Thư mục: Tổng hợp |
Trường Trung học cơ sở Lĩnh Nam
Bài tập tuần 2:
Đề 1: Phân tích: Có người cho rằng trong truyện Kiều, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên rất đa dạng, vừa có những bức tranh chân thực, sinh động, vừa có những bức tranh tả cảnh ngụ tình. Bằng những hiểu biết của em về hai đoạn trích “Cảnh ngày xuân” và “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, hãy trình bày ý kiến với nhận định trên.
Bài làm
Nhắc đến tài năng của đại thi hào Nguyễn Du, mỗi người đã từng đọc truyện Kiều đều không thể không khâm phục tài năng của ông với những nét riêng truyền thống và cá tính sáng tạo trong lối viết đậm chất trữ tình. Những rung động trong tâm hồn được khơi dậy khi đọc truyện Kiều hẳn là một điều không ai trong chúng ta có thể phủ nhận bởi vì chúng ta đã từng có những cảm giác này. Truyện Kiều vì thế đã sống mãi với thời gian và không gian, từ thế hệ này qua thế hệ khác, lúc nào cũng được mọi người trân trọng và yêu mến. Dưới ngòi bút của ông, những bức tranh về cảnh đời số phận của từng nhân vật đều hiện lên sống động, đều khiến độc giả cảm thông, giận hờn, yêu ghét theo từng vần thơ..Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du nói chung rất đa dạng, tài tình và phong phú, nhất là tả cảnh ngụ tình. Chính nghệ thuật này đã làm tăng rất nhiều thi vị và giá trị cho truyện Kiều.
Lối tả cảnh ngụ tình mang tính cách chủ quan , man mác khắp trong truyện Kiều. Cảnh vật bao giờ cũng bao hàm một nỗi niềm tâm sự của nhân vật phụ ẩn chứa trong đó, như trong tám câu thơ cuối của đoạn trích: “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
“Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh’
Ầm ầm tiếng sống kếu quanh ghế ngồi.”
Nếu đọc trên những dòng chữ, ta có thể thấy đây là đoạn thơ chỉ tả cảnh Thuý Kiều đang ở lầu Ngưng Bích ngắm khung cảnh biển khơi rất đẹp đẽ, rộng lớn, mênh mông trong buổi chiều tà. Nhưng nếu dùng cảm xúc và suy nghĩ của mình, đọc giữa nhưng dòng chữ thì ta lại nhìn thấu tâm trạng của Kiều mà Nguyễn Du gửi gắm đến người đọc bằng lối kể chuyện nửa trực tiếp. Nghệ thuật của ông là mang cái gì rộng lớn mênh mông, để rồi đem vào hàm chứa trong một cái gì nhỏ bé. Khi Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhìn qua song cửa thấy cảnh biển chiều hôm, với những cánh buồm xa xa lại tưởng nhớ tới quê hương, tới thân phận bọt bèo không định hướng, tới tương lai u tối, đáng sợ với đầy rẫy những cạm bẫy rình rập của mình. Nói chung, Nguyễn Du chú trọng nhiều đến màu sắc của thiên nhiên, đặc biệt là của hoàng hôn, của cây cỏ, của trăng và của nước. Đó là những màu sắc thi vị, nhưng lại gieo ấn tượng cho một nỗi buồn xa xăm, cũng chỉ vì truyện Kiều mang bản chất nhiều nỗi buồn hơn vui.
Nghệ thuật tả cảnh bằng thơ của Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều màu sắc như bức tranh của một người họa sĩ. Trước tiên phải là ánh sáng, một yếu tố nhấn cơ bản, rồi sau đó mới tới các màu sắc với sự pha chế sao cho làm nổi được mảng chính và mảng phụ. Hãy xem một cảnh xuân tươi mát trên đồng quê qua ngòi bút tả cảnh đầy màu sắc của Nguyễn Du trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”:
”Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”
Thật là một bức tranh màu sắc thanh nhã tuyệt hảo: trên thảm cỏ xanh mướt bao la- màu xanh non mới mẻ, tinh khôi, đầy sức sống; dưới bầu trời mênh mông với màu xanh khoáng đạt, trong trẻo; nổi những bông hoa lê trắng tinh- màu trắng nhẹ nhàng, thanh khiết. Chỉ có hai màu xanh và trắng, Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh hài hoà đến tuyệt diệu, dù không rực rỡ nhưng vẫn hết sức vui tươi, thể hiện tâm trạng của chị em Thuý Kiều trong buổi du xuân. Ở đây cũng cần để ý tới lối đảo chữ tài tình của Nguyễn Du. Thay vì “ cành lê điểm một vài bông hoa trắng” thì Nguyễn Du đã viết:”cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Tất nhiên có thể Nguyễn Du đã phải đảo chữ chỉ vì tôn trọng luật “bằng trắc” của thơ lục bát , nhưng cũng phải công nhận đó là một lối đảo chữ tài tình mà không phải ai cũng làm được. Chữ điểm làm cảnh vật có hồn chứ không tĩnh tại.
Cũng trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một lối tả cảnh ngụ tình khác nữa. Nguyễn Du vừa đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh, tạo nên một sự giao hòa tuyệt vời hai chiều giữa cảnh và người, giữa cái vô tri và cái tâm thức để tuy hai mà một, tuy một mà hai. Nói một cách khác , Nguyễn Du tả cảnh mà thâm ý luôn luôn đem cái cảm xúc của người đối cảnh cho chi phối lên cảnh vật. Điều này khiến cho cảnh vật trở thành linh hoạt như có một tâm hồn hay một nỗi xúc cảm riêng tư nào đó. Ví dụ như đoạn thơ cuối trong “cảnh ngày xuân”:
“Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”
Nguyễn Du không chỉ miêu tả cảnh sắc thiên nhiên theo bước đi của thời gian mà còn nhuộm màu tâm trạng đó là tâm trạng của chị em Kiều lúc này, tất cả đều lắng xuống, chơi vơi trong một trạng thái mơ hồ nhưng có thực. Nó là nỗi bâng khuâng, man mác nuối tiếc. Ngay ở câu đầu thôi, chúng ta đã nhìn thấy được cảnh vật trở nên trầm buồn hơn vào buổi chiều tà. Chị em Kiều du xuân ra về thì trời vừa ngả bóng hoàng hôn. Nguyễn Du dùng hai chữ “tà tà “ chỉ một hành động chậm rãi, có thể là chị em Kiều thong thả bước chân ra về, mà cũng có thể chỉ sự xuống chầm chậm của mặt trời chiều. Đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật. Dường như con người cũng chìm trong một cảm xúc bâng khuâng khó tả. Ở câu thơ tiếp đó, tác giả miêu tả hành động, tâm trạng của hai chị em cũng bần thần, nuối tiếc, lặng buồn. Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, “dan tay” tưởng là vui nhưng thực chất là chia sẻ cái buồn không nói hết. Không gian không còn cái bát ngát, trong sáng mà đang nhẹ dần, lặng dần. “Nao nao” chỉ tâm sự con người, nhưng cũng chỉ sự ngập ngừng lãng đãng của dòng nước trôi dưới chân cầu. Thực sự tác giả đã làm nhịp thơ dường như chậm hẳn lại. Cách dùng từ như thế này biểu hiện tài hoa và khéo léo của Nguyễn Du khi lấy đà để chuyển ý của câu chuyện sang một cảnh mới với mối tâm trạng mới của nhân vật: Cảnh chị em Kiều sẽ gặp nấm mồ Đạm Tiên sau đó.
Tóm lại, nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du thật là muôn hình vạn trạng. Nghệ thuật ấy chẳng khác gì nghệ thuật vẽ một bức tranh thủy mạc, nhiều khi chỉ một mảnh trời, một ánh trăng, một cánh hoa, một dòng nước hay một áng mây hoàng hôn. Chỉ thế thôi, nhưng chữ dùng về màu sắc và cách sắp đặt cảnh gần xa thật tài tình đã đủ lôi cuốn tâm hồn người đọc, như để cùng chung hòa vào cảnh vật. Một điều không thể chối cãi được là Nguyễn Du rất yêu cảnh thiên nhiên nên đã ban cho cảnh thiên nhiên một “hồn người”. Giá trị văn chương tả cảnh của Nguyễn Du đã đạt tới mức tinh diệu để chỉ riêng một lãnh vực tả cảnh không thôi, cũng đủ truyện Kiều không hổ thẹn để xứng đáng là một tác phẩm truyện thơ nôm hay nhất trong kho tàng văn học của nước ta.
Đề 2: Xây dựng hệ thống luận điểm, luận cứ:
I/ Hãy chứng tỏ nghệ thuật khắc hoạ nhân vật chính diện thông qua đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”.
Bài làm
A/ Mở bài:
-Nêu lên địa vị của Truyện Kiều trong nền văn học Việt Nam và thế giới.
-Một trong những yếu tố để đạt được thành công đó là nghệ thuật khắc hoạ nhân vật tài tình của Nguyễn Du.
B/ Thân bài:
-Tác giả đã khắc hoạ chân dung cả hai chị em rất thành công.
-Đoạn đầu, khi tả cả hai chị em:
+Tác giả dùng bút pháp ước lệ, ví vẻ đẹp của hai chị em với “mai” và “tuyết”, là hai hình tượng rất đẹp, là chuẩn mực của quan niệm phong kiến, thể hiện sự thanh tao, mảnh dẻ, trong trắng, thanh khiết và tao nhã.
+”Mười phân vẹn mười”: tả vẻ đẹp hoàn hảo, không chê vào đâu được.
-Tả Thuý Vân:
+Hai chữ “trang trọng” gợi vẻ đẹp cao sang, quý phái.
+Vẻ đoan trang của ngườu thiếu nữ được so sánh với hình tượng thiên nhiên, với những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc.
>Thuý Vân có khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn như mặt trăng.
>Lông mày sắc nét như ngài.
>Miệng cười tươi như hoa, tiếng nói trong như tiếng ngọc rung.
>Mái tóc đen óng mềm mại hơn mây.
>Làn da trắng mịn hơn tuyết.
+Sử dụng bút pháp ước lệ, thủ pháp liệt kê và biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, tác giả làm nổi bật vẻ đẹp thuỳ mị, đoan trang, phúc hậu của Thuý Vân.
+Chân dung Thuý Vân là chân dung tích cách, số phận: vẻ đẹp tạo sự hoà hợp, êm đềm với xung quanh: mây thua, tuyết nhường, nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ, ít sóng gió.
-Gợi tả vẻ đẹp của Thuý Kiều:
+Dù Thuý Vân đã rất đẹp nhưng Thuý Kiều lại “càng sắc sảo mặn mà”: sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn.
+Nhan sắc của Thuý Kiều được gợi ra từ đôi mắt trong sáng, long lanh như nước hồ thu, đôi mày xinh tươi như dáng núi mùa xuân, thể hiện sự tinh anh.
+Vẻ đẹp của Kiều rực rỡ khác thường khiến tạo hoá phải ghét ghen, thiên nhiên nảy sinh lòng đố kị.
+Gợi tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, Nguyễn Du vẫn dùng những hình tượng nghệ thuật ước lệ, thiên về gợi, tạo ấn tượng chung về một giai nhân tuyệt thế.
+Kiều còn là cô gái thông minh và rất mực tài hoa:
>Tài năng đtạ tới mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến, gồm đủ cả cầm, kì, thi, họa.
>Trong đó nổi bật là tài đàn. Cực tả cái tài đàn của Kiều cũng là gợi cái tâm của nàng. Cung đàn Bạc mệnh mà Kiều tự sáng tác là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm, có đời sống nội tâm sâu sắc. Tiếng đàn như dự báo về cuộc đời bạc mệnh của nàng. Sau này, mỗi khi Kiều gặp biến cố thì tiếng đàn lại vang lên, nó hô ứng với nhan đề tác phẩm: “đoạn trường tân thanh”.
+Vẻ đẹp của Kiểu là sự kết hợp sắc- tài- tình. Miêu tả vẻ đẹp ấy, Nguyễn Du như dự báo số phận nàng sẽ đau khổ. Chân dung Thuý Kiều cũng là chân dung tính cách, số phận.
à Nguyễn Du không chỉ miêu tả được chân dung nhân vật mà còn dự báo trước tương lai nhân vật, không chỉ truyền cho người đọc tình cảm yêu mến mà còn cả nỗi lo âu, phấp phỏng về tương lai của nhân vật.
C/ Kết bài:
-Nghệ thuật miêu tả người của Nguyễn Du rất đặc sắc và tiêu biểu.
-Chúng ta cần học tập ông.
JaCkYzzz 19:58 03-11-2009
LonBay.com 05:24 30-10-2009