<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[LOve you Forever]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0]]></link>
        <description><![CDATA[Blog la` noi toi chia se nhung niem vui noi buon trong cuoc song.]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2009/11/14 20:57:23</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[Phep tinh tinh cach]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=63]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
Hay~ thu 1 so&#39; phep tinh&#39; don gian~ nha:
&nbsp;
&nbsp;+ Thật Thà + Nhiệt tình = Dại gái ( Boy) 
+&nbsp; Hào Phóng + Chịu CHơi = Ga-Lăng ( B )
+ Ngu Ngốc + Chịu Chơi = Mạo Hiểm ( B và G )
+&nbsp;Yêu + Ngu Ngốc = Si Tình (&nbsp;B )
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; =&nbsp; Mù Quáng (&nbsp;G )
+ Mạnh Mẽ + Nóng Nảy = Vũ Phu ( B )
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;=&nbsp;&nbsp;Cá&nbsp;Tính ( G )
+ Yếu&nbsp;Đuối + $$ = Công Tử Bột ( B )
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; = Yểu&nbsp;Điệu ( G )
+&nbsp;Yểu&nbsp;Điệu + Cá Tính =&nbsp;Thất Thường ( G )
+&nbsp;Ngu Dốt + Nhiệt Tình = Phá HOại ( B&amp;G )
+ Phá Hoại + Si Tình&nbsp; = Bạo Tình 
+Thật Thà + Trung THực = Chân Thật
+ Chân Thật&nbsp; - Trung Thực = Gian Dối
+ Gian Dối&nbsp; + Trung Thực = Gian Xảo 
Pó Tay . Mình làm Phép Tính mà cũng 
Hãy cho minh` điểm của những phép tính này nha
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/05/28 10:56:49</pubDate>
            <guid><![CDATA[Phep tinh tinh cach:63]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[ZINg. sao toi pham? ha]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=61]]></link>
            <description><![CDATA[Minh thay hay hay nen copy lai cho ca nha. HI` 
Những sao châu Á từng ở tù
(Zing) - Điều bất ngờ là trong danh sách này lại có nhiều ngôi sao nổi tiếng như Cổ Thiên Lạc, Tạ Đình Phong, Lưu Hiểu Khánh...
&gt;&gt;Sao ca nhạc đại lục bị bắt vì ma túy
1. Mãn Văn Quân





Hôm 19/5 vừa qua, ngôi sao ca nhạc nổi tiếng của đại lục Mãn Văn Quân trong bữa tiệc sinh nhật tổ chức cho vợ đã bị phát hiện dùng thuốc lắc và hút thuốc phiện. Anh đã bị phạt 14 ngày ở trong tù.
2. Tạ Đình Phong





Tháng 3/2002, do lái xe ẩu nên ngôi sao Hong Kong đã bị phạt phải phục vụ công ích xã hội 240 tiếng.
3. Cổ Thiên Lạc





Ngay từ khi 15 tuổi, Cổ Thiên Lạc đã phải bươn chải để kiếm sống. Anh từng đi bán quần áo, làm bảo kê, nhân viên của Mc Donald… để kiếm tiền. Cũng giống như nhân vật trong phim Người trong giang hồ, cuộc sống xung quanh anh chỉ là những kẻ côn đồ, lưu manh. Một lần, do nông nổi, anh đã đi giật túi xách và bị phạt 22 tháng tù giam.
4. Tạng Thiên Sóc





Tháng 11/2008, Tạng Thiên Sóc có liên quan đến vụ ẩu đả gây chết người và bị ở tù cho đến tận bây giờ. Tuy nhiên, sự thật anh có liên quan tới vụ gây chết người đó hay không, đến giờ cảnh sát vẫn đang điều tra.
5. Tiêu Thục Thận





12/2006, diễn viên Đài Loan này do dính dáng đến vụ tổ chức hút thuốc phiện trái phép đã bị tạm giam 115 ngày. Tuy nhiên sau khi ra tù, một lần nữa cô giẫm vào vết xe đổ lần trước và lại bị tạm giam.
6. Lưu Hiểu Khánh





7/2002, đại tỉ của giới giải trí đại lục bị bắt do kinh doanh nhưng lại trốn thuế với số tiền rất lớn. Công ty mang tên cô thành lập từ năm 2006 đã từng nhiều lần trốn thuế và cô đã bị giam giữ hơn 1 năm. Tuy nhiên, người tình cũ Giang Văn Tứ đã giúp cô ra khỏi tù và chỉ cần phải nộp số tiền thuế mà cô đã trốn.
7. Tạ Đông





26/5/2007, ca sĩ này bị công an Bắc Kinh bắt khi đang hút thuốc phiện với bạn gại tại tư gia. Sau khi bị bắt, anh đã rất tích cực cai nghiện và trở thành người dẫn đầu trong phong trào cai nghiện. Tuy nhiên, 2/3/2008 anh lại bị bắt một lần nữa, bị giam 10 ngày cũng chỉ vì thuốc phiện.
8. Điền Hải Trung





Vào những năm 1980, trong lúc quay phim, tổ đạo diễn đã xảy ra cãi lộn. Điền Hải Trung nhảy vào can ngăn nhưng không ngờ khi anh đẩy một người ra thì nam diễn viên đó bị đập đầu xuống đất và chết. Anh bị phạt tù 4 năm 6 tháng với tội danh ngộ sát.
9. Tiền Tiểu Hào





Diễn viên nổi tiếng trong các phim hành động đã bị phạt 2 năm tù khi chụp trộm ảnh từ phía dưới các nữ khách hàng mặc váy trong siêu thị.
10. Đậu Duy





10/5/2006, Đậu Duy đã có những hành động quá khích khi tỏ ra bất mãn với báo Tân Kinh. Anh đã đập các máy vi tính và thậm chí còn đốt xe của nhân viên tờ báo. Anh cũng bị ở tù vài ngày để tự xem xét về hành vi của mình.
11. Trịnh Trung Cơ





Ca sĩ nổi tiếng này trong chuyến bay từ L.A về Đài Loan, do uống rượu say nên anh đã hành hung vị khách nước ngoài ngồi bên cạnh mình và sàm sỡ với hành khách nữ. 25/9/2001, anh đã bị phạt 4 tháng tù giam.
12. Hồng Đậu





Nam ca sĩ này nổi tiếng vào những năm 1990. Do công việc không thuận lợi vào khoảng từ tháng 4/2000 đến tháng 6/2001, anh lấy danh nghĩa chơi game và câu cá để rủ 7 cậu bé tuổi từ 12-14 vào khách sạn tiến hành mua bán dâm. Hồng Đậu bị phạt tù 3 năm 6 tháng vì tội danh giao cấu với trẻ em vị thành niên.
13. Tô Vĩnh Khang





Sáng sớm 8/6/2002, Tô Vĩnh Khang và bạn đi giải trí tại hộp đêm Texsound Pub, Đài Bắc. Anh bị bắt vì bị nghi sử dụng thuốc lắc. Đến ngày 2/8, anh phủ nhận mình dùng thuốc phiện nhưng vẫn đồng ý vào trại cai nghiện.
Vân Nga My]]></description>
            <pubDate>2009/05/27 11:11:55</pubDate>
            <guid><![CDATA[ZINg. sao toi pham? ha:61]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Khanh phuong ong trum sao chep nhac hoa!!!!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=52]]></link>
            <description><![CDATA[Khanh Phuong than tuong mot thoi cua cac fan ma` lai di dao nhac nguoi` ta neu ai ko tin thi` minh` xin dua ra 1 so dan chung xac thuc:
Bai` hat&#39; chui KHANH PHUONG:
http://www.youtube.com/watch?v=eiJQFJ0xuSs
1.Mưa Thủy Tinh 2.Xin Lỗi Em Yêu 3.Tam Sinh Duyên 4.Cảm Giác Chỉ Dành Cho Em 5. Lời Xin Lỗi Anh Cũng Không Nói Được Credit: www.clip.vn http://tintuc.timnhanh.com/... http://www.nhaccuatui.com/n....
Cac&nbsp;bai hat tren da dc khanh phuong dao lai tu n~ tac&#39; pham cuc hot cua cac&nbsp; band noi tieng
Cac ban co&#39; con` nho&#39; vu bao thy ko. Neu ai ko nho thi` link ne`:
http://www.youtube.com/watch?v=KCXAAlKVfmE
Khi nghe xong chac cac ban cung se co&#39; cung` tam trang voi minh`]]></description>
            <pubDate>2009/02/26 08:38:02</pubDate>
            <guid><![CDATA[Khanh phuong ong trum sao chep nhac hoa!!!!:52]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[valentine day]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=50]]></link>
            <description><![CDATA[Vào thế kỷ III tại Roma, có người thầy tu tên là Valentine bị hoàng đế Claudius bắt giam vào ngục tối. Trớ trêu thay, con gái viên cai ngục đã đem lòng yêu thương ông. Trước khi qua đời, ông gửi cho cô bức thư nhỏ cảm ơn về tình bạn, niềm tin và sự trung thành. Bức thư đã khởi đầu cho phong tục gửi tặng nhau những thông điệp tình yêu. Ngày mất của ông - 14/2/269 - trở thành Ngày lễ Tình yêu.&quot;Sắp đến Valentine day rồi mà mình vẫn chưa chuẩn bị lời chúc nào cho người ấy cả? – “Người ấy” là một nửa thất lạc mình vẫn đang đi tìm kiếm. Nhưng Valentine này mình quyết định sẽ dành tặng cho “người ấy” những lời yêu thương nhất và chân thành nhất.Đối với những người đang yêu thì Valentine day được thể hiện tình cảm với nhau, còn những người sắp sửa bước vào cánh cửa tình yêu thì sẽ có dịp thổ lộ với “người ta” tình cảm của mình. Còn với những người họ đã kết hôn thì sao nhỉ? Đôi khi họ sợ cho là “sến” nếu như họ thể hiện với vợ hoặc chồng như khi họ yêu nhau, và có khi hiện nay đang sống với nhau là do nghĩa vụ và trách nhiệm.Dù sao đi nữa thì “yêu thương” cũng là một trong những nhu cầu tất yếu của con người. Yêu và được yêu! Đó là điều mà&nbsp;minh` mong muốn và chắc cũng là mong muốn của các bạn phải không? Vậy với bạn, Valentine day có ý nghĩa như thế nào??? Và Bạn sẽ gửi cho người bạn yêu thương món quà gì nhỉ? Bạn mong rằng mình sẽ nhận được gì trong ngày Valentine?Trước hết thì minh`sẽ dành tặng cho người ấy một món quà. Quà gì thì chưa có vì người ấy vẫn chưa có mà. Còn lời chúc hả? Mình chỉ mong nhận được một câu thôi “Anh yêu em” thế là đủ rùi. Nhưng chắc người ấy của mình không run tới nỗi phải nói lắp như: anh ...yêu ...yêu...em emanh anh ...yêu .. em...anh ... yêu ... em ... em... anh anh...yêu... em em.... Mà phải nói thật rõ: Anh yêu em Còn đây là lời chúc của&nbsp;minh` dành cho người ấy:Anh – Người yêu của em. Em biết rằng mình đã chờ đợi anh “mấy chục” năm nay và anh cũng như vậy. Chúng ta vẫn tiếp tục cuộc hành trình để cuối cùng sẽ có một ngày chúng ta nhận ra nhau.Anh yêu! Em yêu anh không vì anh đẹp trai, không vì anh … mà đơn giản là em yêu anh chứ không vì một lý do nào khác cả. Em không biết sẽ dành tặng cho anh món quà gì vì em nghĩ rằng chúng sẽ không thể hiện hết tất cả tình cảm em dành cho anh. Em mong rằng em sẽ nhận được món quà rất lớn từ anh – Đó chính là tình yêu của anh, có được không anh?Còn bạn thì sao nào?]]></description>
            <pubDate>2009/02/15 09:14:54</pubDate>
            <guid><![CDATA[valentine day:50]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Lee Hyori]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=48]]></link>
            <description><![CDATA[


(Lee Hyori) 


Lee Hyori, 30 tháng 10 năm 2007

 Thông tin nghệ sĩ 

 Tên&nbsp;khai&nbsp;sinh 
Lee Hyori

 Ngày sinh 
10 tháng 5 năm 1979 (29&nbsp;tuổi)

 Nguyên quán 
Cheongwon, Chungcheongbuk-do, &nbsp;Hàn Quốc

Thể loại 
K-pop

 Nghề nghiệp 
Ca sĩ, diễn viên

 Năm&nbsp;hoạt&nbsp;động 
1998 - 2002 (thành viên nhóm Fin.K.L)2003 - nay

Hãng đĩa 
M-Net Entertainment
Lee Hyori (tiếng Hàn: 이효리), sinh ngày 10 tháng 5 năm 1979, là một nữ ca sĩ và diễn viên Hàn Quốc. Từng là thành viên của nhón nhạc nữ rất thành công Fin.K.L, nhưng cô lại tỏa sáng khi theo đuổi sự nghiệp solo.





Mục lục[ẩn]

1 Sự nghiệp solo 
2 Phong cách thời trang 
3 Album 

3.1 Diễn xuất 
3.2 Những bài hát đã trình bày 
3.3 Liên kết ngoài 
 


[sửa] Sự nghiệp solo
Kể từ khi tách khỏi nhóm nhạc nữ Fin.K.L và phát triển sự nghiệp solo trong năm 2005, Lee Hyori đã nhanh chóng trở thành một trong những tên tuổi nóng nhất trên sân khấu nhạc trẻ Hàn Quốc.
Lee hấp dẫn khán giả trẻ bởi phong cách biểu diễn gợi cảm, vẻ đẹp khoẻ khoắn được thể hiện trọn vẹn trên các tạp chí thời trang, âm nhạc hàng đầu của Hàn Quốc cùng những video clip nóng bỏng. Chính vì vậy, báo giới châu Á không ngần ngại tặng ngay cho cô ca sĩ 28 tuổi nickname &quot;Britney Spears của châu Á&quot;.
Tính đến nay, sau ba album được phát hành lần lượt các năm, Lee Hyori được xem là một trong những nữ ca sĩ giàu có nhất xứ sở kim chi. Tháng 11 năm ngoái, Lee đã ký hợp đồng ba năm với hãng giải trí M-Net và trở thành “nữ nghệ sĩ đắt giá nhất Hàn Quốc”[cần&nbsp;dẫn&nbsp;nguồn].
Sau hợp đồng này, Lee đã lao vào làm việc, cô xuất hiện trên rất nhiều tạp chí, tham gia một bộ phim truyền hình (Like these love cùng Lee Dong Gun) và tung ra single mới nhất, Toc Toc Toc, vào ngày 25/2 vừa rồi. Ngay khi Toc Toc Toc được phát trên sóng SBS, ca khúc sôi động này đã chiếm được cảm tình của các fan nhạc trẻ.
Cùng với việc trở lại sân khấu nhạc trẻ, Lee Hyori còn hứa hẹn sẽ mang đến một hình ảnh mới - trong sáng, dễ thương khác hẳn thương hiệu “cô nàng sexy” mà báo giới vẫn gán cho cô bấy lâu nay.
Hiện nay cô đang dồ sức thâm nhập thị trường ca nhạc Nhật Bản - một thị trường lớn đối với phần đông các nghệ sĩ Hàn Quốc.

[sửa] Phong cách thời trang
Lee Hyori được xem là một trong những ngôi sao châu Á đi đầu về phong cách thời trang. Từ khi Lee Hyori tách nhóm nhạc nữ Fin.K.L để phát triển sự nghiệp solo trong năm 2003, nữ ca sĩ này đã tạo cho mình một dấu ấn riêng: đó là da nâu bóng, thân hình đầy đặn, với đường cong chữ S đầy quyến rũ.

[sửa] Album
Album đầu tiên trong sự nghiệp sô-lô của Lee là Stylish E và đạt lượng tiêu thụ hơn 170.000 bản chỉ tính riêng tại Hàn Quốc. Với một tạo hình hoàn toàn khác - khoẻ khoắn cùng nước da bánh mật hấp dẫn, và một phong cách biểu diễn gợi cảm - Lee Hyori đã chinh phục được các fan yêu nhạc trẻ. Album này cũng mang về cho Lee giải thưởng âm nhạc danh giá nhất, giải Daesangs cùng hơn 7 giải thưởng “Nữ nghệ sỹ của năm” khác.
Album solo thứ hai mang tên Dark Angel của Hyori được thực hiện và tung ra hồi tháng 2/2006. Tuy nhiên, album này không được đánh giá cao, nếu không nói là khá “chìm” nếu như không có vụ scandal single Get Ya của cô bị kiện sao chép lại Do Something của Britney Spears. Album vol3 dự kiến phát hành vào giữa năm nay,phong cách chủ đạo được nữ hoàng gợi cảm giới thiệu sẽ là balad.

[sửa] Diễn xuất
Trong năm nay, Lee Hyori hồ hởi và hứa hẹn một sự trở lại màn ảnh nhỏ ấn tượng với vai trò một diễn viên trong bộ phim truyền hình If In Love... Like Them cùng nam diễn viên Lee Dong Gun. Đây là bộ phim truyền hình thứ hai trong sự nghiệp của cô sau bộ phim truyền hình Cỏ ba lá của đài KBS (năm 2004) không mấy thành công. Năm nay,cô sẽ tham gia với tư cách khách mời seri phim On Air.Một seri phim nổi tiếng của đài SBS nói về cuộc sống của người nổi tiếng và những sự thật về ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc.

[sửa] Những bài hát đã trình bày

Anymotion(MV) 
Love You Even Thought I Hate You(MV) 
Don&#39;t Cry 
U Go Girl(MV) 
10 Minutes(MV) 
Hey Mr.Big(MV) 
Toc Toc Toc(MV) 
Anystar(MV) 
Get Ya(MV) 
Dark Angel(MV) ]]></description>
            <pubDate>2009/01/22 15:32:33</pubDate>
            <guid><![CDATA[Lee Hyori:48]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Boa ca si sang gia]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=46]]></link>
            <description><![CDATA[


Kwon, BoA권보아BoA

Ca sỹ Hàn Quốc BoA.
Nguyên quán 
Cửu Lý, Hàn Quốc
Nước 
{{{country}}}
Hoạt động 
2000–nay
Loại nhạc 
J-pop, K-pop, Pop
Hãng đĩa 
SM Entertainment (Hàn Quốc),Avex Trax &amp; SM Entertainment Japan (Nhật Bản)
Kwon Boa (tiếng Hàn Quốc: 권보아; nghệ danh theo Hanja: 權寶兒, phiên âm Hán Việt: Quyền Bảo Nhi), còn được biết đến với cái tên BoA, sinh ngày 5 tháng 11 năm 1986 tại thành phố Cửu Lý (Guri hay Goori), thuộc tỉnh Kinh Kỳ (Kyungki hay Kyungkido) của Hàn Quốc, là một ca sỹ nhạc pop Hàn Quốc. Cô phát hành các đĩa nhạc chủ yếu tại Hàn Quốc và Nhật Bản và công ty thu âm SM Entertainement muốn đưa cô lên vị trí ngôi sao ca nhạc của toàn châu Á. Ngoài tiếng Triều Tiên là tiếng mẹ đẻ, Boa có thể nói lưu loát tiếng Nhật, đàm thoại tốt bằng tiếng Anh và hiện đang học tiếng Quan Thoại.






Mục lục[ẩn]

1 Album tiếng Hàn Quốc 
2 Bộ phim Hàn Quốc tham gia 
3 Album tiếng Nhật 
4 Các album đã phát hành 
5 Các single 
6 SM town 
7 Bộ phim Nhật tham gia 
8 Thông tin cá nhân 

8.1 Linh tinh 
8.2 Sở thích 
8.3 Ấn tượng 
8.4 Với fan 
8.5 Giải thưởng 
8.6 Bộ phim đã tham gia 
8.7 Đỉnh cao sự nghiệp nhưng lại cô đơn 
8.8 Ca sĩ sáng giá ở Nhật Bản 
9 Liên kết ngoài 

[sửa] Album tiếng Hàn Quốc

26/8/2000 ID; Peace B: bán 218.114 bản 
12/4/2002 NO.1: bán 572.958 bản 
30/5/2003 Atlantis Princess: bán 343.052 bản 
11/6/2004 My Name: bán 205.000 bản (hạng 1 music box Hàn Quốc) 
24/6/2005 Girls on Top: bán hơn 300000 bản (hạng 1 tại Đài Loan, hạng nhì tại Hàn Quốc) 

[sửa] Bộ phim Hàn Quốc tham gia

Người Tình Của 1010 
Korean Snail 

[sửa] Album tiếng Nhật

13/3/2002 LISTEN TO MY HEART - bán 930.000 bản (hơn 1.300.000 bản trên toàn thế giới, hạng 1 Oricon chart Gold Disk Award của Nhật) 
29/1/2003 VALENTI - bán 1.250.000 bản (hơn 1.400.000 bản trên toàn thế giới, hạng 1 Oricon, Gold Disk award) 
15/1/2004 LOVE &amp; HONESTY - bán 650.000 bản (hơn 800.000 bản trên toàn thế giới, hạng 1 Oricon) 
Các single:

七色の明日~brand new beat~ / Your Color, đứng đầu bảng xếp hạng tại Nhật, trong đó có một bài tự sáng tác là Your Color 
Key of Heart 
MADE IN TWENTY,hạng nhất best seller tại các nước châu Á,hạng nhất Music Box Hàn Quốc,hạng nhất bản xếp hạng Oricon,hạng nhất bảng xếp hạng Music World Chart [bảng xếp hạng âm nhạc thế giới] 

[sửa] Các album đã phát hành

ID; Peace B 
Listen To My Heart 
Girls on Top 
Atlantis Princess 
VALENTI 
Outgrow 
MADE IN TWENTY(20) 

[sửa] Các single

ID; Peace B (Nhật) 
Amazing Kiss (Nhật) 
気持ちはつたわる (Nhật) 
the meaning of peace - Koda Kumi, BoA (Nhật) 
LISTEN TO MY HEART (Nhật) 
Every Heart -ミンナノキモチ- (Nhật) 
Don&#39;t Start Now (Nhật) 
VALENTI (Nhật) 
奇蹟 / NO.1 (Nhật) 
JEWEL SONG / BESIDE YOU -僕を呼ぶ声- (Nhật) 
Shine We Are! / Earthsong (Nhật) 
DOUBLE (Nhật) 
Rock With You (Nhật) 
Be the one (Nhật) 
The Love Bug - m-flo, BoA (Nhật) 
QUINCY / コノヨノシルシ (Nhật) 
メリクリ (Nhật) 
DO THE MOTION (Nhật) 
make a secret (Nhật) 
抱きしめる (Nhật) 
Everlasting (Nhật) 
七色の明日~brand new beat~ / Your Color (Nhật) 
KEY OF HEART / DOTCH (Nhật) 
Winter Love (Nhật) 
Double (Hàn) 
Rock With You (Hàn) 
메리-크리 (Hàn) 
Everlasting (Hàn) 
Sweet Impact/Bad Drive/So real 
Love Letter (Nhật) 

[sửa] SM town

Waiting for White Christmas 
Angel Eyes 
Summer Vacation 
Hello Summer 
Paradise 
Summer In My Dream 
Snow Flake 
Dear My Family 
My Angel My Light 
Hot Mail 
Red Sun 
Snow Dream 
Let&#39;s Go On Vacation 
Only love 

[sửa] Bộ phim Nhật tham gia

Người tình của 1010 
Korean Snail 

[sửa] Thông tin cá nhân

Tên: 보아, đây là tên thuần Hàn, phiên sang chữ cái Latinh là BoA 
Họ: 권, Tiếng Hán là 權 Quyền, phiên Latinh là Kwon 
Các cách phiên Latinh khác: Gweon Bo A hay Gwon BoA 
Nghệ danh: BoA (Beat of Angel) 
Cách đọc tên: Kwon Bo Ah, âm Hán Việt là Quyền Bảo Nhã/ Bảo Nhi/ Bảo Nga 
Biệt Danh&nbsp;: Kkamshi [cô bé da ngăm đen] 
Ngày sinh: 5 tháng 11 năm 1986.(Nov 5th 1986) 
Cao: 1,63 m 
Nặng: 45 kg 
Cỡ giày: 23,5 cm (size 37) 
Nhóm máu: AB 
Tôn giáo: Công giáo 
Sinh ra tại Tỉnh Kyungkido Goorisi , Hàn Quốc( lớn lên ở Seoul ) 
Đang sống tại: Chungdam-Dong, thủ đô Seoul, Hàn Quốc 
Sở thích: nghe nhạc (nhất là nhạc hip hop), nhảy, ca hát, shopping, xem phim v.v. 
Ngôn ngữ: tiếng Hàn Quốc (tiếng mẹ đẻ), Anh ngữ, Nhật ngữ, đang học tiếng Quan Thoại. 
Thành viên gia đình: ba mẹ, 2 anh 
Con thú cưng: con mèo Sara 
Giấc mơ thuở bé: làm ca sĩ 
Ngày biểu diễn đầu tiên trên sân khấu lớn: khi 13 tuổi vào ngày 25 tháng 8 năm 2000 
Các trường đã học: trường tiểu học Yangjung; trường trung học cơ sở Sahmyookow; trung học phổ thông Korean Kent Foreign School 

[sửa] Linh tinh

Nhạc chuông: bài &quot;Nuh Jung Mal&quot; của Kim Hyun Jung 
Màn hình điện thọai: một phù thuỷ phun lửa thành hình trái tim 
Ước mơ khi mới là ca sĩ: có riêng một live show 
Sở thích về sinh hoạt hằng ngày: mở nhạc nhỏ để nhẩm lại bài hát 
Mê tín: nếu ssang kka pul (kính sát tròng) của cô rơi ra thì việc ngày hôm ấy sẽ không tốt 
Người cô kính trọng nhất: mẹ 
Cô tự tin ở điểm nào trên gương mặt: mắt, mũi, đôi môi 
Nơi thường lui tới: ở SM và beauty salon 
Phong cách ăn mặc: hip hop 
Điều cô BoA nghĩ khi thấy các fan học sinh xung quanh cô: À! Mình phải đến trường. 
Vật không thể thiếu trong túi: điện thoại di động 
Điều BoA hay quên: tên người khác. 
Nơi BoA muốn tới khi đám cưới: đảo Hawaii 
Ấn tượng về BoA: luôn nói &quot;tôi sẽ gọi lại cho bạn sau&quot; khi nhấc điện thoại của ai đó 

[sửa] Sở thích

Ca sĩ thích nhất: Mariah Carey, Jodeci, Kim Hyun Jung, Kim Johan, Seo Taiji, Nelly 
Thể loại nhạc ưa thích: nhạc dance, nhạc hip hop (hay nhạc rap), nhạc R&amp;B và nhạc pop 
Bài hát thích nhất: &quot;Hot In Here&quot; của Nelly &amp; The Neptunes 
Bộ phim thích nhất: Men In Black II 
Màu sắc ưa thích: màu be, vàng, đen, trắng, xám, nâu 
Mẫu hình chồng tương lai: chàng trai thông minh, rộng lượng, không quá mập cũng như quá cao 
Nhân vật hoạt hình ưa thích: Winnie the Pooh[[Mashimaro] 
Thức uống: trà bubble 
Nước hoa ưa thích: Samurai, NiNa Ricci (của Nhật) 
Câu cửa miệng ưa thích: Bạn sẽ đi đến mục đích nếu làm việc siêng năng (Work hard toward your goals) 

[sửa] Ấn tượng

Trước khi biểu diễn thì thời gian khoái nhất là tới phòng thu âm của SM 
Người gọi điện nhiều nhất là bạn bè của BoA, BoA cũng thích nói chuyện lâu với bạn bè qua điện thoại 
Trang phục được BoA xem trọng nhất khi ra ngoài 
Bài No.1 là bài BoA nhớ nhất 

[sửa] Với fan

BoA luôn tổ chức các buổi gặp mặt người hâm mộ 
Điều cô thấy cảm ơn các fan nhất: cảm ơn vì đã đợi cô 
Điều BoA cảm thấy đáng xin lỗi: để các fan đợi lâu 

[sửa] Giải thưởng
2004

MTV Châu Á: Giải Nghệ sĩ Hàn Quốc được yêu thích nhất, Nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn nhất 
[1]

[sửa] Bộ phim đã tham gia

&quot;Ốc Sên Hàn Quốc&quot; - Dự kiến sẽ tham gia đóng 1 bộ phim hài trong năm nay 2007 sẽ có cấu tạo như phim &quot;Tôi là Kim sam Son&quot; 

[sửa] Đỉnh cao sự nghiệp nhưng lại cô đơn
Trong một cuộc phỏng vấn với Chosun - Một hãng thông tấn hàng đầu của Hàn Quốc, BoA đã nói về sự nghiệp của mình tại Nhật Bản. BoA nhấn mạnh rằng làm một trong những người dẫn đầu của Làn Sóng Hàn Quốc tại Nhật Bản là một điều vô cùng quan trọng đối với cô và BoA luôn tìm và hát những bài hát phù hợp với mình. Ngoài ra, một điều khó khăn mà BoA đã luôn phải cố gắng vượt qua chính là nỗi cô đơn khi phải xa người thân, bạn bè và quê hương. Mỗi khi BoA buồn BoA thường lên các fansite để đọc, để cảm thấy nguôi ngoai nỗi buồn vì luôn có fan ở bên cô. BoA nói: &quot;Có những lúc tôi rất muốn được trả lời các bạn trên các diễn đàn nhưng tôi không được phép làm điều đó&quot;.
Được hỏi về ý kiến của mình về những đổi mới trong album MADE IN TWENTY về phong cách cũng như hình ảnh chín chắn hơn thì BoA không cảm thấy tiếc nuối lắm khi rời xa hình ảnh cũ vì BoA luôn khẳng định rằng chính bản thân cô cũng đang lớn dần và cột mốc hai mươi tuổi là rất quan trọng. Mọi người cần chấp nhận một BoA mới với hình ảnh chững chạc, nữ tính hơn cùng với giọng hát và âm nhạc ngày một hoàn thiện.

[sửa] Ca sĩ sáng giá ở Nhật Bản
Là ca sĩ người nước ngoài, nhưng BoA hiện đứng thứ hai trong danh sách các ca sĩ có nhiều albums đứng #1 Oricon Chart nhất Nhật Bản. Tuy nhiên thông tin này lại bị các fans hiểu nhầm và cho rằng cô là ca sĩ sáng giá thứ hai ở Nhật.]]></description>
            <pubDate>2009/01/19 17:57:29</pubDate>
            <guid><![CDATA[Boa ca si sang gia:46]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Jay chou(châu kiệt luân)]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=38]]></link>
            <description><![CDATA[Châu Kiệt Luân 


  
Jay Chou at &quot;Secret&quot; premiere in Seoul, South Korea, January 10 2008


Phồn thể 
周杰倫


Giản thể 
周杰伦


Bính âm 
Zhōu Jiélún


 Nguyên quán 
Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan)


 Ngày sinh 
18 tháng 1 năm 1979 (29&nbsp;tuổi)


 Nơi sinh 
Lâm Khẩu (hương)-Lâm Khẩu, huyện Đài Bắc, Đài Loan,Trung Hoa Dân quốc


 Tên khác 
Châu đổng (周董)


 Vai trò 
Singer, musician, songwriter, record producer, rapper, director, and actor


 Loại nhạc 
Mandopop, R&amp;B, hip hop, pop rap, C-pop,rock


 Nhạc cụ 
Piano, Cello, Guitar


 Hãng đĩa 
Sony BMG Asia, Alfa Music
JVR Music


 Năm hoạt động 
2000–nay


 Ảnh hưởng bởi 
Nan Quan Mama


 Trang web chính thức 
jay2u.com
jvrmusic.com





[hiChâu Kiệt Luân (chữ Hán: 周杰倫; sinh ngày 18 tháng 1 năm 1979) là nhạc sĩ người Đài Loan đoạt giải thưởng âm nhạc thế giới, đồng thời là ca sĩ, nhà sản xuất nhạc. Châu Kiệt Luân sinh ra tại hương Lâm Khẩu, huyện Đài Bắc, Đài Loan.
Châu Kiệt Luân (Chữ Hán: 周杰倫;&nbsp;; pinyin:
Zhōu Jiélún; Wade-Giles: Chou Chieh-lun; Pe̍h-ōe-jī: Chiu Kia̍t-lûn)
(18/1/1979) là một nhạc sỹ kiêm ca sỹ, nhà sản xuất, diễn viên và đạo
diễn từng đạt giải âm nhạc thế giới. Năm 1998, anh được phát hiện trong
một cuộc thi tài năng, nơi anh đã trình diễn kỹ năng chơi piano
và khả năng viết bài hát của mình. Trong 2 năm kế tiếp, anh được thuê
để sáng tác cho những ca sĩ Trung Quốc nổi tiếng. Với kiến thức về nhạc
cổ điển, anh phối hợp phong cách nhạc Trung Hoa và phương tây để sáng
tác những bài hát hợp nhất các thể loại R&amp;B, rock, và pop, mà trong đó các chủ đề thường đề cập đến sự bạo lực, chiến tranh, và đô thị hóa của quê hương mình.
Năm 2000, anh cho ra album đầu tay mang tên Jay under the record company Alfa Music.
Từ đó về sau, anh điều đặn ra mỗi năm một album, bán được nhiều triệu
bản copies. Tài năng, âm nhạc của anh được công nhận và phổ biến khắp
Châu Á, hầu hết là ở những quốc gia Trung Hoa, Nhật Bản, Hồng Kong, Malaysia, Indonesia, Singapore, Việt Nam, Hàn Quốc,
và trong các cộng đồng Trung Hoa hải ngoại, đoạt hơn 20 giải thưởng mội
năm. Châu Kiệt Lân đã bán trên 25 triệu album trên khắp thế giới. Trong
năm 2007, anh được cho là một trong 50 người ảnh hưởng nhất ở Trung Hoa
( bởi Kerry Brown của Anh ). Anh đã đóng vai chính trong Initial D (2005) và nhờ đó anh đã đoạt giải diễn viên mới xuất sắc trong Golden Horse Arwards, và được tiến cử cho giải Diễn viên phụ hay nhất trong Lễ trao giải phim Hồng Kong trong phim Lời nguyền của bông hoa vàng (Curse of the golden flower 2006). Châu Kiệt Luân đang dồn tâm huyết vào sự nghiệp đạo diễn và đang điều hành công ty nhạc của chính mình JVR Music.




Mục lục
 [ẩn]
1 Cuộc sống ban đầu2 Sự nghiệp âm nhạc3 Những công việc khác4 Media and public relations5 Discography
5.1 Live albums5.2 Compilations5.3 Extended plays5.4 Soundtracks5.5 Other works
6 Filmography7 References8 Liên kết ngoài



 

[sửa] Cuộc sống ban đầu
Châu Kiệt Luân lớn lên trong một thị trấn nhỏ ở Dinkou, Đài Loan. Cha mẹ anh đều là giáo viên trường cấp II: mẹ anh là Ye Hui Mei (Tên Trung Hoa: 葉惠美; pinyin: Yè Huìměi) dạy vẽ trong khi cha anh Zhou Yao Zhong
(Chinese: 周耀中; pinyin: Zhōu Yàozhōng) là một thầy giáo sinh học. Mẹ anh
đã chú ý đến sự nhạy cảm của con trai mình với âm nhạc nên đã cho con
mình học piano năm anh lên lên 4. Trong suốt thời thơ ấu, Châu Kiệt
Luân đã bị hấp dẫn với việc thu âm và bái hát với máy thu âm mà anh
luôn mang theo bên mình. Lên lớp 3, anh trở nên thích lý thuyết âm nhạc
và cũng bắt đầu chơicello. Châu Kiệt Luân thích chơipiano,
bắt chước các diễn viên TV, và biểu diễn ảo thuật. Ba mẹ đã ly dị khi
anh 14 tuổi khiến anh trở nên nhút nhát và sống khép kín. Mặc dù anh có
nhiều bạn, nhưng anh chỉ muốn một mình nghe nhạc, du ngoạn và mơ mộng.
Anh trở nên thích thể loại pop và bắt đầu sáng tác bài hát.
Chou đã không đủ điểm để đỗ đại học nên bị buộc phải phục vụ nghĩa
vụ quân sự. Tuy nhiên, chấn thương trong lúc chơi thể thao đã gây nên
một cơn đau lưng, một căn bệnh viêm xương sống di truyền khiến cho Chou
được miễn phục vụ quân sự. Sau đó, anh đã trở thành một người hầu bàn.
Bạn anh đã ghi danh cho cả hai trong một kỳ thi tài năng được goi là Super New Talent King
mà đã không cho Chou biết. Chou đã chơi piano điệm cho bạn mình, người
có giọng hát được cho là &quot;lousy&quot;. Mặc dù họ không thắng nhưng Chou đã
gây ấn tượng đến người tổ chức chương trình Jacky Wu-an, một nhân vật
có ảnh hưởng trong lãnh vực giãi trí Đài Loan. Wu đã thuê anh như một
nhạc sĩ và cho anh biễu diễn chung với nhà thơ trữ tình Vincent Fang (Chinese: 方文山; pinyin: Fāng Wénshān).
Trong suốt hai năm kế, Chou sáng tác bài hát cho các ca sĩ pop Trung
Hoa, và học thu âm với trộn âm. Wu không dự định cho Chou trở thành một
ca sĩ bởi vì Wu nghĩ rằng anh hay thẹn thùng và không điển trai. Xưởng
nhạc của Wu sau đó được bán cho Alfa Music, và giám đốc mới Yang Jun Rong
đề nghị Chou cho ra album của riêng mình. Chou đã có sẵn trong tay một
chuỗi bài hát mà anh đã sáng tác cho các ca sỹ nhưng bị từ chối cho nên
anh đã chọn 10 bài hát ở trong ấy cho đĩa CD mà Chou đã cho ra trong
năm 2000. Album đã giúp Chou nổi tiếng như một nhạc sĩ kiêm ca sĩ với
phong cách trộn lẫn nhiều thể loại nhạc (R&amp;B, rap, nhạc cổ
điển,...). Sự nổi tiếng của Chou lan truyền nhanh chong ko chỉ trong
những vùng Trung Hoa, mà còn khắp các quốc gia ở Nam Á. Từ năm 2000,
Chou đã cho ra mỗi năm một album, bán được nhiều triệu copies (xem
Discography), và được công nhân với hàng trăm giải thưởng. Năm 2003,
anh được đưa lên làm trang bìa trong tạp chí Time (Châu Á), công nhận
ảnh hưởng của Chou. Chou đã tổ chức hai tours, &quot;The One&quot; (2002) và
&quot;Incomparable&quot; (2004), biểu diễn ở những thành phố như Taipei, Hồng
Kong, Beijing, Kuala Lumpur, Singapore, Las Vegas, và Vancouver. Không
giống hầu hết các ca sỹ, Chouu không chỉ là nhạc sỹ mà còn là nhà sản
xuất trong tất cả album của mình; từ nặm 2005 anh còn là đạo diễn âm
nhạc cho videos của mình và các ca sỹ khác.
Trong lúc tiếp tục sản xuất abum hàng năm, Chou cũng tham gia vào
lãnh vực điện ảnh với vai trò như một diễn viên trong Initial D, mà nhờ
nó anh đã dành được danh hiệu Diễn viên mới hay nhất tại Golden Horse
Arwards 2005. Trong những năm kế tiếp, Chou tham gia như một nhân vật
hỗ trợ trong ấn bản mới nhất Lời nguyền của bông hoa vàng, với
những ngôi sao Trung Hoa như Chow Yun=Fat và Gong Li. Tháng hai 2007,
Chou cuối cùng vung đầy giấc mơ thơ ấu của mình trở thành đạo diễn
trong Bí mật, trong đó anh đã vào vai chính. Tháng 3 2007, hợp
đồng 8 năm với Alfa Music chấm dứt. Chou, quản lí của anh Yang Jun
Rong, và nhạc sĩ Vincent Fang hợp tác thành lập công ty thu âm mới, JVR
Music (Viết tắt tên của Jay, Vincent, Jun Rong) mà thông qua đó Chou sẽ
có thể tiếp tục sự nghiệp âm nhạc của mình và nuôi dưỡng những tài năng
những tài năng ca hát mới.


[sửa] Sự nghiệp âm nhạc
Xem: Discography và List of songs written and performed by Jay Chou
Musical style
Những sáng tác của Chou phần lớn thuộc thể loại nhạc pop. Trong khi nhiều tác phẩm của anh lại rơi vào các thể loại R&amp;B, rap, rock hiện đại. Thuật ngữ &quot;phong cách Chou&quot; (traditional Chinese: 周氏風格; pinyin: zhōu shì fēnggé) }})[2][3]được
phổ biến để diễn tả phong cách nhạc pha trộn nhiều nền văn hóa của anh.
Anh thường xuyên phối hợp nhạc cụ Trung Hoa với những phong cách như
R&amp;B hay rock để tạo nên một thể loại nhạc mới được gọi là &quot;Zhonggou
feng&quot; (traditional Chinese: 中國風; pinyin: Zhōngguó fēng), trong đó một
vài bài hát được viết trên thang âm Pentatonic như trên thang âm 7 nốt để nhấn mạnh phong cách phương đông. Bên cạnh đó, anh còn phối hợp đàn guitar Tây Ban Nha trong &quot;Red Imitation&quot; (traditional Chinese: 紅模仿; pinyin: hóng mófǎng), techno/electronica
của Mỹ trong &quot;Herbalist&#39;s Manual&quot; (traditional Chinese: 本草綱目; pinyin:
Běncǎo Gāngmù), rap với phong cách nhạc cổ điển trong &quot;Reverse Scales&quot;
(traditional Chinese: 逆鱗; pinyin: nìlín), và phong cách Bossanova
trong &quot;Rosemary&quot; (traditional Chinese: 迷迭香; pinyin: mídiéxiāng). Những
ảnh hưởng âm thanh trong cuộc sống đời thường thêu dệt nên âm nhạc của
Chou, như âm thanh quả banh bóng bàn, tiếng điện thoại reo, âm thanh
của những cách quạt trực thăng, mưa, và tiếng ồn của rađio. Chou thường
sáng tác những tác phẩm với âm hưởng cổ điển như đối âm
trong tác phẩm &quot;sự hoàn hảo&quot; (Perfection) (traditional Chinese: 完美主義;
pinyin: wánměizhǔyì) và &quot;Xin lỗi&quot; (Sorry) (traditional Chinese: 對不起;
pinyin: duìbuqǐ), và &quot;phức điệu&quot; (polyphony)
trong &quot;Vết thương kết thúc chiến tranh&quot; (The wound that ends
war)(traditional Chinese: 止戰之殤; pinyin: zhǐ zhàn zhī shāng) và trong
&quot;Twilight&#39;s Chapter Seven&quot; (traditional Chinese: 夜的第七章; pinyin: yè de
dì-qī zhāng).
Những album gần đây của Chou được cho rằng thiếu sự biến đổi so với
các tác phẩm đầu tay của anh, nhưng anh đã kiên quyết khẳng định rằng
anh sẽ không thay đổi phong cách của mình: &quot;Họ nói rằng tôi đang bế
tắc... nhưng đây là âm nhạc mà tôi muốn, và tôi không thấy điều tôi
muốn bằng cách tiến lên phía trước...&quot;(&quot;They say I&#39;ve been standing
still ... but this is the music I want, and I don&#39;t see what I want by
moving ahead.&quot;). Để bày tỏ quan điểm của mình, Chou đặt tên album phát
hành năm 2006 Still Fantasy sau album anh đã phát hành năm 2000
Fantasy. Album này của anh đã bị chỉ trích là &quot;(nói)lầm bầm (mumbling)
&quot; mà anh đã nhấn mạnh rằng anh se không thay đổi&nbsp;; tuy nhiên, gần đây
Chou đã sử dụng cách phát âm rõ ràng hơn trong những tác phẩm như
&quot;Faraway&quot; (traditional Chinese: 千里之外; pinyin: qiānlǐ zhīwài) và
&quot;Chrysanthemum Terrace&quot; (traditional Chinese: 菊花臺; simplified Chinese:
菊花台; pinyin: júhuā tái).[4] which he also insisted will not change;[5] however, recently he has adopted clearer pronunciation for certain songs, such as &quot;Faraway&quot; (Phồn thể: 千里之外; Bính âm: qiānlǐ zhīwài) and &quot;Chrysanthemum Terrace&quot; (Phồn thể: 菊花臺, Giản thể: 菊花台; Bính âm: júhuā tái).[6]

Hợp tác
Chou bắt đầu sự nghiệp sáng tác bài hát cho các ca sĩ và tiếp tục
lãnh vực này ngay cả sau khi anh quyết định bước vào lãnh vực ca hát.
Anh đã thường xuyên sáng tác cho Jolin Tsai, Landy Wen, và thỉnh thoảng cho các ca sĩ Đài Loan khác như Coco Lee, S.H.E, Vivian Hsu, Lee-Hom Wang, Will Liu, Valen Hsu, và các ngôi sao nhạc pop Edmond Leung, Gigi Leung, Jordan Chan, Edison Chen, Karen Mok, Leo Ku, Eason Chan, và Joey Yung. Anh cũng sáng tác cho các ca sĩ thế hệ trước như Jacky Wu, sau đó là ca sĩ Đài Loan Jody Chiang (Chinese: 江惠; pinyin: Jiāng Huì), và các ca sĩ Hồng Kong Jack Cheung, Andy Lau, Lui Fong (traditional Chinese: 呂方; simplified Chinese: 吕方; pinyin: Lǚ Fāng),Aaron Kwok, và Kenny Bee.[22][23][24][25] Anh thu nhận nhóm nhạc Nan Quan Mama năm 2004, lựa chọn các thành viên nhóm nhạc và trông nom việc sản xuất album của họ. Nhóm nhạc Nan Quan Mama
được cho là có phong cách hòa âm rất giống với Chou;[26] kết quả là
Chou phải giảm sự liên quan của mình vào nhóm,[27] nhưng anh vẫn tiếp
tục giúp họ thu hút khán giả bắng cách mời họ tham gia những buổi hòa
nhạc và video nhạc của mình.[28][29][30][31] Chou đã biểu diễn trực
tiếp cùng với Landy Wen,[29] Join Tsai,[32] và bạn gái cũ Patty Hou,[33] nhưng chỉ có hai bài hát được vào albums của anh: &quot;Coral Sea&quot; (Chinese: 珊瑚海; pinyin: shānhú hǎi) năm 2005 với Lara Veronin (thành viên của nhóm Nan Quan Mama)[34] và &quot;Faraway&quot; (Chinese: 千里之外; pinyin: qiānlǐ zhīwài) năm 2006 với Fei Yu-Ching,
người đã bắt đầu sự nghiệp của mình những năm 1970.[35] Bên cạnh làm
việc với những ca sỹ, Chou còn hợp tác với nhà thơ trữ tình Vincent Fang bởi vì họ cùng bắt đầu sự nghiệp âm nhạc năm 1998. Album Partners (traditional Chinese: 拍檔; simplified Chinese:
拍档; pinyin: pāidàng) bao gồm 12 bài hát, mỗi bản gồm có sữ phối hợp âm
của Chou và lời nhạc của Fang.[36] Fang đã viết cho Chou hơn 40 bài
hát, đóng vai trò là một nhà biên soạn chính trong quyển sách mang tựa
đề là Grandeur de D Major
(traditional Chinese: D調的華麗; simplified Chinese: D调的华丽; pinyin: D diào
de huálì), và bây giờ cả hai đang hợp tác phát triển công ty ghi âm JVR
cùng với nhà quản lí của Chou JR Yang. [7][8]

[sửa] Những công việc khác
Sự nghiệp điện ảnh.
Chou chính thức bước vào nền công nghiệp điện ảnh vào năm 2005 với ấn bản bộ phim Initial D(頭
文字Ｄ). Trước đó anh đã tham gia diẽn xuất trong 3 bộ phim, chỉ đạo một
bộ phim và hơn một tá video âm nhạc khác. Chou, người đã tứng nói &quot;Tôi
sống cho âm nhạc&quot;,[38] mạo hiểm vào những bộ phim bởi vì anh cảm thấy
cần thiết cho một thử thách mới. Do những fan hâm mộ lo lắng rằng anh
sẽ làm hại sự nghiệp âm nhạc của mình, Chou đã cam đoan một lần nữa
rằng phim ảnh là nguồn gốc cho sự cảm hứng và nó se không làm hỏng sự
nghiệp âm nhạc của anh. Cùng lúc đó, anh nhân tháy rằng mình cần cân
bằng cả hai lĩnh vực cũng như sự nghiệp và duy trì vị trí của mình
trong lĩnh vực âm nhạc đễ không làm mất sự ủng hộ của các
fan.[39][40][41][42]
Diễn xuất
Bước đi vào diễn xuất được xem như là một bước đi không tưởng cho
Chou.[40] Giáo viên anh văn của anh đã nghĩ rằng anh chỉ có khả năng
đóng một số ít nhân vật,[3] và đạo diễn của Hidden Track
(2003, một bộ phim trong đó Chou đóng vai phụ) đã nói rằng tính cách cá
nhân của Chou sẽ không giúp Chou trở thành một diễn viên chuyên
nghiệp.[43] Trong năm 2005, Chou vào vai chính trong bộ phim Initial D
với hai mục đích: Khởi đầu sự nghiệp diễn viên, và gia tăng danh tiếng
của mình với các khán giả Nhật.[44] Bộ phim này được viết dựa trên một
bộ truyện cùng tên, nơi Chou vào vai Takumi Fujiwara,
một tay đua xe có tài năng, người hiếm khi biểu lộ cảm xúc của mình.
Một số người xem phê bình sự diễn xuất ôn hòa của anh[45], trong khi
nhiều người khác cảm thấy rằng anh đã diễn xuất rất tự nhiên, nhưng chỉ
vì tính cách nhưng vật khá giống bản thân anh.[46][47] Tài năng diễn
xuất của Chou đã giúp anh giành được giải Diễn viên mới hay nhất trong
Lễ trao giải ngựa vàng (Golden Horse Awards) và lễ trao giải phim Hồng Kông (Hong Kong Film Awards).[48][49] Chou vào vai diễn viên phụ trong bộ phim Lời nguyền của bông hoa vàng (Curse of the Golden Flower,
2006). Chou đã gây nên rất nhiều sự chú ý với các nhà báo Trung Hoa; sự
tham gia diễn xuất của Chou trong bộ phim này được thông báo trong một
cuộc mít-ting quảng cáo,[50] riêng lẻ với cuộc mit-ting cua Chow Yun-Fat, Gong Li,
và các diễn viên khác. Chou đã khắc họa Hoàng tử Jai, một hòang tử tham
vọng và cũng là một vị tướng của quân đội Imperial với tính cách tượng
trưng cho Xiao
(孝), một người Trung Hoa đức hạnh và trung thành với tổ quốc. Bộ phim
này được trinh chiếu trên khắp thế giới, đây là lần đầu tiên khán giả
Bắc Mỹ xem Chou diễn xuất. Theo những nhà phê bình phim Trung Hoa,
những bình chọn về diễn xuất của Chou được xếp từ &quot;thiếu tính phức tạp&quot;[51] cho đến &quot;có thể chấp nhận&quot;[52][52]nhưng
diễn xuất đó lại được khen thưởng một cách nhiệt liệt từ những khán giả
phương Tây.[54][55][56][57][58] Sự diễn xuất của Chou trong bộ him Lời
nguyền của bông hoa vàng được trao giải diễn viên phụ hay nhất trong Lễ
trao giải phim Hồng Kông.[59] Trong bộ phim thứ III, Chou vào vai diễn
viên chính kiêm đạo diễn cho bộ phim Bí mật (Secret). Một bộ phim khác mang tên Kung Fu Dunk đã được ra mắt trong năm 2008.
Đạo diễn
Chou đã vào vai trò đạo diễn lần đầu tiên trong những videos âm nhạc
năm 2004. Ban đầu anh thử sức với bài hát mang tên &quot;Home&quot; được trình
bày bởi nhóm Nan Quan Mama (Chinese:家; pinyin:
jiā) nơi anh đã tham gia trong suốt toàn bộ quá trình từ nghiên cứu đến
chỉnh sửa. Sau khi trải qua những khó khăn để trở thành đạo diễn, anh
đã từ chối chỉ huy một lần nữa theo yêu cầu của chính công ty thu âm
của mình.[48] Tuy nhiên, sở thích của anh lại nổi lên lần nữa và anh đã
chỉ huy cho 4 videos âm nhạc trong 12 bài hát nằm trong album của mình November&#39;s Chopin
năm 2005,[60] và sau đó là những quảng cáo trên TV.[61][62] Gần năm
2006, anh chịu trách nhiệm cho cốt truyện, chỉ huy, và chỉnh sửa những
video âm nhạc cho tất cả những bài hát của mình.[39] Việc đánh giá công
việc của anh thì không rõ ràng bởi vì những video âm nhạc hiếm khi được
các nhà phê bình để mắt đến. Tuy nhiên, đạo diễn Zhang Yimou đã nói
rằng khả năng chỉ huy của Chou có thể vượt trội hơn cả ông trong tương
lai sau khi ông xem những video âm nhạc của Chou.[63][50]
Tháng 2 2007, Chou cuối cùng đã chỉ đạo diễn xuất trong bộ phim đầu tay của mình mang tựa đề Bí Mật (Secret).
Câu chuyện anh viết dựa trên mối quan hệ của anh với cô bạn gái trung
học, với cốt truyện tập trung vào âm nhạc, tình yêu, và gia đình.[64]
Anh đã vào vai chính trong bộ phim với Kwai Lun-Mei đóng vai nữ chính, và diễn viên kì cựu Hồng Kông Anthony Wong
với vai cha của Chou. Mặc dù với kinh nghiệm đạo diễn của mình trong
những videos âm nhạc, Chou thừa nhận rằng chỉ đạo diễn xuất cho những
bộ phim thì cam go hơn so với các video âm nhạc bởi vì những lời thoại
và thời gian.[64] Bộ phim này đã đươc ra mắt vào tháng 7 2007.[65]
Sách: Grandeur de D Major
Chou xuất bản quyển sách đầu tiên của mình mang tên Grandeur de D Major (traditional Chinese: D調的華麗; simplified Chinese: D调的华丽; pinyin: D diào de huálì) vào 25/11/2004.[k]
Quyển sách 200 trang này diễn tả đoạn mở đầu được viết bởi gia đình,
bạn bè, và những công nhân của anh; tiết đoạn chính là sự biên soạn
những quan điểm, triết lí, và ký ức cùng những kinh nghiệm ấu thơ song
song với những bức ảnh từ những video âm nhạc của anh, trong đó rất
nhiều video chưa được ra mắt; và cuối cùng, một danh sách liệt kê những
giải thưởng của những nghệ sỹ, những tác phẩm âm và lới nhạc.Quyển sách
này tiết lộ tính cách của anh và những lời thú nhận đã phục vụ như một
nền tảng cơ sở cho hình tượng âm nhạc cũng như hình tượng quần chúng.
Anh đã bày tỏ giá trị của gia đình với sự liên kết một cách đặc biệt
đến mẹ và bà ngoại mình. Anh đã cống hiến 2 trong 7 chương về âm nhạc:
tình trang hiện tại của nền công nghiệp, phương pháp sáng tác của anh,
và chủ nghĩa cá nhân đến thành công trong âm nhạc. Sự hãnh diện này lại
tương phản với sự nhún nhường và ngờ nguệch của anh trong nhiều khía
nghĩa cuộc sống, đạc biệt là những mối quan hệ và hôn nhân.


[sửa] Media and public relations
Hình ảnh quần chúng
Mặc dù sống dưới sự chú ý của giới truyền thông, hình ảnh quần chúng
của Chou đã thay đổi dần dần trong suốt những năm gần đây từ khi anh
nhấn mạnh sự tự lập như là &quot;triết lí sống của mình&quot;.[72][3] Trong những
tác phẩm của mình, rõ ràng anh đã pha trộn phong cách âm nhạc Trung Hoa
và phương Tây cũng như khám phá ra những đề tài bất lợi cho các ca sỹ
nhạc pop, cái mà được xem là &quot;thực tế&quot; và &quot;mang tính cách
mạng&quot;.[7][3][8] Giới truyền thông diễn tả Chou như một người theo nghĩa
hoàn hảo (perfectionist) chăm chỉ với khả năng tự định hướng cho mình,
người mà thỉnh thoảng được cho là competitive [75] và một &quot;control
freak&quot;.[3] Nickname của anh là &quot;chủ tich Chou&quot; (Chinese: 周董; pinyin:
Zhōu dǒng) được dùng bởi giới báo chí và các fan để nhấn mạnh tính cách
độc đoán và tác động của anh vào làng nhạc Châu Á,[76] nhưng đồng thời
cũng chỉ ra tài năng âm nhạc của anh [73][21].[3] Bên cạnh âm nhạc,
Chou được xem là một người mắc cỡ, ít nói,[74][77] khiêm tốn, và hiếu
thảo, tính chất anh xem là quan trọng nhất.[78][17] Anh không hút
thuốc, không nhậu nhạc, và không đi dến những hộp đêm.[79] Những viên
chức nhà nước và bộ giáo dục ở Châu Á đã trao anh phẩn thưởng cho thái
độ mẫu mực của Chou,[80] và bổ nhiệm anh vị trí phát ngôn viên trong
chủ đề &quot;Young Voice&quot; năm 2005 và chiến dịch anti-depression năm
2007.[81][82] Anh đã đồng ý sát nhập hai tác phẩm của mình vào chương
trình giáo giục để khuyến khích phát triển những quan điểm về đạo làm
con.[83][84][85][86] Tháng 11 2007, Chou bị chỉ trích vì việc tham gia
đám tang của tên cầm đầu băng nhóm gang Đài Loan Chen Chi-Li để an ủi
con của Chen&#39;s son Chen Chuhe, ngưới mà Chou đã gặp trong khi quay phim
Kung Fu Dunk.[87][88][89]
Giải thưởng
Từ lúc khởi nghiệp vào năm 2000, Chou đã nhận được hơn 350 giải
thưởng cho vai trò ca sỹ, nhạc sỹ, và nhà sản xuất ở Châu Á.[9] CD
Fantasy của Chou đã được trao giải &quot;Album hay nhất&quot; trong Lễ trao giải
giai điệu vàng (Golden melody Awards) ở Đài Loan, và năm giải thưởng
khác bao gồm &quot;Album hay nhất&quot;, &quot;Nhạc sỹ hay nhất&quot;, &quot;Nhà sản xuất hay
nhất&quot; trong năm kế tiếp cho album Fantasy (2001). Tuy nhiên, thất bại
trong việc đoạt giải &quot;Album hay nhất&quot; năm thứ ba liên tiếp đã làm cho
anh ngã lòng.[90] Lễ trao giải giai điệu vàng đã không trao cho Chou
giải thưởng nào trong năm 2005, và năm kế tiếp. Ngoài những fan hâm mộ
đang nổi giận, nhiều hãng thông tấn xã đã chỉ trích sự tín nhiệm của tổ
chức.[91][92][93][94][95] Họ đã bị tố cáo cho hành động lan truyền sự
ghét bỏ Chou và các ngôi sao khác như Lee-Hom Wang và Jolin
Tsai.[92][94][95] Mặc dù Chou vẫn tiếp tục đoạt hơn 20 giải thưởng hằng
năm từ nhiều tổ chức khác nhau ỡ Châu Á, nhưng anh đã khẳng định anh sẽ
dựa vào số lượng album được tiêu thụ như người chỉ đạo chất lượng âm
nhạc.[96] Trong năm 2004, 2006 và 2007, anh được trao giải nghệ sỹ có
số lượng tiêu thụ tác phẩm cao nhất ở Trung Quốc trong lễ trao giải âm
nhạc thế giới (World Music Awards)cho album Common Jasmin Orange and
Still Fantasy.[97]
Thái độ với giới truyền thông và các paparazi
Như các ngôi sao khác, Chou không thích các paparazi.
Trong những năm đầu sự nghiệp, Anh thường lẩn tránh những sự chú ý
không mong muốn từ giới truyền thông. Song song với tính cách khá trầm,
anh thường đội những cái nón bóng chày và mũ trùm đầu trong khi hạ đầu
và chạm kính sát tròng trong suốt phong vấn. [77] Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, anh đã chủ động công kích giới truyền thông vì việc
xâm phạm đời tư của anh. Để làm ngã lòng các paparazi hay chụp những
tấm ảnh không mong đợi của mình, Chou đã chụp lại ảnh những paparazi
theo dõi anh.[98] Anh công khai gọi những paparazi và công ty tạp chí
là &quot;những con chó&quot; và &quot;những tạp chí chó&quot; (dog magazines) trong ca khúc
&quot;Bị vây hãm từ mọi phía&quot; (Besieged from all sides) (Chinese: 四面楚歌;pinyin: sìmiànchǔgē). Chou bị đăng báo nói rằng anh có quan hệ lãng mạn với các nhân vật nổi tiếng như Jolin Tsai, Vivian Hsu, và Hebe Tian của nhóm nhạc nữ S.H.E. Mặc dù tất cả mọi quan hệ (ngoại trừ Patty Hou)[33]
đều được Chou phủ nhận, nhưng những bài báo này đã trao anh danh hiệu
&quot;dân chơi&quot;. Giới truyền thông và nhà nước Đài Loan đa tố cáo Chou về
việc từ chối phục vụ nghĩa vụ phân sự[99] bằng cách giả bệnh. Sau năm
đó, anh buộc phải cung cấp những lá thư và hồ sơ y tế từ quân đội xác
nhận sự miễn phục vụ quân sữ trước lúc anh khởi đầu sự nghiệp.[100]
Mặc dù luôn bị quấy rối và xâm phạm bởi giới truyền thông,nhưng Chou
đã thữa nhận rằng không phải tất cả những chú ý truyền thông đều không
được đón tiếp. Được động viên bởi các nhà báo quốc tế và những nhân
viên tin tức như Time,[3] The Guardian, [102] và Reuters[72] đã giúp
anh củng cố và duy trì sự ảnh hưởng của mình trong làng âm nhạc nói
riêng cũng như nền văn hóa nói chung. Một bài báo được viết bởi Kerry
Brown của Chatham House mang tên Chou được xem là một trong 50 bài báo
ảnh hưởng nhất Trung Hoa. Chou được xem là một trong 3 ca sỹ được giúp
đỡ bỡi những nhà chính trị và hợp tác.[103]
Fanbase
Thật khó khăn để thống kê phạm vi số lượng fan hâm mộ của Chou. Fan của anh chủ yếu là người dân nói tiếng Trung Hoa ở Đài Loan, Hồng Kông, và Trung Hoa.
Mặc dù sự vi phạm bản quyền tác giả lan tràn trong những vùng này, đặc
biệt là Trung Hoa, mỗi album của Chou ra mắt gần đây đã tiêu thụ hơn 2
triệu bản. Theo Baidu, công cụ dò tìm internet
phổ biến ở Trung HOa, Chou là nghệ sỹ nam được search nhiều nhất ở
Trung Hoa trong năm 2003, 05,và 06.[104][105][106] Ở Hồng Kông, anh là
nghệ sỹ có số lượng tác phẩm tiêu thụ nhiều nhất kể từ năm
2004-2007.[107] Theo cuộc khảo sát ở 5 trung tâm thành thị người Trung
Hoa năm 2004, cứ trong 6 thì có 1 trẻ từ độ tuổi 9-14 xem Chou như thần
tượng của mình;[108] Anh cũng được thuật lại như là một ca sỹ yêu thích
của thanh niên từ 8-25 trong một cuộc khảo sát ở bảy nước Châu Á
(2006). Anh có một lượng fan trung thành ở Nam Á, bao gồm Singapore,
Thailand, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam.[109] Ở Singapore, Chou là
cái tên thứ hai được tìm nhiều nhất chỉ sau Britney Spear trong mục âm
nhạc.[110]
Hiện tại Chou vẫn là một nghệ sỹ vô danh bên ngoài Châu Á, ngoại trừ những thành phố với số lượng người Trung Hoa cao như Vancouver, Toronto, Calgary, Sydney, Los Angeles, New York and San Francisco. Anh đã tổ chức những buỗi lễ âm nhạc ở những nơi như MGM Grand (Las Vegas—December 25, 2002),[3] Shrine Auditorium (Los Angeles—December 18, 2004),[111] và Galen Center
(Los Angeles—December 24, 2007). Mục đích của anh là gia tăng sự chú ý
ở phương Tây bên canh những khán giả Trung Hoa. Trong năm 2006, Chou đã
sáng tác và hát bài hát mở đầu cho Không sợ (Fearless),
một bộ phim đã được ra mắt ở những rạp phim trong những quốc gia phổ
biến English,[112] mặc dù nó vẫn chưa giúp anh phổ biến danh tiếng của
mình. Vai trò trong bộ phim Lời nguyền của bông hoa vàng đã đánh dấu
khả năng diễn xuất của anh đến các khán giả ở Bắc Mỹ.
Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong phim, nhưng phiên bản của những
poster ở Bắc Mỹ chính thức chỉ miêu tả phía sau của Chou, tương phản
cực lớn so với những phiên bản của Châu Á nơi mà khuôn mặt và tên anh
đuợc giới thiệu rõ ràng. Tuy danh tiếng của Chou vẫn còn khá mờ đến
khác khản giả English, bộ phim này đã mang anh đến với thế giới.


[sửa] Discography
Studio Album


 Các đĩa nhạc 


↙Album phòng thu
 8 


↙Album trực tiếp
 3 


↙Album tổng hợp
 2 


↙Đĩa EP
 5 


↙Nhạc nền
 1 


↙Other works
 3 




 Date Released 
 Album Name 
 Sales in Asia
(millions) 
 References 


November 7, 2000
Jay 周杰倫同名專輯
No data


September 1, 2001
Fantasy 范特西
No data


July 19, 2002
Eight Dimensions 八度空間
No data


July 31, 2003
Ye Hui Mei 葉惠美
2–3
[9]


August 3, 2004
Common Jasmin Orange 七里香
3–4
[10][11]


November 1, 2005
November&#39;s Chopin 十一月的蕭邦
2.5+
[12][13]


September 5, 2006
Still Fantasy 依然范特西
3+
[14][15]


November 2, 2007
On The Run 我很忙[16]




[sửa] Live albums
The One Concert Live (Includes Eight Dimensions MV VCD) (October 28, 2002)2004 Incomparable to Jay Concert Live 無與倫比演唱會 2004(Includes Common Jasmin Orange MV VCD) (January 21, 2005)Jay 2007 The World Tours Concert Live CD+DVD (January 30, 2008)

[sửa] Compilations
Partners—Music by Jay Chou and lyricist Vincent Fang (April 26, 2002)Initial J: Jay Chou&#39;s Greatest Hits—Japan release only (August 31, 2005)

[sửa] Extended plays
Fantasy Plus 范特西+ (Includes Fantasy MV VCD) (December 21, 2001)Nun-Chucks 雙截棍(April 9, 2002)Hidden Track 尋找周杰倫(Includes Ye Hui Mei MV VCD) (November 12, 2003)Huo Yuan Jia 霍元甲(Includes November&#39;s Chopin MV DVD) (January 20, 2006)Golden Armor 黄金甲(Includes Still Fantasy MV DVD) (December 8, 2006)

[sửa] Soundtracks
Secret 不能說的秘密(August 14, 2007)

[sửa] Other works
Neoprint 大頭貼—Single, no official releaseJIII MP3 Player—MP3 player endorsed by Jay Chou featuring songs from Initial D movie, three old demos and a personal message from Jay (June 26, 2005)Qian Shan Wan Shui 千山万水—Official song for the Beijing 2008&#39;s Olympic Games (May 2008)

[sửa] Filmography
Hidden Track 尋找周杰倫 (2003) CameoInitial D 頭文字D (June 23, 2005) Lead actorCurse of the Golden Flower 滿城盡帶黃金甲 (December 22, 2006) Supporting actorSecret 不能說的秘密 (July 27, 2007) Director, lead actorKung Fu Dunk 功夫灌籃 (February 7, 2008) Lead actorKung Fu Dunk 2 功夫灌籃 2 (2009) Lead actor]]></description>
            <pubDate>2009/01/18 15:15:11</pubDate>
            <guid><![CDATA[Jay chou(châu kiệt luân):38]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[David archuleta]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=33]]></link>
            <description><![CDATA[


David Archuleta 




 Thông tin nghệ sĩ 

 Tên&nbsp;khai&nbsp;sinh 
David James Archuleta

 Ngày sinh 
28 tháng 12 năm 1990 (18&nbsp;tuổi)Miami, Florida [1][2]

 Nguyên quán 
Murray, Utah, Hoa Kỳ

Thể loại 
Pop, trữ tình, R&amp;B

 Nghề nghiệp 
ca sĩ, học sinh trung học

Nhạc cụ 
Piano, Guitar

 Năm&nbsp;hoạt&nbsp;động 
2003 - hiện nay
David James Archuleta (sinh ngày 28 tháng 12 năm 1990) là ca sĩ người Mỹ gốc Honduras. Anh là ca sĩ giành danh hiệu á quân tại cuộc thi American Idol 7 vào ngày 21 tháng 5 năm 2008, nhận được 44% phiếu bầu trên 97 triệu lượt bầu.





Mục lục[ẩn]

1 Tiểu sử 
2 Ảnh hưởng âm nhạc 
3 Star Search 
4 American Idol 

4.1 Khái quát 
4.2 Những bài hát được trình diễn ở American Idol và kết quả 
4.3 Người hâm mộ 
4.4 Những tranh luận 
5 Sau American Idol 
6 Single đầu tay: &quot;Crush&quot; 
7 Danh sách album và đĩa đơn 

7.1 Đĩa đơn 
7.2 Các ca khúc khác 
8 Giải thưởng và đề cử 
9 Liên kết ngoài 
 


[sửa] Tiểu sử
David James Archuleta sinh tại thành phố Miami, Florida. Cha của anh là James Jeffrey Archuleta và mẹ là Xiomara Guadalupe Mayorga. David có 3 em trai và em gái là Amber, Daniel, Jazzy và một chị gái là Claudia. Khi David 13 tuổi, gia đình anh đã chuyển đến sinh sống tại thành phố Salt Lake, bang Utah và hiện nay họ đang sống tại Murray, Utah. Đây cũng là nơi David hiện đang học tại trường trung học Murray. Một lần anh đã trải qua chứng liệt dây thanh quản nhưng anh đã từ chối ca phẫu thuật đầy rủi ro và nói rằng anh cảm thấy mình gần như đã hồi phục hoàn toàn.
Archuleta bắt đầu ca hát từ khi 6 tuổi, khi xem video Les Misérables. “Vở nhạc kịch đó là thứ đã bắt đầu mọi chuyện”. David bắt đầu biểu diễn trước công chúng khi 10 tuổi khi anh tham gia vào cuộc thi Tài năng ở Utah, hát bài “I Will Always Love You” của Dolly Parton; anh nhận được sự ủng hộ nhiệt tình và thắng giải dành cho thiếu niên. Vào tuổi 11 David xuất hiện lần đầu tiên trên truyền hình. Anh hát “And I Am Telling You I’m Not Going” trong show truyền hình enny Jones.

[sửa] Ảnh hưởng âm nhạc
Mẹ của David là người Honduras, và rất nhiều trong số nhạc mà David nghe khi bé, dựa theo một cuộc phỏng vấn của American Idol, là nhạc ảnh hưởng phong cách Latin. Bà cũng “rất giỏi về nhảy” theo Archuleta, và có thể “làm cho” anh nhảy theo điệu nhạc truyền thống với chị của mình. David cũng nghe nhạc jazz, anh nói, từ bộ sưu tập của cha mình và cả gospel, pop, rock và “nhạc có hồn”. Trong một buổi phỏng vấn sau này, anh tiết lộ rằng cha mình là một nghệ sĩ nhạc jazz. Archuleta cũng nói rằng anh thích những vở nhạc kịch ở Broadway.
Ở trang “Fast Facts” trên American Idol của mình, Archuleta trích dẫn những ảnh hưởng âm nhạc của mình gồm Natalie Cole, Stevie Wonder, Kirk Franklin và Bryan Adams. Khi được hỏi đến danh sách những ca sĩ nhạc pop được anh yêu thích nhất, anh trích Natasha Bedingfield, Natalie Cole, Celine Dion, Mariah Carey, Michael Jackson, Stevie Wonder, Bryan Adams, Kirk Franklin và Robbie Williams. Anh cũng kể tên Tamya Gray và Elliot Yamin là những ca sĩ của bước ra từ American Idol anh yêu thích. Giống như Yamin và một ca sĩ mà anh ngưỡng mộ, John Mayer, Archuleta cố gắng truyền đạt cái hồn vào dòng nhạc của mình.

[sửa] Star Search
Năm 2003, vào tuổi 12, Archuleta đã hát trong nhiều tập của show truyền hình Star Search. Anh kết thúc bằng việc thắng giải nhất trong cuộc thi thiếu niên ở Star Search 2. Trong 1 tập, anh đã thi với Alexandréa Lushington, người về thứ 20 trong American Idol cùng với Archuleta. Việc thắng giải Star Search đã dẫn diến sự xuất hiện của anh trên The Jenny Jones Show và The Early Show của hãng CBS, và gặp những thí sinh vào chung kết của American Idol đợt đầu tiên, anh đã tự động hát không nhạc bài hát “And I Am Telling You I’m Not Going” trong Dreamgirls, và nhận được sự ca ngợi nhiệt tình của Kelly Clarkson, thí sinh thắng cuộc của American Idol đợt đó.

[sửa] American Idol

[sửa] Khái quát
Archuleta đạt được tấm vé đến buổi thử giọng ở Hollywood (với bài hát “Waiting on the World to Change” của John Mayer) với sự giúp đỡ của giám khảo Randy Jackson, hát bè “waiting” trong bài hát (tại địa điểm thi ở San Diego, nhà hát Qualcomm ngày 30 &amp; 31 tháng 7 năm 2007). Anh chỉ mới 16 tuổi trong tuần thi Hollywood (khi anh hát bài hát “Heaven” của Bryan Adams và bài hát “Crazy” của Gnarls Barkley và nhận được sự khen ngợi của cả 3 vị giám khảo) và bởi vì anh chưa đủ 18 tuổi, anh vẫn phải tiếp tục đi học ở trường lúc tham gia vào đợt 7 của American Idol. Bố mẹ anh đều ở đó vì anh vẫn còn là người vị thành niên. Archuleta cũng có lợi thế khi chương trình ra quyết định để thí sinh sử dụng nhạc cụ khi anh sử dụng đàn piano trong phần trình diễn bài hát “Another Day in Paradise” và “Angels”.
Trong đêm thi cuối cùng, anh hát “Don’t Let The Sun Go Down On Me”, “In This Moment” và “Imagine”. Sau phần trình diễn 3 bài hát, Simon Cowell đã tuyên bố rằng Archuleta đã quá xuất sắc trong buổi tối hôm đó, và cả David Cook, người đã thắng American Idol, cũng nghĩ rằng Archuleta sẽ thắng: “Tôi phải thừa nhận điều này, một cậu bé trình diễn 3 bài hát một cách xuất sắc”, Cook nói. Trong đợt bỏ phiếu cuối cùng, Archuelta nhận được 44% số phiếu bầu.
Trong buổi diễn cuối, cả Archuleta và David Cook xuất hiện trong 2 quảng cáo riêng biệt nhưng gần giống nhau cho Guitar Hero, bắt chước một cảnh của Tom Cruise trong Risky Bussiness.

[sửa] Những bài hát được trình diễn ở American Idol và kết quả



 Tuần # 
 Ca khúc trình diễn 
 Chủ đề 
 Nghệ sĩ đã thể hiện 
 Kết quả 

Top 24 (12 nam)
&quot;Shop Around&quot;
1960s
The Miracles
An toàn

Top 20 (10 nam)
&quot;Imagine&quot;
1970s
John Lennon
An toàn

Top 16 (8 nam)
&quot;Another Day in Paradise&quot;
1980s
Phil Collins
An toàn

Top 12
&quot;We Can Work It Out&quot;
Lennon/McCartney
The Beatles
An toàn

Top 11
&quot;The Long And Winding Road&quot;
The Beatles
The Beatles
An toàn

Top 10
&quot;You&#39;re The Voice&quot;
Bài hát từ những năm tôi được sinh ra
John Farnham
An toàn

Top 9
&quot;Smoky Mountain Memories&quot;
Dolly Parton
Dolly Parton
An toàn

Top 8
&quot;Angels&quot;
Những bài hát truyền cảm
Robbie Williams
An toàn

Top 7
&quot;When You Believe&quot;
Mariah Carey
Mariah Carey&amp;Whitney Houston
An toàn

Top 6
&quot;Think Of Me&quot;
Andrew Lloyd Webber
The Phantom of the Opera
An toàn

Top 5
&quot;Sweet Caroline&quot;&quot;America&quot;
Neil Diamond
Neil Diamond
An toàn

Top 4
&quot;Stand By Me&quot;&quot;Love Me Tender&quot;
Rock&amp;Roll Quảng trường danh vọng
Ben E. KingElvis Presley
An toàn

Top 3
&quot;And So It Goes&quot;&quot;With You&quot;&quot;Longer&quot;
Lựa chọn của giám khảo (Paula Abdul)Lựa chọn của thí sinhLựa chọn của nhà sản xuất
Billy JoelChris BrownDan Fogelberg
An toàn

Đêm chung kết
&quot;Don&#39;t Let The Sun Go Down On Me&quot;&quot;In This Moment&quot;&quot;Imagine&quot;
Lựa chọn của Clive DavisBài hát mớiLựa chọn của thí sinh
Ben E. KingElvis Presley
Nhì

[sửa] Người hâm mộ
Người hâm mộ của Archuleta tự gọi mình là “Archie” hay “Arch Angel”. Với diện mạo đẹp trong American Idol, Archuleta đã thu hút một số lượng lớn người hâm mộ bao gồm cả những cô gái. Archuleta đã được mang mác người dẫn đầu từ cả 2 vị giám khảo bởi chất giọng “trong, trữ tình”, chính nó đã giúp anh xây dựng một lượng fan lớn trong cuộc thi. Fred Bronson từ tạp chí Billboard đã ghi chú “David đã lấp đầy khoảng trống … Anh có sự ngây thơ và tính khiên tốn”. Richard Rushfield từ tờ Los Angeles Times đã ghi chú rằng “những cô bé bị kích động tuổi teen/tween” chỉ luôn tăng lên.
Bắt đầu từ phần biểu diễn “Angels”, Archuleta đáp lại lời yêu cầu của người hâm mộ trên Diễn đàn của American Idol để ra hiệu cho họ bằng cách đặt tay lên ngực. Rushfield đã nhận xét về những cô gái đứng trước hàng ghế khán giả: “Chương trình đã kết thúc 1 tiếng đồng hồ và họ vẫn đang run rẩy, khóc lóc và la hét về sự gặp gỡ bất thình lình đối với Sự lựa chọn số một [Archuleta]”.

[sửa] Những tranh luận
Sau phần trình diễn “We Can Work It Out” bị Simon Cowell gọi là “hỏng”, Entertainment Tonight kể lại rằng Archuleta đã cảm thấy bị áp lực từ cha, Jeff Archuleta, người “được kể lại đã hét” vào con trai sau buổi thu âm đêm trước. Jeff Archuleta, trong một cuộc phỏng vấn với Us Magazine, đã phủ nhận tin đồn này. Vào tháng 5 năm 2008, một bài báo của Associate Press đã kể lại rằng Jeff Archuleta đã bắt con trai mình thêm vào phần lyric từ bài hát “Beautiful Girls” của Sean Kingston vào bai hát “Stand By Me”, làm tăng thêm chi phí bản quyền, và kết quả là Jeff Archuleta bị cấm đối với những buổi tập thử của American Idol.
Archuleta sau đó bênh cho cha mình trong The Early Show của hãng CBS, nói rằng: “[Cha tôi là] một người tốt. Và tôi rất biết ơn sự động viên của ông cũng như của gia đình. Ông đã đưa ra những lời khuyên tuyệt vời, nhưng ông vẫn để tôi làm việc của tôi. Và thật là tuyệt khi có ông ở đó, nó nhắc nhở tôi phải vững vàng và ghi nhớ điều gì là quan trọng.”

[sửa] Sau American Idol
3 bài hát Archuleta biểu diễn trong American Idol, &quot;Don’t Let The Sun Go Down On Me&quot;, &quot;In This Moment&quot; và&nbsp;:Imagine&quot; nằm trong top-10 những bài hát được download ở iTunes. Cả 3 bài đều nằm trong danh sách Hot 100 của Billboard tuần 7 tháng 7 năm 2008. &quot;Imagine&quot; đạt #36 (cho Archuleta hit lọt vào top 40 đầu tiên của mình), &quot;Don’t Let The Sun Go Down On Me&quot; đạt #58 va “In This Moment” đạt #60. Cũng trong tuần đó, 3 bài hát của Archuleta lọt vào Bubbling Under Hot 100 Singles của Billboard, &quot;Longer&quot; đứng #15, &quot;Think Of Me&quot; đứng #19 và &quot;Angels&quot; đứng #24.
Ngày 5 tháng 6 năm 2008, Jive Records thông báo rằng David đã ký hợp đồng với hãng này và album đầu tiên của anh sẽ được ra mắt trong năm nay, sau khi &quot;American Idols Live! 2008 Tour&quot; kết thúc.
Trong chương trình Teen Choíce Awards 2008, David Archuleta xuất hiện cùng với David Cook trong vai trò người dẫn chương trình. Anh cũng đoạt giải &quot;Nghệ sĩ được hâm mộ cuồng nhiệt nhất&quot; (Most Fanatic Fans).
Album đầu tay của anh, David Archuleta được phát hành bởi Jive Records vào ngày 11 tháng 11 năm 2008, sau 6 tháng kết thúc American Idol mùa 7. Album đã giành vị trí thứ nhì tại Billboard Hot 200 ngay trong tuần đầu tiên.

[sửa] Single đầu tay: &quot;Crush&quot;
Album đầu tay của David Archuleta sau American Idol dự kiến sẽ được phát hành vào ngày 11/11/2008, mang chính tên anh &quot;David Archuleta&quot;. Ngày 12/8, Single đầu tiên trích từ debut album của David - &quot;Crush&quot; - đã được phát hành trên hệ thống iTunes Store và Amazon. Single này nhanh chóng đạt #1 trên bảng xếp hạng Main Chart của iTunes Store và đạt #2 trên bảng xếp hạng Hot 100 Billboard (Tuần bắt đầu từ 21/8/08). Single &quot;Crush&quot; đã lập được một số kỷ lục: là single của một thí sinh tham gia American Idol, đạt vị trí cao nhất trong tuần đầu trên hot 100 billboard, cú đột phá lớn nhất của một single trong tuần đầu ra mắt năm 2008 . Music Video của Single này được ra mắt vào ngày 16/9/2008 . Giúp bài hát này trụ vững ở TOP 2 VH1 Charts . Tính đến thời điểm này , &quot;Crush&quot; đã bán được 990k bản ở Mỹ , và chắc chắn sẽ lên Plantinum trong tuần tới .
Charts



 Chart (2008)[3][4]&nbsp;&nbsp; 
 Peakposition&nbsp;&nbsp; 

U.S. Billboard Hot 100
2

U.S. Billboard Hot Digital Songs
1

U.S. Billboard Pop 100
12

U.S. Billboard Hot Adult Contemporary Tracks
11

U.S. Billboard Mainstream Top 40
13

U.S. Billboard Hot Adult Top 40 Tracks
17

Canadian Hot 100
7

Hot Canadian Digital Singles
5

Swedish Singles Chart
36

Portugal Singles Top 50
43

World Singles Top 40
16

[sửa] Danh sách album và đĩa đơn



 Năm 
 Album 
 Xếp hạng 
 Doanh số và chứng nhận 

US 
AUS 
CAN 
GER 
UK 

2008
David Archuleta 

Phát hành: 11 tháng 11, 2008 
Hãng: Jive/Zomba 
2
—
14
—
—


Doanh số tại Mỹ: 316,000+[5] 
Doanh số toàn cầu: TBA 
RIAA: TBA 
CRIA: TBA 

&quot;—&quot; biểu thị đĩa đơn không lọt vào bảng xếp hạng, hoặc chưa phát hành.

[sửa] Đĩa đơn



 Năm 
 Đĩa đơn 
 Xếp hạng 
 Album 

US Hot 100 
US Pop 100 
US Digital 
US AC 
US T40 Main 
US Adult 
CAN 

2002
&quot;Dream Sky High&quot;
—
—
—
—
—
—
—


&quot;Don&#39;t Tell Me&quot;
—
—
—
—
—
—
—

2008
&quot;Crush&quot;[A]
2
12
1
11
13
17
7
David Archuleta

&quot;A Little Not Too Over You&quot;[B]
—
—
—
—
—
—
—

&quot;—&quot; biểu thị đĩa đơn không lọt vào bảng xếp hạng, hoặc chưa phát hành.

[sửa] Các ca khúc khác



 Năm 
 Đĩa đơn 
 Xếp hạng 
 Album 

US Hot 100 
US Pop 100 
US Digital 
CAN 

2008
&quot;Imagine&quot;
36
35
16
31
Biểu diễn trong American Idol

&quot;Don&#39;t Let the Sun Go Down on Me&quot;
58
41
26
50

&quot;In This Moment&quot;
60
43
28
56

&quot;Longer&quot;
115
97
—
—

&quot;Think of Me&quot;
119
—
—
—

&quot;Angels&quot;
89
—
53
64
David Archuleta

&quot;—&quot; biểu thị đĩa đơn không lọt vào bảng xếp hạng, hoặc chưa phát hành.


Notes 

A^ Đĩa đơn hiện tại. 
B^ Chưa phát hành. 

[sửa] Giải thưởng và đề cử



 Năm 
 Chương trình 
 Giải thưởng 
 Kết quả 

2008
Teen Choice Awards
Most Fanatic Fans[6]
Thắng

Best Smile (Post Show)
Thắng

[sửa] Liên kết ngoài

David Archuleta trên website American Idol 
David Archuleta trên MySpace 
David Archuleta ở Star Search 
David Archuleta trên Youtube 
Fansite David Archuleta tại Vn 







[ẩn] 

x&nbsp;•&nbsp;t&nbsp;•&nbsp;sAmerican Idol 



Người dẫn chương trình

Ryan Seacrest&nbsp;· Brian Dunkleman



Hội đồng giám khảo

Paula Abdul • Randy Jackson • Simon Cowell • Kara DioGuardi



Người chiến thắng

1: Kelly Clarkson • 2: Ruben Studdard • 3: Fantasia Barrino • 4: Carrie Underwood • 5: Taylor Hicks • 6: Jordin Sparks • 7: David Cook • 8: Chưa rõ



Đĩa đơn của người chiến thắng

1: &quot;A Moment Like This&quot; • 2: &quot;Flying Without Wings&quot; • 3: &quot;I Believe&quot; • 4: &quot;Inside Your Heaven&quot; • 5: &quot;Do I Make You Proud&quot; • 6: &quot;This Is My Now&quot; • 7: &quot;The Time of My Life&quot;



Người về nhì

1: Justin Guarini • 2: Clay Aiken • 3: Diana DeGarmo • 4: Bo Bice • 5: Katharine McPhee • 6: Blake Lewis • 7: David Archuleta



Các ca sĩ nổi danh khác

1: Tamyra Gray • 2: Kimberley Locke • 2: Josh Gracin • 3: Jennifer Hudson • 3: William Hung • 5: Elliott Yamin • 5: Chris Daughtry • 5: Kellie Pickler



Chương trình ăn theo

From Justin to Kelly • Juniors • Christmas • Extra • Rewind



Liên quan khác

Underground • Compilation Series • Controversies • Discography • Episodes • Idol series • Magazine • Top-Selling Alumni • Video game



Trước:Jordin Sparks
American Idol winnerDavid Cook (2008)
Sau:TBD]]></description>
            <pubDate>2009/01/17 10:18:57</pubDate>
            <guid><![CDATA[David archuleta:33]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[SG WANNABE TIN CU NHIEU NG` CHUA BIT]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=30]]></link>
            <description><![CDATA[Tags: SG Wannabe, Hàn Quốc, Nhật Bản, tiêu thụ được, thị trường, chúng tôi, tự tin, xâm nhập, phát hành, biểu diễn, fan, ba, ca










Ba chàng trai của nhóm nhạc SG Wannabe
Tam ca R&amp;B SG Wannabe, một trong những nhóm nhạc nổi tiếng nhất tại Hàn Quốc với số lượng đĩa hát thứ ba phát hành trong năm nay đã tiêu thụ được hơn 300.000 bản. Hiện, họ đang tiến từng bước chậm nhưng vững vàng vào thị trường Nhật Bản.

Dù trước đây, SG Wannabe chưa từng phát hành album nào tại Nhật, nhưng đây lại là nơi ba chàng trai này có lực lượng fan hâm mộ khá đông đảo - gần 100.000 fan. Hầu như những đêm nhạc có sự góp mặt của SG Wannabe đều thu hút khoảng 100 fan từ Nhật bay sang xem họ biểu diễn. Chính tình cảm của các fan Nhật đã thôi thúc họ tổ chức một đêm diễn vào ngày 12/11 tới tại Hội trường NHK.
SG Wannabe cho biết: “Chúng tôi rất biết ơn các fan Nhật Bản khi họ thừa nhận rằng, rất nhiều ca sỹ Hàn Quốc không thể vừa hát vừa biểu diễn vũ đạo như chúng tôi. Các fan Nhật Bản biết rất rõ về chúng tôi thông qua các chương trình biểu diễn ngoài trời hay bay sang Hàn Quốc xem chúng tôi biểu diễn”.
“Nhiều fan xem chúng tôi là những ca sỹ hàng đầu ở Hàn Quốc. Tôi cảm thấy vừa mắc nợ nhưng cũng rất tự hào khi nghe được những lời nhận xét đó”, Chae Dong Ha, trưởng nhóm SG Wannabe phát biểu.
Thành viên Kim Young Jun lại cho biết thêm: “Chúng tôi đã tiếp xúc với nhiều fan Nhật trong các chương trình biểu diễn và thật sự ấn tượng khi họ có thể trò chuyện với chúng tôi bằng tiếng Hàn”.
Trang phục mà nhóm chọn rất giản dị, chủ yếu là đồ jean và áo thun. Sau ba năm hoạt động trên thị trường showbiz, thời gian nghỉ ngơi của nhóm rất ít ỏi bởi lịch làm việc dày đặc nhưng các chàng trai của SG Wannabe vẫn rất lạc quan tin tưởng vào tương lai.
Chae Dong Ha tâm sự: “Đôi khi chúng tôi cảm thấy thật sự mỏi mệt, nhưng chính sự cổ vũ, động viên của các fan đã khích lệ tinh thần chúng tôi”.
SG Wannabe sẽ phát hành album mới vào giữa tháng 11. Họ cho biết, mục tiêu của nhóm trơng tương lai là học hỏi cách làm của Stevie Wonder và bắt đầu “xa rời” những bản nhạc pop quen thuộc.
Châu Sa
Theo Chosun

Việt Báo (Theo_DanTri]]></description>
            <pubDate>2009/01/16 09:20:50</pubDate>
            <guid><![CDATA[SG WANNABE TIN CU NHIEU NG` CHUA BIT:30]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Rain]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/conmaduongpho_0/article?mid=29]]></link>
            <description><![CDATA[


Rain비 (tiếng Triều Tiên)



Thông tin nghệ sĩ
Tên&nbsp;khai&nbsp;sinh 
정지훈(Jeong Ji-hun)
Ngày sinh 
25 tháng 6 năm 1982 (26&nbsp;tuổi)
Nguyên quán 
Seoul, &nbsp;Hàn Quốc
Thể loại 
disco, techno, R&amp;B, Pop
Nghề nghiệp 
Ca sĩ, diễn viên, người mẫu
Năm&nbsp;hoạt&nbsp;động 
2002-nay
Hãng đĩa 
JYP Entertainment(2002-2007)J. Tune Entertainment(since 2007)FA
Trang điện tử 
Rain
Jeong Ji-Hoon (Hangul: 정지훈; Hanja: 鄭智薰, Trịnh Trí Huân) (sinh ngày 25 tháng 6 năm 1982 tại Seoul) là ca sĩ nhạc pop và R&amp;B và R&amp;B Hàn Quốc, có biệt danh là Rain/Vũ (雨). Đây là một nam ca sĩ kiêm diễn viên rất nổi tiếng tại Châu Á.
Rain được tạp chí Time chọn vào danh sách &quot;Top 100 người có tầm ảnh hưởng nhất thế giới&quot; năm 2006. Năm 2007, Rain dành ngôi vị quán quân trong cuộc bầu chọn trên mạng của tạp chí Time, dù anh không vào được danh sách chính thức &quot;Top 100&quot; năm 2007 nhưng lần này Rain lại được chọn vào danh sách những người đẹp nhất thế giới của tạp chí People.





Mục lục[ẩn]

1 Tên 
2 Buổi đầu 
3 Sự công nhận quốc tế 

3.1 Danh tiếng tại Mỹ 
3.2 Lưu diễn thế giới 
3.3 Những rắc rối về pháp lí 
4 Album đã phát hành 
5 Bộ phim đã tham gia 

5.1 Phim truyền hình 
5.2 Phim điện ảnh 
6 Những quảng cáo đã tham gia 
7 Giải thưởng 
8 Xem thêm 
9 Tham khảo 
10 Liên kết ngoài 

[sửa] Tên
Rain có rất nhiều tên theo các tiếng khác nhau. Với phương Tây, anh được biết đến là Rain. Ở Hàn Quốc, anh được gọi là 비, phiên âm là Bi, và đọc chữ B trong tiếng Anh. Tại Nhật Bản, anh được biết đến với cái tên ピ, đọc là Pi. Ở một vài nơi tại Trung Quốc, anh được gọi là Yu hay 雨.

[sửa] Buổi đầu
Rain thích nhảy R&amp;B và hiphop từ thời còn học lớp 6. Khi còn là học sinh, anh đã từng là thành viên của ban nhạc có tên là Fanclub. Nhóm nhạc này tồn tại một thời gian ngắn sau đó tan rã. Rain đã đi thử giọng cho rất nhiều công ty tìm kiếm tài năng. Trong một bài phỏng vấn trên CNN, anh nhớ lại việc đã bị từ chối rất nhiều lần chỉ vì vẻ bề ngoài của mình&nbsp;:&quot;sự thật, sau một buổi thử giọng tôi đã được người ta nói là có khả năng ca hát và vũ đạo tuyệt nhưng không được chọn vì tôi có mắt một mí&quot;[1]. Cuối cùng, Rain tham gia một buổi thử giọng của công ty tìm kiếm tài năng Hàn Quốc có tên JYP Entertainment. Park Jin Young, chủ tịch của công ty, thể hiện sự quan tâm tới Rain và nhận anh làm ca sĩ học việc. Trong những năm đầu của thời còn học việc, Rain là người nhảy minh họa cho các ca sĩ của công ty này[2].
Năm 2002, Rain chính thức bước vào làng giải trí với album đầu tây Bad Guy cùng với cái tên được giới truyền thông giới thiệu qua sân khấu và về sau đã trở thành thông dụng, Rain. Trong album này, ca khúc cùng tên Bad Guy nhanh chóng trở thành một hit được ưa thích. Sau album đầu tay, Rain tạm nghỉ một quãng thời gian làm ca sĩ để đầu tư thì giờ cho bộ phim truyền hình, Sang Doo! Let&#39;s Go To School. Nối tiếp thành công của màn ra mắt ấn tượng, Rain cho ra album thứ 2 How to Avoid The Sun, và cũng như album thứ 1, ca khúc Ways to Avoid The Sun tiếp tục trở thành một hit của làng ca nhạc Hàn Quốc.
Năm 2004, Rain tham gia bộ phim truyền hình rất thành công &quot;Full House&quot; của đài KBS, đây là một trong những bộ phim truyền hình Hàn Quốc có tỉ suất người xem cao nhất trong lịch sử, 30% cho mỗi tập phim[2]. Bộ phim này đã được phát sóng ở rất nhiều nước gồm Philippines, Malaysia, Indonesia, Singapore, Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ. Qua bộ phim Full House, Rain được biết đến rộng rãi khắp Châu Á. Diễn xuất của Rain trong phim cũng giúp anh dành được giải thưởng Nam diễn viên xuất sắc nhất của đài KBS.

[sửa] Sự công nhận quốc tế
Album thứ 3 của Rain It&#39;s raining bán được hơn 1 triệu bản khắp Châu Á. Theo một thông báo của công ty quản lý trước kia của Rain JYP Ent cho công ty nội dung và văn hóa Hàn Quốc, It&#39;s Raining dành được vị trí đầu trong những album bán chạy nhất vào ngày 29 tháng 12 năm 2005 tại các nước: Nhật Bản (100.000 bản), Trung Quốc (500.000 bản), Đài Loan (70.000 bản), Thái Lan (150.000 bản), Indonesia (50.000 bản), và Hàn Quốc (154.000 bản), tổng cộng: 1.074.000 bản được bán ra, giúp It&#39;s raining trở thành album thành công nhất của Rain cả ở thị trường trong nước cũng như quốc tế[3]. Buổi biểu diễn đầu tiên Rainy Day, tổ chức ở Hàn Quốc và Nhật Bản, đã bán hết vé ngay trong ngày đầu phát hành.
Năm 2004, Rain thu được sự công nhận lớn hơn bằng giải thưởng MTV Asia Grand Slam, điều này đã đảm bảo cho danh tiếng của Rain tại các quốc gia Châu Á. Rain dành giải nam nghệ sĩ Hàn Quốc yêu thích của năm tại MTV Asia Aid tổ chức ở Bangkok, Thái Lan, giải thưởng nghệ sĩ Châu Á nổi tiếng nhất của kênh truyền hình [[[V]]] Thái Lan, giải Best Buzz Asia tại lễ trao giải MTV Video Music Awards Nhật Bản năm 2005 (Rain dành giải thưởng này cùng với Orange Range và Stefanie Sun), giải ca sĩ Hàn Quốc xuất sắc nhất trong lễ trao giải MTV-CCTV Mandarin Music Honors tại Bắc Kinh. Rain cũng được mời tham dự lễ trao giải MTV Video Music Awards của Mỹ tại Miami năm 2005, cũng như tại lễ trao giải MTV Latin Video Music Awards 2005 tại Mexico. Những thành tích này đã giúp Rain dành được rất nhiều sự chú ý của giới truyền thống, đặc biệt trong đó có bài phỏng vấn với tạp chí Time phiên bản châu Á và chương trình Talk Asia của kênh truyền hình CNN. Rain còn nhận được giải ca sĩ Hàn Quốc xuất sắc nhất 2005 của Mandarin Music Honors tại Đài Loan.
Sau đó Rain tiếp tục sự nghiệp với Tour diễn RAINY DAY 2005, bắt đầu tại Seoul, tiếp đến là Tokyo và Hồng Kông. Nhờ danh tiếng và những màn biểu diễn bốc lửa của Rain, vé bán hết nhanh chóng[4]. Buổi biểu diễn Solo đầu tiên của Rain năm 2006 tại Nhật tổ chức ở Tokyo International Forum, vé bán hết trong 30 giây sau khi vừa được tung ra[2]. Vé cho các buổi biểu diễn của anh tại Đài Loan cũng bán hết veo trong giây lát khi vừa được tung ra. Các buổi biểu diễn của Rain ở Hồng Kông vé bán hết chỉ trong vài giờ. Rain tiếp tục lập nên những kỉ lục ở Châu Á. Giờ khi đã có những buổi biểu diễn rất thành công tại Nhật Bản và Hồng Kông. Rain tiếp tục xâm nhập thị trường Trung Quốc với một buổi biểu diễn tại Bắc Kinh.
Vào tháng 4 năm 2006, anh có tên trong bài báo trên mạng của tạp chí Time với nhan đề &quot;100 Most Influential People Who Shape Our World.&quot; (100 nhân vật có ảnh hưởng nhất hình thành nên thế giới).[5][6] Vào năm 2007, Rain đứng đầu trong cuộc bình chọn trực tuyến của Time, mặc dù anh không thực sự nằm trong danh sách của tạp chí. Anh vẫn đang tiếp tục cạnh tranh một cách hài hước với Stephen Colbert cho vị trí đứng đầu.[7] Anh cũng nằm trong danh sách &quot;Những người đẹp nhất&quot; năm 2007 của tạp chí People.

[sửa] Danh tiếng tại Mỹ
Ngoài việc được Time bình chọn là nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng thứ 2 thế giới năm 2006 sau đạo diễn Lý An của Trung Quốc. Tờ tạp chí cũng đề cập đến việc Rain có thể sẽ hợp tác với Diddy trong tương lai. Nhận định này xuất phát từ sau 2 buổi biểu diễn của Rain tại Madison Square Garden tháng 2/2006. Hai buổi biểu diễn của anh, Rainy Day New York, được tổ chức và quảng bá bởi công ty chuyên tổ chức các buổi biểu diễn Châu Á Rainstone Live. Vé bán hết chỉ trong vài ngày[8]. Rain cũng là ca sĩ Châu Á đầu tiên tổ chức một buổi biểu diễn ở Madison Square Garden.
Những vị khách đặc biệt của buổi diễn này gồm có ca sĩ nhạc Pop người Mỹ JoJo, ca sĩ nhạc R&amp;B Omarion và ca sĩ nhạc hip-hop nổi tiếng Diddy.
Cũng có tin Rain sẽ thu âm một bản song ca với Omarion, người từng là ca sĩ chính của nhóm nhạc hip-hop nổi tiếng, B2K và cũng đã từng tham gia bộ phim, You Got Served. Khi bộ phim điện ảnh đầu tiên của Rain , I&#39;m a Cyborg, But That&#39;s OK, đóng máy đầu tháng 7 năm 2006. Anh đã tới Mỹ để bàn thảo về khả năng có một ca khúc song ca với Omarion đồng thời gặp những nhà tổ chức cho tour diễn Châu Á của anh. Có vẻ như Rain đã gặp Omarion qua nhà sản xuất của anh (Park Jin Young), người đã viết một bài hát trong album gần đây của Omarion. Vì sau sau buổi biểu diễn ở New York vào tháng 2, buổi biểu diễn mà Omarion đã nhảy cùng Rain bài &quot;Bad Guy&quot; - Omarion và Rain đã trở thành bạn, JYP Entertainment cho hay. Họ cũng nói cả hai có thể sẽ hợp tác trong một bộ phim trong tương lai[9].
Omarion và Rain đã thu âm bài song ca &quot;Man Up&quot;, bài hát được phát hành trong phiên bản Album Châu Âu của Omarion mang tên 21. Tuy nhiên, bài hát vẫn chưa được phát hành tại Mỹ do các vấn đề hợp đồng giữa vài công ty thu âm.
Năm 2007, lần đầu tiên Rain được chọn vào những người đẹp nhất thế giới của tạp chí People, anh được chọn tại khu vực &quot;First-Time Beauties 2007&quot; (những người đẹp đầu tiên)[10]. Trong một cuộc phỏng vấn, Rain nói anh cảm thấy rất vinh dự khi được lọt vào danh sách đồng thời cũng nói rằng đây sẽ là lợi thế lớn giúp anh được nhiều người biết tới tại Mỹ[11]. Trong năm 2007, Rain dành vị trí thứ nhất trong cuộc bầu chọn online của tạp chí Time top những người có tầm ảnh hưởng nhất thế giới (hay còn gọi là Time 100). Rain đánh bại Stephen Colbert tới 100.000 phiếu[12]. Colbert sau đó đã làm một đoạn video hài hước bắt chước video bài hát của Rain &quot;&quot;How to Avoid the Sun&quot;.
Rain cũng đã từng biểu diễn 2 ngày tại Las Vegas, Nevada vào 23-24 tháng 12 năm 2006. Vé cho 2 buổi biểu diễn bán hết trong vài tuần. Buổi biểu diễn này được tổ chức ở trung tâm Colosseum tại cung điện Caesars[13].

[sửa] Lưu diễn thế giới
Album thứ 4 của Rain Rain&#39;s World , phát hành ở Hàn Quốc ngày 14 tháng 10 năm 2006. Single đầu tiên là &quot;I&#39;m Coming&quot;, tiếp theo là single &quot;In My Bed&quot;, và cuối cùng là &quot;Inside of You.&quot;
Tour diễn vòng quanh thế giới Rain&#39;s Coming của anh bắt đầu từ 15 tháng 12 năm 2006 và theo lịch trình đi qua các nước sau&nbsp;: Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái lan, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Australia, Mỹ và Canada[14]. Tour diễn này có sự hợp tác của những nhà sản xuất và thiết kế sân khấu hàng đầu thế giới như Jamie King and Roy Bennett, những người đã từng hợp tác với các danh ca nổi tiếng thế giới như U2, Michael Jackson, Madonna, Ricky Martin, Britney Spears và Rolling Stones. Lượng tiền thu được từ bán vé có thể hơn 100 triệu dollar Mỹ.[15]
Buổi biểu diễn cuối cùng của Rain tại sân vận động Tokyo Dome, Nhật Bản ngày 25 tháng 5 năm 2007 thu hút được 43.000 người tham dự[16]. Tokyo Dome là sân khấu biểu diễn lớn nhất nước Nhật và Rain trở thành ca sĩ Hàn Quốc đầu tiên biểu diễn tại đây.
Trong tour diễn này, những buổi biểu diễn được dự tính ở Thượng Hải, Toronto, San Francisco và Hawaii đã bị hoãn, tiếp đó buổi biểu diễn ở Los Angeles cũng bị hoãn. Buổi diễn dự định tổ chức tại Staples Center bị hoãn chỉ 2 tiếng trước giờ diễn do các vấn đề về sân khấu và công ty tổ chức liên quan[17].

[sửa] Những rắc rối về pháp lí
Rain, cùng với JYP và công ty quảng bá chuyến lưu diễn, đang bị kiện bởi công ty quảng bá Click Entertainment tại Honolulu đòi hơn 1 triệu dollar bồi thường sau khi buổi diễn của anh bị hủy bỏ ở đó và nhà quảng bá không được hoàn lại phí giấy phép 500.000 USD[18]. Công ty tuyên bố rằng Rain chưa hề định biểu diễn tại Hawaii.[18] Đơn kiện cũng cho rằng Rain và công ty quảng cáo Hàn Quốc của anh cũng &quot;đã tìm cách lừa gạc công chúng bằng cách thêu dệt và phóng đại phạm vi chuyến lưu diễn thế giới &#39;Rain&#39;s Coming&#39;.&quot;[18]

[sửa] Album đã phát hành

Bad Guy 
How to Avoid the Sun 
It&#39;s Raining 
Eternal Rain 
Rain&#39;s World 
Rainism 

[sửa] Bộ phim đã tham gia

[sửa] Phim truyền hình

Orange (오렌지) (2002) 
Sang Doo! Let’s go to school (상두야 학교가자!) (2003) 
Full House (풀하우스) (2004) 
A love to kill (이 죽일놈의 사랑) (2005) 

[sửa] Phim điện ảnh

I’m a cyborg, but that’s okay (2006) 
Speed Racer (2007) 
Ninja Assassin (2008)_Phim sẽ được ra mắt vào năm 2009 

[sửa] Những quảng cáo đã tham gia
Tính từ 2005

[2005] DOHC Clothing Line (Korea) 
[2005] Pantech Mobile Phone (China) 
[2006] DHC Cosmetics Career (Hong Kong, China, Taiwan) 
[2006] Pepsi (Hong Kong, China, Taiwan) 
[2006] Ralph Lauren 
[2006] BMW (Korea) 
[2006] Giordano (Korea) 
[2006] XTM (Korea) 
[2006] LG X-Note (Korea) 
[2006] Daewon Cantaville (APT) (Korea) 
[2006] KB Star Card (Korea) 
[2006] Dutch Mill (Thailand) 
[2006] Today&#39;s Tea (Korea) 
[2007] O Hui for Man (Korea) 
[2007] Nikon Imaging (Korea) 
[2007] Giordano (Korea) 
[2007] SK telecom &quot;Nate&quot; (Korea) 
[2007] Lotte Dutyfree Shop (Korea) 
[2007] Europe Unilever (covering all Asia) 
[2007] Korea National Tourism Organization &quot;Korea Sparkling&quot; 
[2007] Fu Ma Cupcakes (China) 
[2008] Samsung (China) 
[2008] Nikon (Korea) 
[2008] Sk Telecom (Korea) 

[sửa] Giải thưởng


Year Awards
2002 


MBC Top 10 Artist Award 
KBS Music Award - New Artist, Most popular Singer Award by producers 
SBS Music Award - New Artist 
SBS Seoul Gayo Award - New Artist 
M.NET Music Video Festival - New Artist 
KMTV Korea Music Award - New Artist 
Golden Disc Award - New Artist 
2003 


M.NET Male Artist Award 
KMTV Male Artist Award 
MBC Top 10 Artist Award 
KBS Male Artist Award 
SBS Male Performer of the Year Award 
KBS Rookie, Popularity, Best Couple (with Gong Hyo Jin), Netizen Actor Award of the Year 
2004 


KBS Best Actor Award 
MBC Top 10 Artist Award 
KBS Artist of the Year 
SBS Male Performer of the Year Award 
Popularity Award of TV Part (The Baek Sang Arts Grand Award) 
KBS Best Couple Award (with Song Hye Kyo) 
2005 


MTV Asia Awards: Favorite Artist Korea 
Channel [V] Best Single Award 
MTV Video Music Awards Japan: Best buzz Asia from Korea 
MTV China: CCTV Mandarin Music Honors Award 
Andre Kim Awards: Best Star 
KBS Drama &quot;Love To Kill&quot; or &quot;이 죽일놈의 사랑&quot; 
2006 


Tạp chí Time&#39;s 100 Most Influential People Who Shape the World Award 
M.NET Male Artist Award 
Asia TV Awards: Best Movie Style [A Love to Kill] 
MKMF Mnet: Best Solo Male Artist 
SBS Gayo Daejun 2006: Bonsang 
2007 


MTV Asia&#39;s &quot;Artist of the Month&quot; [January] 
43rd Baeksang Arts Awards: Best New Actor for &quot;I&#39;m a Cyborg, But That&#39;s OK&quot; 
Listed in Tạp chí People&#39;s 100 Most Beautiful People [May 2007 Issue] 
Hallyu Award 
44th DaeJong Film Awards: Overseas Popularity Award 
59th Berlin Film Festival: Alfred Bauer Prize (I&#39;m a Cyborg, But That&#39;s OK) 
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/01/16 08:53:16</pubDate>
            <guid><![CDATA[Rain:29]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- api2.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Wed Feb 10 22:46:54 SGT 2010 -->
