<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[carol_love_menfuisu_26295 BLOG]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/carol_love_menfuisu_26295]]></link>
        <description><![CDATA[carol_love_menfuisu_26295 BLOG]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2009/11/15 11:09:18</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[Bài văn cứ 2 cho nàng này, Bông Bông!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/carol_love_menfuisu_26295/article?mid=164]]></link>
            <description><![CDATA[(Con cún đầu tiên của tớ tên là Bông đấy)
(Nhớ trang trí cẩn thận, ghi tên trg` mình trước khi in!!!!! 10h rồi! Buồn ngủ lắm r`!!!
Chúc vui vẻ...)
Trong tất cả những đại thi hào dân tộc thời Trung đại, ta hiếm khi có thể tìm được nhà thơ nào thành công như Nguyễn Du về mặt khắc hoạ nhân vật, đặc biệt là khi tả hai giai nhân Thuý Kiều và Thuý Vân trong đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”. Với ngòi bút cực kì tinh tế và mĩ lệ, Nguyễn Du đã vẽ nên bức tranh chân dung Thuý Kiều và Thuý Vân bằng tất cả những gì đẹp đẽ, mĩ lệ nhất mà vẫn tạo được những nét rất riêng, không trộn lẫn với nhau; tạo nên những bức tranh chân thực, sinh động, đa dạng. 
Về những đặc điểm chung của hai chị em thì Nguyễn Du không tả nhiều nhưng đã bộc lộ vẻ đẹp cả về hình thức lẫn nội dung của hai chị em. Khắc hoạ vẻ đẹp toàn diện, hoàn mĩ ấy, ngoài hình tượng phong cách tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân cách hoá hình tượng thiên nhiên, ông còn vận dụng rất nhiều tiểu đối: mười hai trên tổng số hai mươi tư câu thơ. Ông miêu tả chân dung nhân vật cũng là chân dung tính cách, số phận. Trong bốn câu thơ cuối, để khái quát và nhấn mạnh về cuộc sống phong lưu yên bình, phẳng lặng và khuôn phép mẫu mực của hai cô gái họ Vương, Nguyễn Du còn sử dụng nghệ thuật đảo ngữ hết sức độc đáo: “Phong lưu rất mực hồng quần”. Trong cuộc sống cấm cung theo chuẩn mực của phong kiến với kiểu “trướng rủ, màn che”, hai chị em đang độ tuổi cập kê vẫn không hề ngó ngàng, “mặc kệ” chuyện lứa đôi. Đó là một bức tranh về cuộc sống yên bình, phẳng lặng của hai nàng. Những hình ảnh thiên nhiên có vẻ đẹp tuyệt đối trong trắng, vững bền thể hiện bút pháp lí tưởng hoá nhan sắc, cốt cách hai chị em Thuý Kiều. Tiết tấu cân đối, nhịp nhàng đã góp phần làm các vần thơ càng trở nên tuyệt diệu như chính hai giai nhân được miêu tả. Ngoài ra, Nguyễn Du còn sử dụng rất nhiều điển cố, điển tích và những từ loại có giá trị biểu đạt, biểu cảm cụ thể. 
Vẻ đẹp của Thuý Vân được so sánh với những thứ cao đẹp nhất trên đời: trăng, hoa, tuyết, ngọc. Chân dung nàng được miêu tả toàn vẹn bằng bút pháp ước lệ, bằng ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau chuốt. Trong bốn câu thơ tả Thuý Vân, Nguyễn Du đã đưa vào một số từ ngữ nôm na, có nhiều nghĩa. Ví dụ như “đầy đặn”, “nở nang” không chỉ miêu tả gương mặt tròn trịa, nét mày rõ ràng của Thuý Vân mà còn cho thấy sự phúc hậu, trang trọng của nàng. Hình ảnh “Hoa cười ngọc thốt đoan trang” cũng có hai cách hiểu: thứ nhất là giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngà ngọc, và thứ hai là tiếng nói của nàng nghe hay như tiếng ngọc rung. Cách dùng từ “thốt” mới khéo léo làm sao. Nếu thay bằng “Hoa cười ngọc nói” thì lại hoá ra Thuý Vân là kẻ vô duyên lắm lời, ở đâu cũng nói. Nhưng còn từ “thốt” thì thể hiện một người con gái khiêm nhường, ý tứ, &nbsp;điềm đạm, khi cần thiết lắm mới cất lời, và cứ mỗi lời nói lại biểu lộ sự ngây thơ, trong trắng. Và thiên nhiên, tạo hoá sẽ chịu thua mái tóc mây, màu da tuyết để nhường bước cho nàng đi trên con đường quang đãng, bằng phẳng của cuộc đời. 
Ta thấy có một điểm khá lạ ở những câu thơ tả Kiều tiếp theo đó: tác giả đã giới thiệu người em Thuý Vân trước người chị Thuý Kiều, tức là đi ngược lại trật tự thứ bậc phong kiến. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì đây là chân dung nghệ thuật, tác giả dùng biện pháp đòn bẩy. Không phảu ngẫu nhiên mà Thuý Vân chỉ hiện lên với bốn câu thơ, còn danh cho Thuý Kiều tới mười hai câu thơ, xác định vị ví nhân vật trung tâm. Như một bức tranh, nét vẽ của thi nhân thiên về sự gợi tả đường nét, màu sắc đậm hay nhạt, nổi bật hay lu mờ… Trên nền của Thuý Vân những tưởng đã là người phụ nữ hoàn hảo, nhưng nổi bật lên trên hình ảnh nàng là một trang quốc sắc còn rực rỡ hơn, một tài trí sắc sảo và một tâm hồn mặn mà hơn: Nàng Thuý Kiều. Câu thơ đầu tiên nói về nàng đã gây một ấn tượng mạnh mẽ: “Kiều càng sắc sảo mặn mà”, khiến người đọc ngay lập tức ra một dung nhan rất có hồn, có thần sắc sinh động. Hình ảnh “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn” mang tính chất ước lệ, đồng thời cũng là ẩn dụ, gợi nên một đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt như nước hồ thu có thể nhìn thấu xuống tận đáy, đôi mày thanh tú như nét núi mùa xuân. Đôi mắt đó là cửa sổ tâm hồn, thể hiện phần tinh anh của trí tuệ, tâm hồn đa sầu đa cảm. Tả Kiều, tác giả không đặc tả cụ thể như khi tả Vân mà chỉ đặc tả đôi mắt theo lối điểm nhãn- vẽ hồn cho nhân vật, gợi nên vẻ đẹp chung của một giai nhân tuyệt sắc. Vẻ đẹp khiến cho hoa ghen, liễu hơn, nước nghiêng thành đổ. Nguyễn Du không miêu tả trực tiếp nhân vật mà miêu tả sự ghen ghét, đố kị hai ngưỡng mộ, say mê trước vẻ đẹp đó, cho thấy đây là vẻ đẹp có chiều sâu, có sức quyến rũ, cuốn hút lạ lùng. Nêu sắc đẹp của Vân được sánh ngang với những báu vất tình khôi của đất trời thì chân dung của Kiều lại được ví với nước non như sự rộng dài sâu thẳm của đất trời. Và vẫn cùng một công thức dùng từ ngữ có tính chất dự báo, nhân cách hoá thiên nhiên như khi tả Thuý Vân, ta thấy được rằng tạo hoá có vẻ đang “hờn ghen”, mai phục Thuý Kiều. Cuộc đời nàng như được báo trước rằng sẽ đầy rẫy tai ương, trắc trở để trả giá cho tài trí và nhan sắc có một không hai.  
Vẻ đẹp tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý, cái tài, cái tình đặc biệt của Thuý Kiều. Không như Thuý Vân chỉ tả nhan sắc, còn Thuý Kiều thể hiện được cả sắc- tài- tình. Tài năng của nàng đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến: cấm, kì, thi, hoạ. Tác giả đặc tả tài đàn, là sở trường, năng khiếu, nghề riêng của nàng. Không chỉ vậy, nàng còn giỏi sáng tác nhạc. Đặc biệt nàng thích chọn những cung đàn bạc mệnh. Đây là những tín hiệu dự báo cuộc đời Kiều sẽ long đong lận đận. Cung đàn Bạc mệnh ghi lại tiếng lòng của một trái tim nhạy cảm, đời sống nội tâm phong phú..Một sắc đẹp rực rỡ, đằm thắm bởi sự phong phú của tâm hồn, sự thông tuệ và tấm lòng giàu cảm xúc đã thực sự ngời sáng trong toàn bộ đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”. 
Tóm lại đọc đoạn trích “Chị em Thúy Kiều“ chúng ta thấy rõ tài năng sáng tạo của thi hào Nguyễn Du. Ngòi bút của nhà thơ thật linh hoạt khi tả chi tiết, khi chấm phá, khi tuân theo ước lệ, khi phá vỡ khuôn phép… để hoàn chỉnh 2 bức chân dung tuyệt tác Thúy Vân và Thúy Kiều vừa cực kì hoàn hảo vừa có những nét rất riêng. Đoạn thơ nói về “Chị em Thuý Kiều” là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trong “Truyện Kiều” được nhiều người yêu thích và thuộc. Ngôn ngữ thơ tinh luyện, giàu cảm xúc. Nét vẽ hàm súc, gợi cảm, nét vẽ nào cũng có thần. Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được thi hào vận dụng thần tình tạo nên những vần thơ ước lệ mà trữ tình, đầy chất thơ. Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quý mến trân trọng. Đó là nghệ thuật tả người điêu luyện của thi hào Nguyễn Du mà ta cảm nhận được. Tuy là bức vẽ bằng ngôn từ nhưng người đọc đời nay vẫn thấy ở đó một quan điểm thẫm mỹ tiến bộ, mộ tấm lòng yêu thương của nhà thơ hướng về con người để vẽ nên nhân dáng con người trọn vẹn đến như thế.  
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/11/03 23:00:50</pubDate>
            <guid><![CDATA[Bài văn cứ 2 cho nàng này, Bông Bông!:164]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Bài văn]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/carol_love_menfuisu_26295/article?mid=160]]></link>
            <description><![CDATA[Trường Trung học cơ sở Lĩnh Nam 
Bài tập tuần 2: 
&nbsp; 
Đề 1: Phân tích: Có người cho rằng trong truyện Kiều, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên rất đa dạng, vừa có những bức tranh chân thực, sinh động, vừa có những bức tranh tả cảnh ngụ tình. Bằng những hiểu biết của em về hai đoạn trích “Cảnh ngày xuân” và “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, hãy trình bày ý kiến với nhận định trên. 
Bài làm 
Nhắc đến tài năng của đại thi hào Nguyễn Du, mỗi người đã từng đọc truyện Kiều đều không thể không khâm phục tài năng của ông với những nét riêng truyền thống và cá tính sáng tạo trong lối viết đậm chất trữ tình. Những rung động trong tâm hồn được khơi dậy khi đọc truyện Kiều hẳn là một điều không ai trong chúng ta có thể phủ nhận bởi vì chúng ta đã từng có những cảm giác này. Truyện Kiều vì thế đã sống mãi với thời gian và không gian, từ thế hệ này qua thế hệ khác, lúc nào cũng được mọi người trân trọng và yêu mến. Dưới ngòi bút của ông, những bức tranh về cảnh đời số phận của từng nhân vật đều hiện lên sống động, đều khiến độc giả cảm thông, giận hờn, yêu ghét theo từng vần thơ..Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du nói chung rất đa dạng, tài tình và phong phú, nhất là tả cảnh ngụ tình. Chính nghệ thuật này đã làm tăng rất nhiều thi vị và giá trị cho truyện Kiều.  
Lối tả cảnh ngụ tình mang tính cách chủ quan , man mác khắp trong truyện Kiều. Cảnh vật bao giờ cũng bao hàm một nỗi niềm tâm sự của nhân vật phụ ẩn chứa trong đó, như trong tám câu thơ cuối của đoạn trích: “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.  
“Buồn trông cửa biển chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu? 
Buồn trông nội cỏ rầu rầu 
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh 
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh’ 
Ầm ầm tiếng sống kếu quanh ghế ngồi.” 
Nếu đọc trên những dòng chữ, ta có thể thấy đây là đoạn thơ chỉ tả cảnh Thuý Kiều đang ở lầu Ngưng Bích ngắm khung cảnh biển khơi rất đẹp đẽ, rộng lớn, mênh mông trong buổi chiều tà. Nhưng nếu dùng cảm xúc và suy nghĩ của mình, đọc giữa nhưng dòng chữ thì ta lại nhìn thấu tâm trạng của Kiều mà Nguyễn Du gửi gắm đến người đọc bằng lối kể chuyện nửa trực tiếp. Nghệ thuật của ông là mang cái gì rộng lớn mênh mông, để rồi đem vào hàm chứa trong một cái gì nhỏ bé. Khi Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhìn qua song cửa thấy cảnh biển chiều hôm, với những cánh buồm xa xa lại tưởng nhớ tới quê hương, tới thân phận bọt bèo không định hướng, tới tương lai u tối, đáng sợ với đầy rẫy những cạm bẫy rình rập của mình. Nói chung, Nguyễn Du chú trọng nhiều đến màu sắc của thiên nhiên, đặc biệt là của hoàng hôn, của cây cỏ, của trăng và của nước. Đó là những màu sắc thi vị, nhưng lại gieo ấn tượng cho một nỗi buồn xa xăm, cũng chỉ vì truyện Kiều mang bản chất nhiều nỗi buồn hơn vui.  
Nghệ thuật tả cảnh bằng thơ của Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều màu sắc như bức tranh của một người họa sĩ. Trước tiên phải là ánh sáng, một yếu tố nhấn cơ bản, rồi sau đó mới tới các màu sắc với sự pha chế sao cho làm nổi được mảng chính và mảng phụ. Hãy xem một cảnh xuân tươi mát trên đồng quê qua ngòi bút tả cảnh đầy màu sắc của Nguyễn Du trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”: ”Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”Thật là một bức tranh màu sắc thanh nhã tuyệt hảo: trên thảm cỏ xanh mướt bao la- màu xanh non mới mẻ, tinh khôi, đầy sức sống; dưới bầu trời mênh mông với màu xanh khoáng đạt, trong trẻo; nổi những bông hoa lê trắng tinh- màu trắng nhẹ nhàng, thanh khiết. Chỉ có hai màu xanh và trắng, Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh hài hoà đến tuyệt diệu, dù không rực rỡ nhưng vẫn hết sức vui tươi, thể hiện tâm trạng của chị em Thuý Kiều trong buổi du xuân. Ở đây cũng cần để ý tới lối đảo chữ tài tình của Nguyễn Du. Thay vì “ cành lê điểm một vài bông hoa trắng” thì Nguyễn Du đã viết:”cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Tất nhiên có thể Nguyễn Du đã phải đảo chữ chỉ vì tôn trọng luật “bằng trắc” của thơ lục bát , nhưng cũng phải công nhận đó là một lối đảo chữ tài tình mà không phải ai cũng làm được. Chữ điểm làm cảnh vật có hồn chứ không tĩnh tại. 
Cũng trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một lối tả cảnh ngụ tình khác nữa. Nguyễn Du vừa đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh, tạo nên một sự giao hòa tuyệt vời hai chiều giữa cảnh và người, giữa cái vô tri và cái tâm thức để tuy hai mà một, tuy một mà hai. Nói một cách khác , Nguyễn Du tả cảnh mà thâm ý luôn luôn đem cái cảm xúc của người đối cảnh cho chi phối lên cảnh vật. Điều này khiến cho cảnh vật trở thành linh hoạt như có một tâm hồn hay một nỗi xúc cảm riêng tư nào đó. Ví dụ như đoạn thơ cuối trong “cảnh ngày xuân”: 
“Tà tà bóng ngả về tây, 
Chị em thơ thẩn dan tay ra về. 
Bước lần theo ngọn tiểu khê 
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. 
Nao nao dòng nước uốn quanh, 
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.” 
Nguyễn Du không chỉ miêu tả cảnh sắc thiên nhiên theo bước đi của thời gian mà còn nhuộm màu tâm trạng đó là tâm trạng của chị em Kiều lúc này, tất cả đều lắng xuống, chơi vơi trong một trạng thái mơ hồ nhưng có thực. Nó là nỗi bâng khuâng, man mác nuối tiếc. Ngay ở câu đầu thôi, chúng ta đã nhìn thấy được cảnh vật trở nên trầm buồn hơn vào buổi chiều tà. Chị em Kiều du xuân ra về thì trời vừa ngả bóng hoàng hôn. Nguyễn Du dùng hai chữ “tà tà “ chỉ một hành động chậm rãi, có thể là chị em Kiều thong thả bước chân ra về, mà cũng có thể chỉ sự xuống chầm chậm của mặt trời chiều. Đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật. Dường như con người cũng chìm trong một cảm xúc bâng khuâng khó tả. Ở câu thơ tiếp đó, tác giả miêu tả hành động, tâm trạng của hai chị em cũng bần thần, nuối tiếc, lặng buồn. Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, “dan tay” tưởng là vui nhưng thực chất là chia sẻ cái buồn không nói hết. Không gian không còn cái bát ngát, trong sáng mà đang nhẹ dần, lặng dần. “Nao nao” chỉ tâm sự con người, nhưng cũng chỉ sự ngập ngừng lãng đãng của dòng nước trôi dưới chân cầu. Thực sự tác giả đã làm nhịp thơ dường như chậm hẳn lại. Cách dùng từ như thế này biểu hiện tài hoa và khéo léo của Nguyễn Du khi lấy đà để chuyển ý của câu chuyện sang một cảnh mới với mối tâm trạng mới của nhân vật: Cảnh chị em Kiều sẽ gặp nấm mồ Đạm Tiên sau đó.Tóm lại, nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du thật là muôn hình vạn trạng. Nghệ thuật ấy chẳng khác gì nghệ thuật vẽ một bức tranh thủy mạc, nhiều khi chỉ một mảnh trời, một ánh trăng, một cánh hoa, một dòng nước hay một áng mây hoàng hôn. Chỉ thế thôi, nhưng chữ dùng về màu sắc và cách sắp đặt cảnh gần xa thật tài tình đã đủ lôi cuốn tâm hồn người đọc, như để cùng chung hòa vào cảnh vật. Một điều không thể chối cãi được là Nguyễn Du rất yêu cảnh thiên nhiên nên đã ban cho cảnh thiên nhiên một “hồn người”. Giá trị văn chương tả cảnh của Nguyễn Du đã đạt tới mức tinh diệu để chỉ riêng một lãnh vực tả cảnh không thôi, cũng đủ truyện Kiều không hổ thẹn để xứng đáng là một tác phẩm truyện thơ nôm hay nhất trong kho tàng văn học của nước ta. 
&nbsp; 
&nbsp; 
Đề 2: Xây dựng hệ thống luận điểm, luận cứ: 
I/ Hãy chứng tỏ nghệ thuật khắc hoạ nhân vật chính diện thông qua đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”. 
Bài làm 
A/ Mở bài: 
-Nêu lên địa vị của Truyện Kiều trong nền văn học Việt Nam và thế giới. 
-Một trong những yếu tố để đạt được thành công đó là nghệ thuật khắc hoạ nhân vật tài tình của Nguyễn Du. 
B/ Thân bài: 
-Tác giả đã khắc hoạ chân dung cả hai chị em rất thành công. 
-Đoạn đầu, khi tả cả hai chị em: 
+Tác giả dùng bút pháp ước lệ, ví vẻ đẹp của hai chị em với “mai” và “tuyết”, là hai hình tượng rất đẹp, là chuẩn mực của quan niệm phong kiến, thể hiện sự thanh tao, mảnh dẻ, trong trắng, thanh khiết và tao nhã. 
+”Mười phân vẹn mười”: tả vẻ đẹp hoàn hảo, không chê vào đâu được. 
-Tả Thuý Vân: 
+Hai chữ “trang trọng” gợi vẻ đẹp cao sang, quý phái. 
+Vẻ đoan trang của ngườu thiếu nữ được so sánh với hình tượng thiên nhiên, với những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. 
&gt;Thuý Vân có khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn như mặt trăng. 
&gt;Lông mày sắc nét như ngài. 
&gt;Miệng cười tươi như hoa, tiếng nói trong như tiếng ngọc rung. 
&gt;Mái tóc đen óng mềm mại hơn mây. 
&gt;Làn da trắng mịn hơn tuyết. 
+Sử dụng bút pháp ước lệ, thủ pháp liệt kê và biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, tác giả làm nổi bật vẻ đẹp thuỳ mị, đoan trang, phúc hậu của Thuý Vân. 
+Chân dung Thuý Vân là chân dung tích cách, số phận: vẻ đẹp tạo sự hoà hợp, êm đềm với xung quanh: mây thua, tuyết nhường, nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ, ít sóng gió. 
-Gợi tả vẻ đẹp của Thuý Kiều: 
+Dù Thuý Vân đã rất đẹp nhưng Thuý Kiều lại “càng sắc sảo mặn mà”: sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn. 
+Nhan sắc của Thuý Kiều được gợi ra từ đôi mắt trong sáng, long lanh như nước hồ thu, đôi mày xinh tươi như dáng núi mùa xuân, thể hiện sự tinh anh. 
+Vẻ đẹp của Kiều rực rỡ khác thường khiến tạo hoá phải ghét ghen, thiên nhiên nảy sinh lòng đố kị. 
+Gợi tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, Nguyễn Du vẫn dùng những hình tượng nghệ thuật ước lệ, thiên về gợi, tạo ấn tượng chung về một giai nhân tuyệt thế. 
+Kiều còn là cô gái thông minh và rất mực tài hoa: 
&gt;Tài năng đtạ tới mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến, gồm đủ cả cầm, kì, thi, họa. 
&gt;Trong đó nổi bật là tài đàn. Cực tả cái tài đàn của Kiều cũng là gợi cái tâm của nàng. Cung đàn Bạc mệnh mà Kiều tự sáng tác là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm, có đời sống nội tâm sâu sắc. Tiếng đàn như dự báo về cuộc đời bạc mệnh của nàng. Sau này, mỗi khi Kiều gặp biến cố thì tiếng đàn lại vang lên, nó hô ứng với nhan đề tác phẩm: “đoạn trường tân thanh”. 
+Vẻ đẹp của Kiểu là sự kết hợp sắc- tài- tình. Miêu tả vẻ đẹp ấy, Nguyễn Du như dự báo số phận nàng sẽ đau khổ. Chân dung Thuý Kiều cũng là chân dung tính cách, số phận.  
à Nguyễn Du không chỉ miêu tả được chân dung nhân vật mà còn dự báo trước tương lai nhân vật, không chỉ truyền cho người đọc tình cảm yêu mến mà còn cả nỗi lo âu, phấp phỏng về tương lai của nhân vật. 
C/ Kết bài:  
-Nghệ thuật miêu tả người của Nguyễn Du rất đặc sắc và tiêu biểu. 
-Chúng ta cần học tập ông. 
 &nbsp; 
 &nbsp; 
 &nbsp; 
 &nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/10/27 21:02:28</pubDate>
            <guid><![CDATA[Bài văn:160]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Nhà tớ vẫn chủ yếu ở Facebook!!!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/carol_love_menfuisu_26295/article?mid=154]]></link>
            <description><![CDATA[http://www.facebook.com/photo.php?pid=380051&amp;id=1664843985#/profile.php?id=100000058288684&amp;ref=profile]]></description>
            <pubDate>2009/10/25 11:42:35</pubDate>
            <guid><![CDATA[Nhà tớ vẫn chủ yếu ở Facebook!!!:154]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[ảnh ót]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/carol_love_menfuisu_26295/article?mid=130]]></link>
            <description><![CDATA[]]></description>
            <pubDate>2009/09/14 15:58:45</pubDate>
            <guid><![CDATA[ảnh ót:130]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- api2.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Sat Nov 28 07:42:57 SGT 2009 -->
