết cách củng cố và gia tăng vị thế mà vẫn giữ được tư thế &quot;ngẩng cao đầu&quot; trước những đối tác khổng lồ, lắm mưu đồ tham lam. 
Ngẫm nghĩ lại mới thấy câu nói của Các Mác cách đây gần một thế kỷ đại ý: &quot;khoa học đạt đến trình độ phát triển cao khi nó biết ứng dụng Toán học&quot; là xác đáng. T.S Phạm Gia Minh 
(1). A.M.BRANDENBURGER và B.J. NALEBUFF. Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh. NXB Tri Thức. 2007 
(2). RAYMOND LO. Nhà quản lý ứng dụng Phong thủy &amp; Số mệnh. Người dịch Phạm Gia Minh. NXB Tri thức 2008. 
 Theo http://tuanvietnam.net-]]></description>
            <pubDate>2009/11/20 10:49:10</pubDate>
            <guid><![CDATA[Doanh nhân Việt tắt ánh sáng của người khác để tỏa sáng?:326]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Muốn thành công phải biết liều]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=321]]></link>
            <description><![CDATA[Muốn bắt đầu sự nghiệp kinh doanh của riêng mình nhưng chần chừ, chờ đợi cho đến khi đủ điều kiện để thực hiện ý tưởng, nhiều người đã để cơ hội tuột mất khỏi tầm tay. 
Không lâu sau Chiến tranh Thế giới II, người đàn ông nọ nhận được một công việc trong Phòng Hải quan của Cục Bưu chính Mỹ. Lúc đầu anh rất đam mê công việc của mình. Nhưng 5 năm sau, anh bắt đầu cảm thấy bất mãn với sự tù túng, với giờ giấc đều đặn, mức lương thấp và cơ chế thăng chức dựa trên thâm niên khiến cho cơ hội được thăng tiến trở nên hiếm hoi. 
Rồi anh nảy ra một sáng kiến. Trong quá trình làm việc, anh đã thu nhận được nhiều kinh nghiệm để có thể trở thành một nhà nhập khẩu thành công. Tại sao anh lại không tự gây dựng một công ty chuyên nhập khẩu quà tặng và đồ chơi giá rẻ nhỉ? Anh biết có nhiều nhà nhập khẩu, dù rất thành công, nhưng chẳng hiểu cặn kẽ công việc kinh doanh này như anh. 
Đã mười năm trôi qua kể từ khi nảy ra ý tưởng mở một công ty riêng, cho đến nay anh vẫn chỉ là nhân viên của Phòng Hải quan. 
Tại sao vậy? Rất đơn giản. Cứ mỗi lần anh chuẩn bị thực hiện thì lại có một điều gì đó xảy ra, ngăn không cho anh hành động. Thiếu tiền, khủng hoảng kinh tế, có con, lo lắng về sự thiếu ổn định, rủi ro trong tương lai, các rào cản thương mại, và vô vàn những lý do khác nữa được anh đưa ra làm lý do cho sự trì hoãn, chần chừ của mình. 
Anh đã tự làm cho mình trở thành một người thụ động. Anh ta muốn mọi thứ phải thật hoàn hảo, trước khi bắt tay vào hành động. Vì mọi thứ chưa bao giờ hoàn hảo nên anh cũng chưa bao giờ hành động. 
Dưới đây là hai điều mà các bạn nên làm để tránh mắc phải sai lầm to lớn là do dự, nán đợi mọi điều kiện trở nên hoàn hảo mới dám bắt tay vào việc: 
1. Sẵn sàng đón nhận những trở ngại và khó khăn trước mắt: 
Bất cứ công việc nào cũng bao hàm những rủi ro, bất trắc. Thử tưởng tượng, bạn muốn lái xe từ Chicago đến Los Angeles, nhưng vì lo lắng nên bạn cứ ngần ngại, chờ cho đến lúc không có bất cứ bất trắc gì xảy ra trên đường đi: không đi nhầm đường, xe không bị hỏng, thời tiết đẹp, không gặp những gã lái xe xay xỉn… 
Nói tóm lại là không gặp bất cứ rủi ro nào. Bạn hãy nghĩ xem, nếu cứ e ngại như vậy thì bao giờ bạn mới có thể lên đường? Chắc chắn là không bao giờ. Đương nhiên, trước khi chuẩn bị cho chuyến đi, bạn sẽ phải lên kế hoạch thật rõ ràng, kiểm tra cẩn thận chiếc xe và hàng loạt công việc khác nữa để giảm thiểu rủi ro. Nhưng bạn sẽ không thể loại bỏ được hoàn toàn các rủi ro. 
2. Sẵn sàng vượt qua khó khăn, trở ngại khi chúng xuất hiện: 
Thước đo sự thành công của một con người không nằm ở khả năng loại bỏ các vấn đề bất trắc trước khi hành động, mà là khả năng tìm ra giải pháp khi gặp khó khăn. Dù trong công việc hay cuộc sống gia đình, bạn không nên lo lắng thái quá; khi gặp khó khăn bất cứ lúc nào, bạn hãy tìm ra cách giải quyết tương xứng, kịp thời. 
Chúng ta không thể mua bảo hiểm cho mọi vấn đề trong cuộc sống. Đừng chần chừ, mỗi khi xuất hiện bất cứ ý tưởng nào trong đầu, hãy nhanh chóng hành động, biến ý tưởng đó thành hiện thực. 
Khoảng 5, 6 năm trước, một người bạn giáo sư tài năng của tôi kể cho tôi nghe về dự định viết một cuốn tiểu sử về một nhân vật nổi tiếng của vài thập niên trước. Những ý tưởng của anh ấy “trên cả tuyệt vời”, sống động và thú vị. Vị giáo sư đó biết rõ mình muốn viết gì, ông ấy thừa kỹ năng và khả năng để hoàn thành. Kế hoạch đó chắc chắn mang lại cho ông ấy danh tiếng, tiền bạc và quan trọng nhất là ông sẽ tìm được sự mãn nguyện với bản thân mình. 
Mùa xuân năm ngoái tôi gặp lại ông, tôi vô tình hỏi xem ông ấy đã hoàn thành cuốn sách chưa (đó là một sai lầm của tôi, vì tôi đã khơi lại vết thương lòng của ông ấy). Chưa, ông ấy chưa hề bắt tay vào viết cuốn sách. Dường như ông ấy phải đấu tranh với bản thân rất lâu để nghĩ xem nên giải thích việc đó thế nào. Cuối cùng, ông nói vì quá bận và còn quá nhiều “trách nhiệm” khác phải hoàn thành nên vẫn chưa thể bắt đầu được. 
Trong thực tế, những gì mà ông bạn tôi làm chỉ là chôn chặt ý tưởng của mình trong đầu. Ông đã để cho những suy nghĩ tiêu cực được dịp tác động. Ông bạn nhận ra rằng: muốn hoàn thành cuốn sách, ông hẳn phải làm việc rất cật lực, thậm chí phải hy sinh rất nhiều thứ. Trong thâm tâm, ông ấy thừa hiểu vì sao kế hoạch đó không thể thành công được. 
Ý tưởng là rất quan trọng. Rõ ràng như thế. Để sáng tạo và phát triển bất cứ điều gì, chúng ta cần phải có ý tưởng. Thành công sẽ không đến với những ai chẳng có ý tưởng gì. 
Nhưng bạn cũng đừng quên một điều, chỉ ý tưởng thôi chưa đủ. Ý tưởng nhằm làm tăng lợi nhuận hay đơn giản hóa các thủ tục hành chính chỉ thật sự có giá trị khi biến thành sự thực. Hàng ngày, có hàng nghìn người tự chôn vùi những ý tưởng có giá trị vì họ sợ phải hành động. Rốt cuộc, bóng ma của những ý tưởng ấy cứ lởn vởn, ám ảnh mãi trong tâm trí họ. 
Hãy ghi nhớ thật kỹ hai điều sau đây: 
Thứ nhất, hãy khiến những ý tưởng của bạn trở nên có giá trị bằng cách biến chúng thành sự thật. Dù cho ý tưởng của bạn có xuất sắc đến đâu, nhưng nếu bạn không hành động, bạn sẽ không đạt được gì cả. 
Thứ hai, biến ý tưởng của bạn thành hiện thực và đạt được sự mãn nguyện cho bản thân mình. Nhiều người nói rằng, cụm từ đáng chán nhất là cụm từ bắt đầu bằng “Giá mà…”. Hàng ngày bạn có thể nghe ai đó nói những câu đại loại như: “Nếu bảy năm trước tôi bắt đầu kinh doanh, giờ đây chắc hẳn tôi đã thành công lắm rồi”, hoặc “Tôi đã linh cảm mọi việc sẽ xảy ra như vậy mà. Giá mà tôi đã làm gì đó”. Khi không thể biến một ý tưởng hấp dẫn trở thành hiện thực, bạn sẽ cảm thấy thất vọng và buồn bã. Nhưng một khi ý tưởng trở thành hiện thực, bạn sẽ cảm thấy mãn nguyện và hạnh phúc tràn trề. 
Hãy dùng hành động để xóa bỏ nỗi sợ hãi và bồi đắp sự tự tin. Hãy ghi nhớ điều dưới đây. Hành động sẽ giúp ươm mầm, nuôi dưỡng và phát triển lòng tự tin trong bạn; ngồi lì một chỗ sẽ khiến nỗi sợ hãi lớn lên. Để chống lại nỗi sợ hãi, hãy hành động. Muốn tăng thêm sự sợ hãi, cứ chờ đợi và trì hoãn. 
Một lần, tôi được một huấn luyện viên nhảy dù giải thích: “Thực ra việc nhảy dù không hề khó khăn. Chính thời khắc chờ đợi để nhảy xuống mới khiến người ta sợ hãi. Trên đường đến địa điểm nhảy dù, tôi luôn làm mọi cách để giúp các anh học viên của tôi cảm thấy thời gian trôi nhanh hơn. Rất nhiều học viên vì nghĩ ngợi quá nhiều về những gì sẽ xảy ra nên đã tỏ ra hoảng sợ, lo lắng. Nếu chúng tôi không thể giúp họ vượt qua sự e ngại, họ sẽ không tài nào trở thành lính nhảy dù được. Càng trì hoãn nhảy xuống bao nhiêu, họ càng sợ hãi bấy nhiêu”. 
Ngay cả đối với các chuyên gia, việc chờ đợi cũng khiến họ trở nên lo lắng, bồn chồn. Theo tạp chí Time thì Edward R. Murrow, phát thanh viên hàng đầu quốc gia, thường lo lắng đến vã mồ hôi, thậm chí cáu gắt trước mỗi lần ghi hình. Nhưng chỉ cần bắt đầu bấm máy, mọi nỗi sợ hãi của anh ấy tự động biến mất. Rất nhiều diễn viên kỳ cựu cũng trải qua cảm giác tương tự. Họ đều bảo: phương thuốc duy nhất giúp chữa khỏi căn bệnh sợ sân khấu là bước ra diễn. Sự ấm áp của khán phòng là phương thuốc chống lại nỗi sợ và lo lắng. 
Rất nhiều bác sĩ sử dụng những viên thuốc trung tính, vô hại cho những bệnh nhân cứ khăng khăng phải uống một liều thuốc gì đó để có thể ngủ được. Với rất nhiều người, chỉ cần uống một viên thuốc (dù họ không hề biết rằng viên thuốc đó thực ra chỉ là giả dược nên chẳng có tác dụng gì) là họ cảm thấy an tâm hơn nhiều. 
Sợ hãi một điều gì đó là một cảm giác hoàn toàn tự nhiên. Nhưng có không ít cách chúng ta thường sử dụng để xóa tan nỗi sợ thực ra lại chẳng có tác dụng gì. Tôi đã từng chứng kiến rất nhiều nhân viên bán hàng, kể cả nhân viên kinh nghiệm nhất, cố xua tan nỗi sợ của họ bằng cách đi vòng quanh phòng nhiều lần hoặc uống thêm cà phê, nhưng những cách đó không đem lại kết quả gì. Cách duy nhất để chống lại nỗi sợ hãi – vâng, bất cứ nỗi sợ hãi nào – là hành động. 
Bạn ngần ngại phải gọi một cuộc điện thoại cho một khách hàng mới? Cứ gọi và nỗi sợ sẽ tan biến. Càng trì hoãn, bạn sẽ càng thấy khó khăn hơn. 
Bạn sợ phải đến bác sĩ kiểm tra sức khỏe? Cứ đi và sự lo lắng sẽ nhanh chóng biến mất. Rất có thể chẳng có gì nghiêm trọng xảy ra với bạn cả, mà nếu có, bạn sẽ biết được bệnh tình nghiêm trọng đến mức nào. Nếu bạn cứ trì hoãn không đi kiểm tra, bạn sẽ cảm thấy lo lắng cho đến khi nỗi sợ đó lớn đến mức làm cho bạn ngã bệnh thật sự. 
Bạn sợ phải thảo luận một vấn đề với cấp trên? Hãy cứ đến gặp sếp của bạn và bàn bạc, rồi bạn sẽ thấy mọi vấn đề được giải quyết dễ dàng như thế nào. 
Hãy xây dựng lòng tự tin và xóa tan sự sợ hãi bằng hành động. 
(Trích cuốn sách “Dám nghĩ lớn” do Công ty First News phát hành)
Theo http://www.doanhnhannoitieng.co.tv]]></description>
            <pubDate>2009/11/20 10:35:35</pubDate>
            <guid><![CDATA[Muốn thành công phải biết liều:321]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Thiếu tầm nhìn khó giàu]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=320]]></link>
            <description><![CDATA[Năm 1973, Gary Kildall viết hệ điều hành phần mềm cho máy tính cá nhân có tên là CP/M. Năm 1980, IBM bắt đầu hướng đến việc phát triển máy tính cá nhân vì họ thấy được một thị trường tiềm năng trong lĩnh vực này. 
Ngay sau đó, IBM tiếp cận Kildall với ý muốn sử dụng sản phẩm của ông như một phần cốt lõi trong sản phẩm mới của họ. Tuy vậy, Kildall không mấy nhiệt tình với ý tưởng này. Huyền thoại của Thung lũng Silicon nói rằng anh thà bay trên chiếc phi cơ mới của mình và rơi xuống còn hơn là ngồi chung thuyền với IBM. 
Nản lòng trước thái độ bất hợp tác của Kildall, IBM đã chuyển hướng sang hệ thống phần mềm khác - họ tìm đến Bill Gates, người đồng sáng lập ra một công ty nhỏ có tên là Microsoft cùng với Paul Allen. Gates đã tạo ra hệ điều hành MS-DOS (thật ra nó được viết dựa trên một phần của CP/M). Và sau cùng, Gates đã đặt bút ký kết thỏa thuận, cho phép IBM cài đặt phần mềm của Gates trong các máy tính cá nhân của IBM, và sau đó hệ điều hành hiện diện trong 95% máy tính cá nhân trên toàn thế giới. 
Trước khi Internet thực sự bùng nổ vào năm 2000, Bill Gates đã là người giàu nhất thế giới (1996 - 2007) với tài sản lên đến hàng chục tỷ đôla. Hiện nay Gates đã rút lui khỏi Microsoft và dốc sức vào các hoạt động từ thiện nhưng ông vẫn được xem là huyền thoại trong lĩnh vực phần mềm máy vi tính. Còn Gary Kildall mất vào năm 1994. Ông được xem là một trong những nhà lập trình máy tính tài ba nhất thế giới nhưng lại là một người không đủ tầm nhìn về tương lai để có những bước đi chính xác trong hiện tại. 
Dĩ nhiên, Gary Kildall không phải là người duy nhất không có tầm nhìn đó. Theo tạp chí American Scientist, Thomas J. Watson Sr., người sáng lập IBM, nói rằng: “Tôi nghĩ ở thời điểm này (1943) nhu cầu máy tính trên toàn thế giới có lẽ chỉ cần khoảng 5 máy là đủ”. Vào năm 1951, Douglas Hartree, một nhà toán học xuất sắc tại Đại học Cambridge , đã tạo ra chiếc máy phân tích vi phân đầu tiên (tiền thân của loại máy tính hiện đại) ở Anh. Nhưng ông cho rằng không một ai cần dùng những chiếc máy này cho công việc của họ hoặc có thể có đủ tiền để mua chúng. Nếu cả Thomas lẫn Douglas có tầm nhìn như Bill Gates, rất có thể họ mới chính là những người đã tạo nên lịch sử trong lĩnh vực công nghệ thông tin. 
Nhà bán hàng bậc thầy Mỹ - Zig Ziglar tâm sự: &quot;Tôi đang nói với bạn về những điều tốt đẹp trong hiện tại để làm nền tảng vững chắc cho tương lai. Khi tôi viết quyển sách này, tôi đã ở vào tuổi bát tuần, đã trải bao thăng trầm và nếm nhiều đắng cay ngọt bùi của cuộc đời. Giờ đây, tôi muốn chia sẻ những kinh nghiệm quý báu mà tôi đã chắt lọc trong suốt vài chục năm qua để giúp bạn sống một đời viên mãn. Đó chính là lý do tôi thấy mình có đủ tư cách trở thành tiếng nói từ tương lai của bạn, chia sẻ với bạn những điều tôi biết, những tinh hoa của cuộc đời. 
Tôi không dám nói rằng cuộc sống của mình đã viên mãn nhưng tôi dám chắc là mình hiểu được cuộc sống viên mãn là như thế nào, cách thức vươn đến ra sao. Và tôi thực sự rất muốn chia sẻ, nhắc nhở và thúc đẩy tất cả các bạn hướng về phía trước. Tôi tin rằng nếu bạn thực hành những điều tôi vừa trình bày với bạn, tương lai của bạn sẽ khác biệt hoàn toàn - thành công hơn, hạnh phúc hơn, viên mãn hơn! Bạn sẽ có một tầm nhìn đúng đắn về tương lai để nắm chắc vận hội của mình, để có một nền tảng vững chắc ngay hôm nay và có thể thụ hưởng thành quả ở ngày mai. 
Nhiều người thường hỏi tôi rằng họ sẽ thay đổi điều gì trong cuộc sống của mình nếu họ được quay trở lại thời thanh niên. Tôi xin phép được mượn câu trả lời của một người phụ nữ mà tôi đã gặp cách đây nhiều năm - cô ấy bảo rằng mình sẽ không thay đổi bất kỳ điều gì cả, vì nếu thay đổi, cô ấy có thể sẽ không ở nơi mà cô ấy đang đứng bây giờ, nơi mà cô ấy yêu thích nhất. Đó cũng là điều mà tôi tâm niệm với tư cách là người phát ngôn cho tương lai của bạn - nếu bạn yêu cuộc sống với tất cả trái tim, tâm hồn và lý trí, thì cuộc sống này sẽ đáp lại bạn bằng những điều tốt đẹp như thế. 
Sự viên mãn không thể có được khi ta chỉ gắng sức vun vén cho riêng mình. Có nghĩa là, một khi bạn giúp người khác đạt được ý nguyện và hạnh phúc thì bạn sẽ nhận được sự mãn nguyện và hạnh phúc. Và khi tôi xem đó như là sứ mệnh của đời mình, tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc trong việc động viên và thúc đẩy người khác khám phá ra mục đích sống thực sự của họ để sống có ý nghĩa và để lại di sản cho đời sau. 
Chính vì xem đó như là sứ mệnh của đời mình nên tôi đã dồn mọi tâm sức, nhiệt huyết, niềm đam mê để thực hiện. Bất kể bạn làm nghề gì thì tất cả những gì bạn cần phải làm là tìm thấy mục đích sống của mình, nỗ lực thực hiện nó và trải nghiệm một cuộc sống trên cả tuyệt vời. Đó là một cuộc hành trình kéo dài đến suốt đời, một con đường thiên lý, một cuộc sống vĩnh hằng. 
Tiến sĩ Tony Campolo cho rằng quá khứ của chúng ta rất quan trọng vì nó mang ta đến nơi mà ta đang đứng hôm nay. Quá khứ quan trọng là thế, nhưng nó gần như không quan trọng bằng cách mà bạn nhìn vào tương lai của mình, vì việc bạn nhìn vào tương lai sẽ xác định suy nghĩ của bạn ngày hôm nay. Và để có một tương lai xán lạn, bạn cần phải bắt đầu ngay từ hôm nay, ngay từ lúc bạn mở ra một chương mới trong cuộc đời mình. 
Tôi còn nhớ có một hôm vào những năm đầu khi tôi mới bước vào nghề diễn thuyết, tôi đến diễn thuyết thay cho Tiến sĩ Norman Vincent Peale vì ông ấy bị ốm. Những người có mặt hiển nhiên đã rất thất vọng vì họ phải lắng nghe một kẻ vô danh như tôi thay vì Tiến sĩ Peale nổi tiếng của họ. Dù vậy, tôi vẫn không cảm thấy áp lực đè nặng mà cố gắng thể hiện hết khả năng của mình. Sau buổi diễn thuyết, một người phụ nữ đứng tuổi tiến lại gần tôi và hỏi về vật thay thế mà tôi có đề cập trong bài thuyết trình của mình. Thay vì giải thích cho bà về điều này, tôi đã kể cho bà nghe một câu chuyện ngắn. 
Câu chuyện của tôi quay ngược thời gian vào lúc tôi còn là một cậu bé hiếu động, thích chơi bóng trong giờ giải lao ở trường tiểu học. Lúc đó, một cậu bạn cùng lớp không may đá quả bóng vào cửa sổ làm vỡ một ô cửa kính. Cô giáo của chúng tôi đã phải cắt một mảnh giấy cứng để lấp vào ô kính đó. Vì thế, tôi bảo với bà ấy rằng tôi giống như một tấm kính thay thế cho Tiến sĩ Peale. Với thiện ý và sự mãn nguyện hiển hiện trên gương mặt, bà hồ hởi đáp: “Vậy thì, ông Ziglar ạ, tôi không nghĩ ông là một tấm giấy cứng thay thế đâu. Tôi nghĩ ông thật sự là ‘một tấm kính có thật’”. 
Những lời nói của bà dẫu rất hình tượng, nhưng tôi vẫn nghĩ về nó trong sự liên hệ với sứ mệnh đời mình. Thực sự, tôi muốn làm một điều gì đó có ý nghĩa để bạn soi rọi và hướng đến một tương lai tươi sáng, một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế, tôi muốn đến gần bạn hơn - tôi đến từ tương lai của bạn để khuyến khích bạn, van nài bạn hãy nhận lấy món quà hào phóng mà cuộc sống đã ban cho chúng ta. Đó là tình yêu thương, là lòng bác ái. Một khi bạn nhận được món quà vô giá này, bạn cảm thấy như có một động lực phi thường để hoàn thành những công việc hằng ngày, tìm thấy và vươn đến mục đích cuộc đời; bạn cảm thấy yêu thương những người xung quanh như yêu chính bản thân mình. 
Hôm nay, tôi muốn nói với bạn rằng tương lai của bạn sẽ rất tuyệt vời nếu bạn bước vào đó ngay từ giây phút này để giao hòa với mọi người, với cuộc sống. Đừng để lỗ hổng trong tâm hồn bạn ngày càng mở rộng. Hãy lấp đầy nó bằng lòng yêu thương và tình nhân ái để sống một cuộc sống mà bạn hằng mơ ước. 
Chúc các bạn sớm đạt đến một cuộc sống “Trên cả tuyệt vời”. 
(Trích cuốn sách &quot;Vươn tới sự hoàn thiện&quot; do Công ty First News phát hành. 
Theo http://vnexpress.net]]></description>
            <pubDate>2009/11/20 10:33:55</pubDate>
            <guid><![CDATA[Thiếu tầm nhìn khó giàu:320]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Tôi lo lắng về lạm phát]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=319]]></link>
            <description><![CDATA[Phát biểu trong Hội thảo Giải pháp tài chính tiền tệ trong thời kỳ suy giảm, nguyên Phó thủ tướng đã nhấn mạnh 5 nhân tố có thể khiến lạm phát tăng cao trở lại trong năm nay.
Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan nhắc đến câu chuyện lạm phát như một vấn đề tất yếu phải giải quyết nếu muốn ổn định kinh tế: &quot;Tôi là một trong những người cũng quan tâm, lo lắng về vấn đề lạm phát. Tôi có cảm giác là chính phủ cũng nhận ra điều này. Trong báo cáo cho Quốc hội đã có nói đến. Tôi không bình luận về các chỉ số nhưng nguy cơ lạm phát là có thật&quot;.
Ông đưa ra 5 nhân tố có thể đè nặng lên nguy cơ lạm phát trong năm nay:
Nhân tố thứ nhất là bội chi ngân sách quá lớn. So với năm 2008, khi lạm phát được coi là kỷ lục, cao hơn 20% thì bội chi ngân sách cũng chỉ ở mức hơn 5%. Như vậy, số liệu được Chính phủ công bố cho năm nay là 6,9% là một con số đáng suy nghĩ và không thể không tính đến trong các kế hoạch bình ổn kinh tế.






Nguyên Phó thủ tướng cho rằng lạm phát có thể triệt tiêu nỗ lực phục hồi kinh tế. Ảnh: N.M
Nhân tố thứ hai là việc tăng trưởng tín dụng ở mức rất cao, cũng không thể coi thường. Hiện tại, mọi người đang nói đến con số 33,29%. Nhưng đến cuối năm con số đó là bao nhiêu? Tuy nhiên, chỉ riêng chủ số tín dụng thôi thì chưa đủ, cần kết hợp với nhiều yếu tố khác, trong đó có tổng mức tăng phát hành tiền của năm 2009. Con số này, theo ông Vũ Khoan, chỉ có các ngân hàng mới biết.
Nhân tố thứ ba là nhập siêu trong năm 2009 cũng đang có chiều hướng tăng cao trở lại trong khi xuất khẩu lại có dấu hiệu giảm. Con số nhập siêu chắc chắn sẽ phải tăng cao trong năm 2010 nếu Việt Nam muốn đưa tốc độ tăng trưởng lên mức 6,5%. Chính phủ đã nhìn thấy dấu hiệu ngay từ bây giờ và nhất thiết phải cẩn trọng.
Nhân tố thứ tư, theo nguyên Phó thủ tướng, là mặt bằng giá thế giới đang có dấu hiệu tăng trở lại. Việt Nam không thể không tính đến điều này do nền kinh tế hiện đã quá phụ thuộc vào thế giới, lượng nhập khẩu lại rất lớn.
Cuối cùng, ngay một số biện pháp được thực hiện trong nội tại nền kinh tế cũng là nhân tố thúc đẩy quá trình tăng giá, chẳng hạn như quyết định tăng lương cơ bản vào lúc này.
&quot;Tôi đang nói với tư cách một người dân. Những cán bộ nghỉ hưu như tôi bây giờ, nếu có được tăng lương, được thêm mấy chục nghìn thì cũng thấy mừng. Nhưng tăng lương vào thời điểm này sẽ làm này sinh hai vấn đề: Một là sẽ tăng lực đẩy cho lạm phát. Hai là tôi không biết liệu điều này có triệt tiêu những nỗ lực kích thích kinh tế hay không? Cộng thêm những yếu tố khác như việc tăng giá điện, nước, than... sẽ cùng được thực hiện trong năm 2010. Tôi thấy không thể không cảnh giác với tình hình này&quot;, ông Vũ Khoan nói.
&quot;Tôi thấy mừng vì thấy trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội cũng có quan tâm đến vấn đề này. Còn việc đưa ra chỉ tiêu cụ thể cho năm tới, tôi không muốn tranh luận vì không có được những con số cụ thể để làm căn cứ tính toán&quot;, ông chia sẻ.
Theo nguyên Phó thủ tướng, để hạn chế nguy cơ lạm phát tăng cao, nhất thiết phải kìm giữ một số điểm mất cân đối trong nền kinh tế, mà trước hết là ngân sách. Tỷ lệ bội chi ngân sách hiện đã được xác định là còn khá cao. Phải tiếp tục phấn đấu giảm. Bên cạnh đó, cần kiểm soát chặt một số yếu tố như tín dụng, phát hành tiền và nhập siêu sao cho không quá lớn. Cuối cùng, nên tính toán thật kỹ những tác động nội tại trong nền kinh tế (lương, giá cả) để có điều chỉnh thích hợp.
&quot;Tôi nghĩ nếu kiểm soát được những vấn đề đó thì làm phát cũng không ở mức quá nghiêm trọng&quot;, ông Vũ Khoan nói.
Nhật Minh
Theo http://vnexpress.net]]></description>
            <pubDate>2009/11/20 09:23:10</pubDate>
            <guid><![CDATA[Tôi lo lắng về lạm phát:319]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Việt Nam cần các tư tưởng Khai sáng?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/anhbd/article?mid=318]]></link>
            <description><![CDATA[Lịch sử loài người đã trải qua hàng ngàn năm, khi con người sinh ra từ thuở sơ khai hoang dã, sau nhiều bước chuyển về thể chất lẫn tinh thần, đã bước dần từ nơi u tối đến ánh sáng văn minh.
Lịch sử loài người đã trải qua hàng ngàn năm, với những cuộc đấu tranh để sinh tồn, hay những cuộc đấu tranh khởi nguồn từ sự khác biệt về sắc tộc hay tôn giáo...
Lịch sử loài người cũng đã trải qua hàng ngàn năm, để đúc kết ra được những chân lý, hay những giá trị phổ quát hiện hữu như những chân giá trị mà nhờ đó, loài người đã tiến bộ như ngày hôm nay.
Trong những bước đường đưa nhân loại tới nền văn minh hiện tại, một trong những cột mốc quan trọng là phong trào khai sáng bắt nguồn từ Âu châu, mà khởi đầu tại Anh quốc vào cuối thế kỷ 17, và tiếp sau tại Pháp, Mỹ và Nhật Bản vào các thế kỷ 18, 19.
Phương châm khai sáng
Kỷ nguyên Khai sáng (Enlightenment) ở Âu châu tuy đã bắt đầu từ cuối thế kỷ 17, nhưng phải chừng một thế kỷ sau, khi tác phẩm “Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì?” (1784) của Immanuel Kant ra đời, danh từ này mới trở thành một thuật ngữ có chỗ đứng hẳn hoi trong ngôn ngữ triết học và lịch sử tư tưởng. (1)
“Khai sáng”, theo định nghĩa của Kant, “là sự thoát ra của con người khỏi tình trạng chưa trưởng thành (nonage) do chính con người tự gây nên. Chưa trưởng thành vì không có khả năng sử dụng lý trí của mình mà không cần đến sự dẫn dắt của kẻ khác. Sự chưa trưởng thành này, nếu chính nguyên nhân không nằm ở sự thiếu lý trí mà ở sự thiếu quyết định và thiếu can đảm trong việc tự sử dụng lý tính của chính mình mà không cần sự dẫn dắt của kẻ khác, thì chính là lỗi do chính mình gây nên. Bởi vậy, “Hãy dám biết và hãy can đảm sử dụng lý trí của chính mình&#39; là phương châm của khai sáng”. (2)
Tuy đã diễn ra từ cách nay ba thế kỷ, nhưng phong trào khai sáng với những luận điểm của nó về căn bản vẫn còn giá trị cho đến hiện tại. Và ở những nơi nào đó trên thế giới, nó “vẫn tiếp tục lan tỏa nhằm đánh đổ thần quyền và chủ nghĩa phong kiến mông muội”... (3) Ba trong số tám luận điểm chính của khai sáng là những luận điểm cơ bản, được chân nhận, mà hầu như không cần phải bàn cãi: 

1. Lý trí chính là khả năng trung tâm của con người, nó không những giúp cho con người có khả năng suy nghĩ sáng suốt mà còn cả hành động một cách đúng đắn.2. Niềm tin phải được đón nhận bằng lý trí, không dựa trên quyền uy và chức sắc, tôn giáo, kinh nghiệm hay truyền thống.3. Tất cả mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm, tuyệt đối cá nhân, hoàn toàn bình đẳng xét về khía cạnh lý lẽ (so với các cá nhân khác hay nhà nước) và do đó phải được tạo cho sự bình đẳng trước luật pháp và quyền tự do cá nhân. (4)
Phong trào khai sáng Nhật Bản






Núi Phú Sĩ tượng trưng cho tâm hồn nước Nhật
Nhật Bản là một quốc gia Á Đông có một chính thể dân chủ từ khá sớm so với các nước Á Đông khác, và mau chóng đạt được sự giàu mạnh, một phần lớn là nhờ tư tưởng khai sáng có từ thời Minh Trị Duy tân, thời kỳ diễn ra những biến đổi lớn trong xã hội Nhật Bản, có vai trò như bước ngoặt cho sự biến chuyển đầy ngoạn mục.
Thời Minh Trị Duy tân bắt đầu từ năm 1868. Trước đó, Nhật Bản vẫn là một quốc gia phong kiến với nền nông nghiệp lạc hậu. Trong bối cảnh bị dồn ép phải mở cửa bởi các quốc gia Tây phương, thay vì bế quan tỏa cảng, Nhật Bản đã chọn con đường cải cách để bắt kịp với các quốc gia tiên tiến. Điều này đã khiến Nhật Bản tránh được nguy cơ trở thành một nước thuộc địa như nhiều quốc gia phong kiến khác. 
Chính phủ thời Minh Trị Duy tân lúc đó đã đưa ra các khẩu hiệu “Phú quốc cường binh” , “Quyết theo kịp phương Tây”, đã góp phần khiến người Nhật trở nên tích cực và nhiệt tâm với “văn minh khai hóa”. Và, với cách thức thâu dụng người tài, chính phủ Minh Trị đã tạo điều kiện thuận lợi cho những tinh hoa của đất nước được khai mở những nguồn sáng của văn minh.
Những học giả trong trào khai sáng tại Nhật Bản đã được tạo cơ hội đến các quốc gia Tây phương để học hỏi các kiến thức về kinh tế, thống kê, luật pháp, chính trị học, khoa học – kỹ thuật,... để sau đó, Nhật Bản tiến hành nhiều cuộc cải cách quan trọng trong nhiều lĩnh vực, khiến nước Nhật mau chóng trở thành một quốc gia hùng mạnh!
Phong trào Duy tân có sự đóng góp lớn của những trí thức trong chính quyền cũ (chính quyền Tokugawa trước thời Minh Trị) và hội trí thức Merokusha (Minh lục xã) – một hội trí thức với các tên tuổi lẫy lừng như Nishimura Shigeki, Nishi Amane, Fuzukawa Yukichi (5), đã góp phần to lớn vào sự chuyển biến tư tưởng của người dân Nhật Bản trong thời kỳ khai sáng.
Điểm qua một số thành quả mà Minh lục xã đã gây dựng là hàng loạt các tác phẩm, các cuốn tự truyện, các bài xã luận về hầu mọi chủ đề như kinh tế, chính trị, pháp luật, triết học, khoa học, tôn giáo, v.v... cùng với Minh lục tạp chí được sáng lập bởi Minh lục xã, đã tạo nên sự mới mẻ và sôi động cho các luận đàn tri thức ở Nhật Bản thời đó. 
Các tác phẩm điển hình cần kể đến: như cuốn “Khuyến học” của Fukuzawa (6), ngay lần in đầu tiên đã có số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu; tác phẩm dịch thuật “Bàn về tự do” của John Stuart Mill (7), được xuất bản lần đầu ở Anh năm 1859, đến năm 1868, đã được dịch ở Nhật Bản với 2 triệu bản phát hành, trong khi dân số Nhật Bản lúc đó khoảng 35 triệu người. Nhìn vào các con số ấy, có thể thấy tầm ảnh hưởng của các tác phẩm đó đối với người dân Nhật Bản thật rộng lớn! 
Coi trọng vai trò của dịch thuật là một điểm quan trọng của văn minh khai sáng. Nhiều tác phẩm dịch thuật ra đời lúc đó (“Bàn về tự do” là một ví dụ kể trên) đã góp phần không nhỏ giúp nâng cao tầm thức của người Nhật, và có vai trò to lớn trong việc đem lại những thành quả rực rỡ của Duy tân. Cuộc cách mạng Duy tân, sau chừng 30 năm, đã góp phần khiến Nhật Bản trỗi dậy ngang hàng với các quốc gia Âu, Mỹ! 
Trong số luận điểm của các học giả, có thể thấy nổi bật lên những tư tưởng tiến bộ của Nishi, khi đề nghị dùng mẫu tự La Tinh để biểu thị tiếng Nhật, của Tsuda khi chủ trương phải có tự do xuất bản, của Fukuzawa khi cho rằng chính phủ phải chia sẻ “quốc quyền” với dân chúng, hay như ý tưởng thành lập “dân tuyển nghị viện”, tức quốc hội ngày nay, của Itagaki. Nhiều luận điểm khi ấy đã được tranh luận sôi nổi trên Minh lục tạp chí.
Tuy các thành viên của Minh lục xã có nhiều ý kiến khác nhau về các vấn đề quan trọng được bàn thảo, song, “chính sự khác biệt cùng những cuộc thảo luận thẳng thắn trên Minh lục tạp chí đã đóng góp cho nguyên tắc tương đối trong việc hình thành tính đa dạng của tư duy.” (8) Ví dụ như: “Cuộc bàn cãi về vai trò của người trí thức đối với chính quyền giữa Fukuzawa, một học giả ở ngoài chính phủ, và Katô, đại diện cho những trí thức phục vụ trong chính quyền, đã đưa đến hai trào lưu học thuật ở nước Nhật cận và hiện đại. Với tư cách là người sáng lập trường Khánh Ứng Nghĩa thục (Keiô Gijuku), Fukuzawa được xem là người mở đầu cho truyền thống học thuật và trường ốc độc lập với chính phủ (shigaku, tư-học), tức private academy. Ngược lại, Katô, sau đó trở thành hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Đông kinh (1877), là cha đẻ của truyền thống học thuật và trường ốc do nhà nước thiết lập và nâng đỡ (kangaku, quan-học), tức official academy. Những thành quả này có thể xem là một đóng góp quan trọng của hội Meirokusha, bởi lẽ trước đó vì không có truyền thống tự do thảo luận nên người ta thường chụp mũ, đơn giản dán nhãn hiệu tà thuyết (kyotan bôsetsu, hư-đản vọng-thuyết) cho những ý kiến đối lập.” (9)
Phong trào khai sáng đã để lại những di sản vô giá của những trí tuệ biết bắt kịp thời đại, để Nhật Bản ngày nay được thừa hưởng và tiếp tục phát huy tinh thần của những trí tuệ ấy. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu với những thành trì cũ mòn trong tư duy, nhờ được dẫn dắt bởi những người mang sứ mạng khai sáng, quốc gia châu Á này đã vươn lên mạnh mẽ để sánh ngang tầm với các nước Tây phương.
Phong trào Duy tân Việt Nam






Phan Châu Trinh đã nhìn thấy được những nhược điểm cơ bản về văn hoá xã hội của Việt Nam so với phương Tây
Ngọn gió khai sáng từ Nhật Bản thổi qua Trung Hoa, khiến cho nhà cách mạng tân tiến tại nước này tạo nên một loạt các tác phẩm triết học trong bộ Tân thư, với những phản ánh về hiện thực đất nước và những phương án giải quyết các vấn nạn để đưa Trung Hoa đến con đường cải cách. Tiếp thu tinh thần khai sáng qua các Tân thư cùng các trước tác của Montesquieu, Rousseau, Voltaire,... Phan Châu Trinh đã nhìn thấy được những nhược điểm cơ bản về văn hoá xã hội của Việt Nam so với phương Tây, những lạc hậu và hủ hóa trong bộ máy cầm quyền phong kiến đã bám rễ từ lâu, là nguyên nhân khiến đất nước phải chịu thân phận thuộc địa. Nhận thức được điều đó, ông đã có sự chuyển biến về tư tưởng có ý nghĩa cách mạng trong công cuộc tìm đường cứu nước. 
Từ đó, Phan Châu Trinh sáng lập phong trào Duy tân với ba điểm chính: “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, trong đó, “dân trí” đóng vai trò quan trọng như chìa khóa để mở ra một thời đại mới, với những con người có tri thức mới, để từ đó, đất nước có khả năng giành được độc lập và trở nên cường thịnh. 
“Tri thức mới” trong quan niệm của ông, “đó là hiểu biết về dân quyền (ngày nay ta gọi là dân chủ), người dân biết rằng mình có quyền, biết rõ các quyền của mình trong xã hội, trong cuộc sống, trên đất nước, trước thế giới. Theo cách nói ngày nay, có thể ông cho rằng điều cơ bản để tạo nên sức mạnh lay trời chuyển đất là dân chủ về thông tin (“dân biết”), trao thông tin về những quyền của nhân dân cho chính nhân dân.” (10)







Phan Châu Trinh (1872-1926)
Ông là nhà cách mạng xã hội, có tư tưởng dân chủ đầu tiên, là nhà văn hóa, một nhân cách lớn.
Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ.
Đặc biệt hơn nữa, ông chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Ông coi dân chủ cấp bách hơn độc lập và coi việc dùng luật pháp, cai trị quy củ có thể quét sạch hủ bại phong kiến.
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ, noi theo ngày hôm nay...
&gt;&gt; Xem trang Tác giả...Thậm chí Phan Châu Trinh còn cho rằng “nếu có thoát khỏi tay ngoại bang, giành được độc lập, mà không có dân quyền, không có dân chủ, dân trí thấp, người dân không giác ngộ về quyền dân chủ của mình và sử dụng có hiệu quả quyền đó để làm chủ đất nước, xã hội, thì cũng là vô nghĩa, nhân dân không thể có hạnh phúc, đất nước không thể phát triển, và như vậy nền độc lập dân tộc cũng không thể vững chắc” (11)
Trong phong trào Duy tân, Phan Châu Trinh cùng Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đã lập nên một “bộ ba Quảng Nam”, đi đến nhiều miền đất nước, mở nhiều trường dạy học những tri thức mới. Vào năm 1908, hai năm sau khi được phát động, phong trào Duy tân đã lan rộng khắp cả nước, tạo nên sự kiện “Trung Kỳ dân biến”, mà sau đó, tiếc thay, đã bị thực dân Pháp và tay sai dập tắt.
Phong trào Duy tân, theo nhà văn Nguyên Ngọc “chủ yếu nhằm vào một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng, với tư tưởng cơ bản là thực học, đối với chúng ta ngày nay dường như bỗng trở nên thời sự một cách lạ thường” (12). Quả là vậy, khi thành quả của giáo dục hiện tại là thấp so với những đòi hỏi bức thiết mà thời đại đặt ra, khi hiện tại Việt Nam vẫn đang lạc hậu hàng thế kỷ so với thế giới!
Việt Nam và một phong trào khai sáng mới?
Việt Nam đến nay đã trải qua hơn 60 năm sau khi miền Bắc giành được độc lập, và hơn 30 năm sau khi đất nước thống nhất. Nhưng sau ngần ấy năm, tại sao Việt Nam vẫn là một nước nghèo và lạc hậu, dân trí vẫn chưa cao, với khoảng 70% dân số sống bằng nghề nông? Có quá nhiều lý giải viện dẫn hoàn cảnh lịch sử hay những tổn hại do chiến tranh, mà nếu cứ chấp nhận những lý giải ấy một cách hiển nhiên mãi, đó sẽ tiếp tục là trở lực cho chúng ta hàng nhiều thập kỷ nữa.






Thần Đạo vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong sinh hoạt của người Nhật
Và nếu chấp nhận lý giải ấy cho Việt Nam, hẳn sẽ ngạc nhiên đến mức phải thán phục về một thần kỳ Nhật Bản. Sau thế chiến II, do bị tàn phá nặng nề và nền kinh tế bị kiệt quệ, từ một nước giàu có với những thành quả đạt được sau Duy tân, Nhật Bản rơi vào nhóm các nước đang phát triển. Tuy vậy, chỉ sau không đầy 30 năm (1945 – 1973), Nhật Bản đã mau chóng phục hồi, để một lần nữa, vươn lên sánh vai cùng các liệt cường. Qua đó, hãy tự hỏi, Việt Nam có thể có một thần kỳ hay không?
Nếu như cách đây 100 năm, phong trào Duy tân của Phan Châu Trinh có thể nhận thức được tầm vóc của “khai dân trí” và đã được triển khai một cách sâu rộng, thì ngày nay đất nước Việt Nam cần làm thế nào để tạo ra được một phong trào xứng tầm hoặc cao hơn, để trí tuệ Việt Nam có thể tiến nhanh, ngang hàng với trí tuệ thời đại, để người Việt Nam có thể ngẩng cao đầu trước những vị khách đến từ Nhật Bản hay các nước Tây phương?
Thiết nghĩ, không dám bứt phá và không dám nghĩ khác, chấp nhận sự bảo hộ tư tưởng theo các chiều thông tin hạn định, cái tôi và con người cá nhân bị đồng hóa, ngại phải đối mặt với những khác biệt về tư tưởng trong một xã hội thiếu tranh luận tự do, chủ quan lo sợ về những đổi khác do những thành trì kiên cố của thói quen hay tập quán, v.v... là một phần lớn nguyên nhân khiến chúng ta vẫn chậm tiến trên con đường hòa nhập với thế giới!
Việt Nam cần phải thay đổi! Bạn muốn thay đổi? Tôi muốn thay đổi! Nhiều người, rất nhiều người khác nữa muốn thay đổi?! Chúng ta làm gì để thay đổi? Hãy cùng tìm những giải pháp khả thi và hiệu quả, có thể khai phóng tiềm năng trí tuệ của người Việt, để từ đó tạo lực đẩy mạnh mẽ đưa đất nước đi lên!
Những giải pháp ấy, từ lịch sử, có thể nhìn thấy ngay từ nhà cách mạng Phan Châu Trinh, khi cho rằng phải có dân chủ về thông tin để khai mở dân trí, và tiếp đến, người dân phải được trao cho đầy đủ “dân quyền”, phải có cơ hội có được hiểu biết để ý thức rõ các quyền của mình và thực thi nó với tất cả trách nhiệm mà không trao lại cho chính phủ như một sự ủy thác. Dân trí vẫn có thể phát triển, nhưng với một tốc độ chậm chạp, chừng nào người dân chưa đủ “can đảm trong việc sử dụng lý trí của chính mình”.
Những giải pháp ấy, từ lịch sử, cũng có thể rút ra từ phong trào khai sáng tại Nhật Bản, ở đó có sự tự do tranh luận để đạt tới sự đa dạng và sự phát triển năng lực của tư duy. Và thông qua tranh luận, các lý lẽ hợp lý đã được chắt lọc và trở thành những phương hướng cho việc hoạch định các chính sách đổi mới. Một điểm quan trọng khác, đó là những người mang sứ mạng khai sáng đã thực hiện sứ mạng của mình với tất cả trách nhiệm và tinh thần dám dấn thân vì đại cuộc!
Những giải pháp ấy, ngay từ trong hiện tại, có thể nhìn từ chính chúng ta, khi mỗi người là một cá thể chủ động và tích cực trong việc thay đổi thói quen và lối mòn của tư duy, bước qua những hàng rào cản trở việc tiếp cận những tri thức mới, phá vỡ những thành trì ngăn cấm việc tìm đến thế giới thông tin tự do vô vàn kỳ thú với những nguồn tri thức mênh mông...
Và những giải pháp khác, mà mỗi cá nhân có thể dùng “lý trí và lòng can đảm” của chính mình, theo như phương châm của khai sáng, để tìm ra phương cách thích hợp cho bản thân, cho gia đình, và cho xã hội...
Dân tộc Việt Nam vốn là dân tộc quả cảm với những con người quả cảm, với tinh thần tự hào dân tộc cao và không quản ngại khó khăn? Vậy thì, những người quả cảm và có tinh thần trách nhiệm, khi nhận thức được tính cấp thiết của việc mở mang dân trí, hãy là những người đi tiên phong cho một phong trào khai sáng mới, để dẫn dân tộc Việt Nam đi đến một thần kỳ – một thần kỳ Việt Nam! 
Theo http://www.chungta.com
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/11/19 15:47:40</pubDate>
            <guid><![CDATA[Việt Nam cần các tư tưởng Khai sáng?:318]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- w3.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Sat Nov 28 23:33:35 SGT 2009 -->
