Thư mục: Tổng hợp |
Không biết dệt vải, nhưng trước đây trong những ngày lễ tết, hội hè, phụ nữ Bru - Vân kiều lại có bộ y phục khá hoàn chỉnh, với váy và áo dài tay thường được mua từ bên kia biên giới Việt - Lào. ![]() Người Bru - Vân kiều thường chọn những khoảng đất tương đối bằng phẳng làm nơi cư trú. Nhà có sàn cao, mái tròn ở đầu hồi, dựng quây quần quanh sân chung của làng. Lối kiến trúc truyền thống này ít nhiều còn được duy trì đến ngày nay. |
Tên tự gọi: Có người cho Bru là tên tự gọi.
Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều.
Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong.
Dân số: 40.132 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau.
Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.
Hoạt động sản xuất: Canh tác rẫy, trồng lúa là chính; nông cụ đơn giản: rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay; đa canh - xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài trồng các giống lúa tẻ, nếp, còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai mía v.v... Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu (về sau có cả bò), lợn, gà, chó là phổ biến.
Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việt và người Lào.
Ăn: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất là thông dụng). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.
Mặc: Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, còn áo không có tay, mặc chui đầu. Vải chủ yếu mua ở Lào. Y phục kiểu người Việt thời nay đã trở thành phổ biến, tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Trước kia thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu.
Ở: Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn.
Phương tiện vận chuyển: Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng.
Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi bỏ hoá. Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt nhau. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v...
Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến.
Cưới xin: Cô dâu về ở đằng nhà chồng, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng. Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích, việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận và khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa.
Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt các con vật sa bẫy, không bước qua cây nằm ngang đường v.v... Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường các tên trong nhà được đặt cùng vần nhau.
Ma chay: Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt năm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ, ở các nhóm Khùa và Ma Coong thì tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2-3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng. Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp; xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần (sáng, trưa, tối), khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ từ đồ mặc đến vật dụng thông thường và cả giống mía, ngô, khoai môn, v.v...
Thờ cúng: Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo họ, hiện thân của "linh hồn" các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v... đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà. Người ta rất tin và các "thần linh" (Yang): thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v... Ma gia đình đằng vợ (Yang cu gia) cũng được con rể thờ cúng.
Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v... Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa.
Lịch: Họ căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng. Quan niệm có những ngày tốt (nhất là mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (nhất là 30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới.
Văn nghệ: Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc, về đề tài người mồ côi v.v... Có các điệu hát như: Oát là loại hát đối đáp giao duyên. Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng. Xươt là hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người. Roai tol, Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách. Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát. Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...
---------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 18
Proper name: Bru, according to some reseachers.
Other names: Bru and Van Kieu
Population: 40,132 people
Local groups: Van Kieu, Tri, Khua and Ma Cong.
Language: The Bru language belongs to the Mon-Khmer language group (of the Austroasiatic language family), which is close to languages spoken by the Tay Oi and Cotu people. A new Bru writing system is now emerging, which uses Latin transcription. Some vocabulary and phrases are different between certain sub-groups.
History: The Bru are believed to be the most permanent residents in the Truong Son region.
Production activities: The Bru live mainly on swidden fields, using simple tools such as the axe, the cutlass, and the rice harvesting knife. They practice slash-and-burn agriculture, using a digging stick to make holes in the ground for sowing seeds. Weeding and rice harvesting are done by hand. Multi-crop and rotating cast crops are grown each year between March and October. Apart from paddy, the Bru also grow manioc, gourd, banana, egg-plant, pineapple, sweet potato, etc. Forests and streams are the two main sources for additional food and other benefits. Almost every family raises buffalo (later cows), pigs, chickens, and dogs. Local handicrafts are less developed. Meanwhile, the Bru engage in barter trade primarily with the Viet people as well as with Laotians.
Diet: The Bru-Van Kieu enjoy eating roasted meat. Soup usually made with a combination of vegetables, rice, and fish or frog meat. For everyday meals, ordinary rice is often eaten with the hands. On special occasions, sticky rice is cooked in a fresh bamboo tube. Unboiled water and can (pipe) wine are the most popular drinks (although nowadays distilled spirit is becoming more and more popular). Men and women smoke cigarettes and pipes made from earth or the le plant (a sort of bamboo shoot)
Clothing: According to Bru customs, the men wear loin cloths and the women wear dresses with a sleeves blouse or pullover. The Bru buy textiles from Laos. Dressing in the style of the Viet people is becoming more and more popular, with cloth wrappers still being worn. In the past, people used to make clothing from the fibre of tree bark. People adorn themselves with chains, necklaces, and earrings. Formerly, Bru men and women wore their hair wrapped in a bun or chignon on the top of their heads. For an unmarried girl, the chignon of a married woman is generally at the center top of the head.
Lifestyle: The Bru-Van Kieu live in the Truong Son-Tay Nguyen region in the west of Quang Tri, Thua Thien_Hue and Quang Binh. Each village is a residential community. Each family owns a house, built on stilts, with the heart and kitchen placed on the ground level. The Bru-Van Kieu avoid sleeping in a direction that is across the width of the house, in the sub-groups of Tri, Khua and Ma Coong, the house is divided into smaller bedrooms for the aged parents.
Transportation: The Bru uses many kinds of woven back-baskets, with the straps being tied around the shoulders of the carrier. The multi-purpose back-basket and the carrier inseparable like the human body and its shadow.
Social organization: Villagers, who are of different family lineages, live in harmony, with land plots (even fallow land) being divided for each family. The eldest person in the village plays an important role in the village’s life. The gap between the rich and the poor is increasing, but there is little difference in the standard of living at the village level. Valuables are counted in gongs, pots, cooking pots and buffalo, etc. Human exploitation or servitude is uncommon.
Marriage: Traditionally, the bride is brought to her husband and the wedding is organized by the bridegroom’s family. Customary wedding gifts are the sword and a bronze cooking pot. After the wedding, and once the couple has sufficient economic resources, they hold a “second wedding” called Khoi ceremony, where the wife is officially regarded as a member of her husband’s family. According to the customs, cross-marriages within a family lineage is encouraged, such as between the aunt’s son and the uncle’s daughter, between the widow and her dead husband’s brother, and vice versa. In addition, if a woman in lineage A is betrothed to a man in linage B, lineage B is no longer able to offer women in marriage to men of lineage A.
Birth: Pregnant women must abstain from eating the meat of hunted animals and from walking over a tree log that lies across the road. Bru women usually deliver at home, helped by a mid-wife. The baby is named after three months; the name must nor coincide with the names of the dead members of the family, but only bear a similarity in sound or syllable.
Funerals: According to Bru customs, the dead person is placed across the house floor, with the feet pointing to the windows. In the sub-groups of Khua and Marriage Coong, the deceased is laid along the floor, with the feet pointing to the main door. The funeral is often held two or three days later, and the deceased is buried at the village’s common graveyard. The coffin, made of a kind of soft wood, has a cover. In the past, the deceased used to be wrapped in bark or a bamboo-woven sheet. The burial place is determined by dropping an egg onto the place, which is acceptable if the egg breaks. Before the burial, food is put into the deceased’s mouth, and the deceased is buried together with plenty pf personal belongings, food, and the seeds of cane, corn, and Indian taro, etc.
Beliefs: The Bru attach great importance to ancestor worship. They believe that the embodiments of their dead love one’s souls exist in such objects as a fragment of a pot or a bowl. Etc. in some places, people believe in the god of their own fortunes: each member of the family has a bowl to his or her own fate, placed on a common altar. People also believe in various Yang (God) such as god of paddy plants, and mountain, the land and earth, the river, the tree and the kitchen, etc. the genie or protective spirit of the wife’s family is also worshipped by the husband-in-law.
Festivals: The Bru perform different rituals in an attempt to harvest bumper crops. These rites are connected to specific stage of agricultural production, such as clearing the field, sowing the seeds, and harvest. Sowing seeds, in particular, is organized as major festivals of the village. The life of a Bru is accompanied by serials of rituals: birth, sickness, marriage, death…The most important event is the buffalo sacrificing ceremony. Tet is celebrated in villages at different times, usually after the rice has been harvested and threshed.
Calendar: their calendar is made based on the position of them moon. The Bru identify days of good luck (the 4th, 7th, 9th of the lunar month) and bad luck (30th and 1st of the lunar month). Each year, the agricultural calendar adopted by the Bru comprises 10 months, followed by holidays, before entering into the next crop cycle.
Artistic activities: The Bru preserve a large number of old tales about the origin of local family lineages, peoples, and orphans, etc. Folk singing is popular, such as Oat (alternative chants between men and women); Prdoak, songs of greetings; Xuot, songs of public occasions; Roai tol, Roai trong, sad sung stories; and Adang kon, the lullaby. When there are burials and buffalo sacrifice festivals, songs are often accompanied by dances. The most popular musical instruments are: gongs, drums, string instruments (achung, plua, talu), and wind instruments (aman, taral, kho lui and pi), etc.
window.google_render_ad();