Đăng ngày: 11:14 20-10-2009
Chồng bà Trưng Trắc vốn tên
Thi. Sách Thủy kinh chú viết "…Châu Diên lạc tướng tử danh Thi sách Mê
Linh lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê" (nghĩa là: ...Con trai của
lạc tướng Châu Diên tên là Thi hỏi [sách] con gái lạc tướng Mê Linh tên
là Trưng Trắc làm vợ). Từ "sách" trong câu trên vốn có nghĩa là "hỏi".
Do nhầm lẫn, người đời sau đã ghép từ "sách" đó với từ Thi thành tên
Thi Sách. Tại sao lại có sự nhầm lẫn đó?
1. Vào thế kỷ thứ 6, một người Trung Hoa tên là Lịch Đạo Nguyên đã du
lịch sang đất Việt, đến thăm vùng Mê Linh. Khi trở về Trung Hoa, ông
viết sách Thuỷ kinh chú, trong đó ông có đề cập đến chuyện Hai Bà Trưng
và viết như sau: "...Châu Diên lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc
tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê" (nghĩa là: ...Con trai của lạc
tướng Châu Diên tên là Thi hỏi [sách] con gái lạc tướng Mê Linh tên là
Trưng Trắc làm vợ).
2. Dựa vào tài liệu Thuỷ kinh chú, trong khi chú thích phần chính văn
viết về Hai Bà Trưng của Hậu Hán thư, Thái tử Lý Hiền đời nhà Đường,
vào thế kỷ thứ 8, đã chú thích rằng: Trưng Trắc là con gái Lạc tướng
huyện Mê Linh được gả làm vợ một người huyện Châu Diên là Thi Sách, bà
rất hùng dũng. Cần lưu ý là sách chữ Nho ngày xưa viết không có chấm
câu, nên người đọc có thể không biết câu văn dừng lại ở chỗ nào, và rất
dễ lẫn lộn câu này qua câu khác. Trong chú thích cuả mình, thay vì viết
tên "Thi" như Thuỷ kinh chú, Thái tử Hiền đã viết thành "Thi Sách".
3. Cách viết của Thái tử Hiền về tên chồng bà Trưng dẫn đến cách viết
của các tác giả Việt, từ Việt điện u linh tập, đến Việt sử lược, qua
Lĩnh Nam chích quái, rồi đến các bộ chính sử Toàn thư và Cương mục,
nghĩa là các sách này đều cho rằng chồng bà Trưng tên là Thi Sách. Sự
nhầm lẫn này không phải do các tác giả Việt tự ý viết ra, mà do ảnh
hưởng của lời chú thích Hậu Hán thư của Thái tử Hiền bên Trung Hoa.
4. Người phát hiện ra sự nhầm lẫn về tên chồng bà Trưng trong chú thích
của Thái tử Hiền là học giả Huệ Đống, vào thế kỷ thứ 18, dưới đời nhà
Thanh.
Khi so sánh chú thích của Thái tử Hiền trong Hậu Hán thư và câu văn
nguyên thuỷ của Thuỷ kinh chú, Huệ Đống viết như sau: "Xét Triệu Nhất
Thanh nói "sách thê" còn có nghĩa là "cưới vợ"; cách sử học Phạm chép
"Gả làm vợ người Châu Diên là Thi Sách" là sai. Xem Thuỷ kinh chú thấy
nói "tương Thi", rồi nói "Trắc Thi", chỉ rõ ràng tên ông đó là Thi".
Trong Thuỷ kinh chú, Lịch Đạo Nguyên viết: "...Châu Diên lạc tướng tử
danh Thi sách Mê Linh lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê" (nghĩa
là: Con trai của lạc tướng Châu Diên tên là Thi, hỏi [sách] con gái lạc
tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ). Trong câu này, nếu Thi Sách là
họ và tên thì vế thứ nhì của câu nầy thiếu động từ, trở nên tối nghĩa.
Đọc tiếp đoạn Thuỷ kinh chú về Hai Bà Trưng, sự cân đối trong cách dùng
từ sẽ cho thấy rõ tên của chồng bà Trưng. "... Trắc vi nhân hữu đảm
dũng, tương Thi khởi tặc; Mã Viện tương binh thảo, Trắc Thi tẩu nhập
Cẩm Khê..." (...[Bà] Trắc là người can đảm, cùng [ông] Thi nổi dậy làm
giặc; Mã Viện đem quân sang đánh, [ông bà] Trắc Thi chạy vào Cẩm
Khê...) Tác giả Lịch Đạo Nguyên dùng tên Trắc, vậy thì chữ Thi theo sau
đó cũng phải là tên chứ không thể là họ.
5. Lịch Đạo Nguyên đã đến Mê Linh vào thế kỷ thứ 6 và phát hiện tên
chồng bà Trưng tên là Thi, vậy tốt nhất nên trở về đúng tên ban đầu của
chồng bà Trưng, tức là ông Thi.
Nguồn: http://www.chuyenquangtrung.com.vn/forums/showthread.php?tid=1528