Thư mục: Những bài viết về quê hương |

Thị xã Nghĩa Lộ lúc bình minh.
Địa lý tự nhiên
Thị xã Nghĩa Lộ có diện tích tự nhiên là 2.977,24ha nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, cách trung tâm tỉnh lỵ 84km theo quốc lộ 32. Phía Bắc, phía Đông, phía Nam giáp huyện Văn Chấn, phía Tây giáp huyện Trạm Tấu của tỉnh.
Nghĩa Lộ nằm trong vùng đất cổ thuộc cấu tạo địa chất Indonixit với hệ thống kiến tạo địa máng mang đậm nét của vùng Tây Bắc Việt Nam. Nằm ở trung tâm vùng lòng chảo Mường Lò rộng lớn, thị xã có địa hình tương đối bằng phẳng, theo hướng nghiêng từ Tây sang Đông, từ Nam lên Bắc, độ cao trung bình 250m so với mặt biển, xung quanh là những dãy núi cao bao bọc.
Vị trí địa lý và địa hình đó đã tạo ra cho Nghĩa Lộ các yếu tố khí hậu mang đặc trưng của tiểu vùng khí hậu Tây Bắc, trong năm có 4 mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình của cả năm là 22,50C, trong đó tháng trung bình cao nhất là 27,40C, trung bình tháng thấp nhất là 16,40C. Là địa phương có số giờ nắng cả năm hơn 1700 giờ, cao hơn các nơi khác trong tỉnh. Lượng bức xạ nhiệt luôn dương tạo ra các sinh khối lớn thuận tiện cho sự phát triển của cây lúa và các loại cây hoa quả có hạt như nhãn, vải....
Với lượng mưa trung bình một năm từ 1400mm - 1600mm, là nơi có lượng mưa thấp so với một số địa phương trong tỉnh. Mưa lớn tập trung vào các tháng 5, 8; mưa nhỏ, lượng mưa không đáng kể tập trung vào tháng 11, 12.
Là khu vực nằm sâu trong nội địa, độ ẩm Nghĩa Lộ thường thấp hơn so với một số nơi trong tỉnh. Độ ẩm tương đối 84% rất thích hợp phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả.
Nguồn tài nguyên đất của thị xã Nghĩa Lộ mang đặc trưng địa hình bồn địa, được kiến tạo bồi đắp bằng vật liệu rửa trôi. Với tầng mùn tương đối, tầng dày phong hóa lớn, độ dốc nhỏ đã tạo nên một vùng trọng điểm cây lương thực mà chủ yếu là cây lúa của tỉnh. Trong tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích nhóm đất nông nghiệp chiếm 2.107,73ha, trong đó, đất sản xuất nông nghiệp 1.251,07ha, đất lâm nghiệp chiếm 805,29ha; nhóm đất phi nông nghiệp 634,05ha, đất chưa sử dụng 235,46ha.
Khoáng sản của thị xã Nghĩa Lộ nhìn chung nghèo nàn. Hiện tại, chưa tìm thấy ở địa phương một điểm mỏ nào ngoài nhóm vật liệt xây dựng như đất pha sét để sản xuất gạch và cát, đá, sỏi được khai thác ở ven ngòi, ven suối.
Trên một diện tích hẹp, song chế độ thủy văn ở đây khá phong phú. Bao quanh là Ngòi Thia, Ngòi Nung, Suối Đôi. Ngòi Thia là nguồn phụ lưu cấp I lớn nhất của sông Hồng, được bắt nguồn từ vùng núi Trạm Tấu với chiều dài 165km, đoạn chảy qua thị xã khoảng 5km. Độ cao bình quân của lưu vực Ngòi Thia tới 907km, độ chênh lệch lưu lượng giữa mùa lũ và mùa cạn lên tới 480 lần. Đây là yếu tố gây bất lợi cho khai thác tiềm năng nước mặt của Ngòi Thia ở những nơi có nó đi qua. Trong mùa mưa lũ thường gây thiệt hại cho sản xuất, đời sống của nhân dân ven ngòi. Tuy nhiên, cùng với tài nguyên nước ngầm, hệ thống ngòi suối là nơi cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt.
Các yếu tố về địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, thủy văn... đã tạo điều kiện thuận lợi cho thị xã phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên những mặt trái của nó cũng có những ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất và đời sống sinh.
Địa lý hành chính
Thị
xã Nghĩa Lộ hiện là thị xã trực thuộc tỉnh, có 7 đơn vị hành chính trực
thuộc gồm 4 phường: Tân An, Trung Tâm, Pú Trạng, Cầu Thia và 3 xã:
Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc.
Trong suốt chiều dài lịch sử, thị xã Nghĩa Lộ ngày nay đã trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính.
Thời Hùng Vương dựng nước, mảnh đất này là một trong những địa bàn cư trú quan trọng của cư dân Lạc Việt, vùng đất nằm trong lãnh thổ của Nhà nước Văn Lang.
Thời Tam Quốc, Nhà Ngô thống trị nước ta, Nghĩa Lộ thuộc địa phận quận Tân Hưng, sang đời nhà Tấn đổi thành quận Tân Xương.
Khi nhà Tùy xâm chiếm nước ta, đời Khai Hoàng, Nghĩa Lộ thuộc huyện An Nhân, quận Giao Chỉ.
Thời nhà Lý (1009), Nghĩa Lộ thuộc trại Quy Hóa. Đến thời nhà Trần thuộc châu Quy Hóa, trấn Thiên Hưng. Đầu thế kỷ XIX - thời nhà Nguyễn - Nghĩa Lộ là tên gọi của một sách (sách Nghĩa Lộ) thuộc châu Văn Chấn, phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa.
Thời thuộc Pháp (1886) mảnh đất này thuộc hạt Nghĩa Lộ, trực thuộc Đạo quan binh thứ tư miền thượng du Bắc Kỳ.
Ngày 11 tháng 4 năm 1900, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Yên Bái. Nghĩa Lộ là một xã thuộc tổng Phù Nham, huyện Văn Chấn. Đến năm 1907, tổng Nghĩa Lộ được lập trên cơ sở xã Nghĩa Lộ và một số xã lân cận thuộc tổng Hạnh Sơn - Phù Nham.
Trước Cách mạng tháng Tám có phố Nghĩa Lộ trong xã Nghĩ Lộ thuộc huyện Văn Chấn. sau năm 1952, phố Nghĩa Lộ đổi tên là thị trấn Nghĩa Lộ trực thuộc châu Văn Chấn.
Ngày 13 tháng 5 năm 1955, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Sắc lệnh 231/SL, chuyển các huyện Văn Chấn, Than Uyên, Phong Thổ thuộc khu tự trị Thái - Mèo (tháng 10 - 1962 khu tự trị Thái - Mèo đổi tên thành Khu tự trị Tây Bắc).
Ngày 27/10/1962 tại kỳ hợp thứ 5, Quốc hội khóa II đã ra Nghị Quyết thành lập tỉnh Nghĩa Lộ, lập lại các tỉnh Sơn La, Lai Châu. Thị trấn Nghĩa Lộ lúc đó trực thuộc huyện Văn Chấn tỉnh Nghĩa Lộ. Năm 1963, thị trấn Nghĩa Lộ trực thuộc tỉnh Nghĩa Lộ.
Do nhu cầu phát triển của khu vực cũng như của tỉnh Nghĩa Lộ, ngày 18 tháng 10 năm 1971, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 190/CP thành lập thị xã Nghĩa Lộ.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa V đã ra quyết định hợp nhất ba tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ, Lào Cai (trừ huyện Bắc Yên và Phù Yên) thành một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Hoàng Liên Sơn. Thị xã Nghĩa Lộ lúc này là thị xã trực thuộc tỉnh.
Ngày 4 tháng 3 năm 1978, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 56/CP, thị xã Nghĩa Lộ với huyện Văn Chấn thành một đơn vị hành chính lấy tên là huyện Văn Chấn. Thị xã Nghĩa Lộ chuyển xuống thành thị trấn Nghĩa Lộ, thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Các tiểu khu IV, V, VI sáp nhập vào các xã Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc thuộc huyện Văn Chấn.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VII đã quyết định chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh là Yên Bái và Lào Cai. Nghĩa Lộ thời kỳ này trực thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, ngày 15 tháng 5 năm 1995, Chính phủ đã ra Nghị định 31-NĐ/CP về việc tái lập thị xã Nghĩa Lộ thuộc tỉnh Yên Bái với diện tích tự nhiên là 878,5ha và 15.925 nhân khẩu, bao gồm 4 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường: Pú Trạng, Tân An, Trung Tâm và Cầu Thia.
Ngày 24 tháng 12 năm 2003, căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã và cả khu vực phía Tây tỉnh Yên Bái, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 167/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị xã Nghĩa Lộ. Thị xã Nghĩa Lộ sau khi được mở rộng địa giới hành chính có diện tích tự nhiên là 2.9996,6 ha với 26.032 nhân khẩu, có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường Trung Tâm, Tân An, Cầu Thia, Pú Chạng và các xã Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc.
Địa lý kinh tế
Là thị xã trực thuộc tỉnh, có quốc lộ, tỉnh lộ nối với trung tâm các huyện trong vùng và một số tỉnh lân cận, Nghĩa Lộ có điều kiện để trở thành một trung tâm kinh tế - văn hóa của khu vực miền Tây tỉnh Yên Bái. Có thể khái quát một số điều kiện và tiềm năng kinh tế của thị xã trên một số lĩnh vực sau:
Về nông - lâm nghiệp: Được thiên nhiên ưu đãi, thị xã gần như nằm trọn trong vùng lòng chảo Mường Lò, có cánh đồng rộng lớn, bằng phẳng, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Trong tổng số 2.107,73ha nhóm đất nông nghiệp của thị xã có tới 1.251,07ha đất sản xuất nông nghiệp (trong đó sản xuất 2 vụ lúa là 712,53ha, đất trồng cây lâu năm là 278,61ha...); đất lâm nghiệp 805,29ha. Ngoài 2 vụ lúa, hàng năm diện tích đất sản xuất vụ đông chiếm tới 80% diện tích, năng suất lúa 2 vụ bình quân đạt 120tạ/ha, là địa phương có năng suất lúa cao nhất tỉnh.
Trong sản xuất nông nghiệp, thị xã đã tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng, đẩy mạnh công tác khuyến nông, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vì vậy năng suất một số loại cây trồng nhất là cây lúa tăng nhiều so với những năm trước đây. Giá trị thu nhập trên 1ha canh tác đã tăng nhanh, đạt 38 triệu đồng/ha năm 2005.
Trong chăn nuôi, toàn thị xã có tổng đàn lợn là 10.907 con, tổng đàn trâu là 2334 con, đàn bò 205 con. So với các địa phương khác trong tỉnh, việc phát triển chăn nuôi gia súc, đại gia súc của thị xã còn hạn chế. Chăn nuôi gia cầm trước đây khá phát triển nhưng một số năm gần đây có chiều hướng giảm do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm.
Sản xuất lâm nghiệp của thị xã quy mô nhỏ, chủ yếu ở 2 xã Nghĩa An, Nghĩa Phúc và phường Pú Trạng. Trong 805,29ha đất lâm nghiệp có 805,29ha rừng sản xuất, diện tích rừng tự nhiên hầu như không còn.
Về tiểu thủ công nghiệp: Các ngành nghề thủ công truyền thống của thị xã tiêu biểu là dệt vải thổ cẩm, chế biến gỗ, chế biến lương thực, thực phẩm tiếp tục được duy trì. Bên cạnh đó, các ngành cơ khí sửa chữa, cơ khí xây dựng, sản xuất vật liệt xây dựng, sản xuất nước sạch... cũng đã từng bước có sự phát triển.
Dệt thổ cẩm với các sản phẩm đa dạng như vải, chăn, quần áo, túi, khăn và các loại đệm bông lau, bông gạo, đệm ghế, gối.... trước đây chỉ phục vụ cho sinh hoạt của cá nhân và gia đình nay đã trở thành hàng hóa. Chế biễn gỗ mỹ thuật cũng là một trong những ngành nghề mới được hình thành. Các ngành nghề may mặc, xay xát, chế biến lương thực, thực phẩm có bước phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu của thị xã và khu vực lân cận. Tuy nhiên, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của Nghĩa Lộ quy mô, giá trị sản xuất còn nhỏ bé, chưa có thị trường ổn định, chưa tạo được một thương hiệu riêng cho sản phẩm của địa phương.
Về thương mại - dịch vụ, du lịch: Đây là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của thị xã, có nhiều tiềm năng phát triển. Với vị trí là trung tâm giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa của khu vực, các của hàng, cửa hiệu và chợ đã hình thành trên một hệ thống thương mại khá sôi động ở địa phương. Từ lâu, miền đất này đã trở thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa tương đối sầm uất trong tỉnh và các khu vực lân cận. Thời kỳ thực dân Pháp cai trị năm 1935, chợ Nghĩa Lộ đã được xây dựng trở thành chợ lớn thứ hai của tỉnh Yên Bái. Sau khi thị xã được tái lập, chợ Mường Lò đã được quy hoạch, đầu tư, xây dựng lại trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn nhất của tỉnh Yên Bái. Hàng hóa ở đây khá phong phú, đa dạng. Bên cạnh những sản phẩm công nghiệp hiện đại còn có rất nhiều nông sản, sản phẩm thủ công truyền thống phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của nhân dân và trao đổi thương mại. Có thể gọi chợ Mường Lò là chợ đầu mối vì phần nào đã đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hóa trong vùng và các khu vực lân cận.
Hoạt động dịch vụ của thị xã cũng tương đối đa dạng, tập trung vào các lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, bưu chính viễn thông, vận tải, tín dụng... Dịch vụ du lịch có nhiều tiềm năng nhưng chưa phát triển. Dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục bước đầu được mở rộng trong những năm gần đây.
Về giao thông - vận tải: Nằm bên quốc lộ 32, tuyến quốc lộ quan trọng và độc đạo đi vào miền Tây Bắc của Tổ quốc, thị xã Nghĩa Lộ có một hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợn. Từ Nghĩa Lộ có thể đi các huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn, thành phố Yên Bái và các tỉnh Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, thủ đô Hà Nội bằng ô tô trong ngày dễ dàng.
Mạng lưới giao thông nội thị đang từng bước được hoàn chỉnh với hệ thống đèn chiếu sáng, hành lang, cống thoát nước, cây xanh... đã góp phần hình thành kết cấu hạ tầng của một đô thị văn minh. Bến xe khách của thị xã đã mở nhiều tuyến liên huyện, liên tỉnh tạo điều kiện cho việc luân chuyển hành khách, hàng hóa trong tỉnh và khu vực một cách thuận tiện.
Thông tin liên lạc: Là thị xã trực thuộc tỉnh, thông tin liên lạc của Nghĩa Lộ đã kịp với trình độ chung của tỉnh và khu vực. Tại đây có thể liên lạc trong nước, quốc tế bằng điện thoại, fax, Internet nhanh chóng, thuận lợi. Các mạng điện thoại di động lớn như Vinaphone, Mobiphone, Viettel được phủ sóng chất lượng tốt. Năm 2005 số thuê bao cố định và di động tăng nhiều so với những năm trước đây. Hiện tại tỷ lệ sử dụng máy điện thoại cố định đạt bình quân 11 máy/100 dân.
Văn hóa - xã hội: Cùng với sự phát triển kinh tế, các mặt văn hóa - xã hội ở thị xã Nghĩa Lộ được tăng cường, đầu tư quan tâm, chăm lo nên đạt trình độ phát triển khá cao. Thị xã là một trong những địa phương đi đầu (chỉ sau thành phố Yên Bái) về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho hệ thống điện, đường trạm. 100% xã, phường của thị xã có điện lưới quốc gia; đường ô tô thuận tiện; có hệ thống trường học và trạm ý tế kiên cố; có báo đọc trong ngày... Đài truyền thanh, truyền hình thị xã tổ chức chương trình phát thanh và tiếp phát sóng Đài truyền hình - Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh truyền hình tỉnh bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu nghe nhìn của người dân.
Hệ thống giáo dục trên địa bàn thị xã gồm 27 trường trong đó có 8 trường mầm non, 6 trường tiểu học, 7 trường tung học cơ sở và phổ thông cơ sở, 2 trường trung học phổ thông (1 trường bán công), 1 trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và 1 trung tâm giáo dục thường xuyên. Ngoài ra, còn có trung tâm dạy nghề và trường trung học sư phạm của tỉnh đóng trên địa bàn.
Hệ thống cơ sở y tế của địa phương khá hoàn thiện. Trên địa bàn thị xã có 1 bệnh viên hạng II tuyến 4 của tỉnh (bệnh viên đa khoa khu vực) với quy mô 150 giường, 1 trung tâm y tế dự phòng, 7 trạm y tế xã, phường với 30 giường bệnh. Trung tâm y tế và các trạm y tế xã phường đã hoàn thành tốt các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng đảm bảo duy trì công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc.
Với các chương trình phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo bước đầu có hiệu quả, những năm qua, đặc biệt từ khi thị xã được tái lập, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc trên địa bàn thị xã đã được cải thiện rõ rệt, hộ khá, hộ giàu tăng nhanh, song tỷ lệ hộ nghèo cũng còn khá cao (Năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới còn chiếm đến 31,7%).
Là trung tâm khu vực miền Tây của tỉnh, mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc thị xã Nghĩa Lộ là khá cao. Thị xã có 1 trung tâm văn hóa, thư viện, sân vận động, nhà luyện tập, thi đấu thể thao, rạp chiếu phim biểu diễn nghệ thuật ngoài trời, Khu di tích lịch sử văn hóa Căng - Đồn Nghĩa Lộ, Bảo tàng Yên Bái - Chi nhánh Nghĩa Lộ, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều thôn bản, tổ dân phố đã có nhà văn hóa; 3/7 xã, phường đã tổ chức ra mắt xây dựng đơn vị văn hóa.
Trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ có Khu di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ đã được Bộ văn hóa xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được công nhận là một trong những hệ thống Bảo tàng Hồ Chí Minh của cả nước.
Khu di tích lịch sử cách mạng Căng và Đồn Nghĩa Lộ: Khi thực dân Pháp xâm lược Yên Bái, chúng đã cho xây một nhà tù (căng) ở thị xã Nghĩa Lộ nhằm giam giữ tù chính trị. Rất nhiều đồng chí lãnh đạo đã bị giam ở đây như Trần Huy Liệu, Vương Thừa Vũ, Trần Đức Sắc, Nguyễn Phúc... Các đồng chí đã biến nhà tù thành trường học, là nơi tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Cũng tại nơi đây ngày 17/03/1945 dưới sự lãnh đạo của các Chi bộ Đảng nhà tù, cuộc bạo động phá Căng của các chiến sỹ cách mạng bị giam cầm đã diễn ra quyết liệt, bị địch đàn áp dã man, 9 đồng chí đã hy sinh. Ngày nay, trong khu di tích, đài tưởng niệm với tấm bia ghi danh 9 chiến sỹ cách mạng hy sinh trong cuộc bạo động đã được đầu tư xây dựng lại khang trang hơn.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm Yên Bái, chúng đã cho xây dựng nơi đây thành một hệ thống đồn, bốt dày đặc. Đồn Pú Trạng (Nghĩ Lộ đồi), đồn Nghĩa Lộ (Nghĩa Lộ phố) là một trong những cứ điểm mạnh của thực dân Pháp ở Tây Bắc. Năm 1952, chiến thắng Nghĩa Lộ đã san phẳng phân khu quân sự này, mở thông cánh cửa sang phòng tuyến sông Đà, góp phần vào chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu tại Điện Biên Phủ, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên đất nước ta.
Hiện tại, cụm di tích lịch sử cách mạng Căng và Đồn Nghĩa Lộ đang được Bộ Văn Hóa - Thông Tin đầu tư tu bổ, tôn tạo, xứng đáng với tầm vóc lịch sử của nó. Đây không chỉ là nơi tưởng niệm mà còn là một địa điểm du lịch thu hút khách đến tìm hiểu truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa của địa phương.
Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh: Với tấm lòng thành kính và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 1982, Đảng bộ chính quyền và nhân dân các dân tộc Văn Chấn - Nghĩa Lộ đã xây dựng công trình này. Ngày 14 tháng 7 năm 1997, Bộ Văn hóa thông tin đã ra quyết định công nhận Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thị xã Nghĩa Lộ thuộc hệ thống bảo tàng Hồ Chí Minh trong cả nước.
Với khuôn viên rộng hơn 2 ha , khu tưởng niệm bao gồm: Một ngôi nhà sàn mộc mạc, xinh xắn được xây dựng theo tỉ lệ 1/1 với ngôi nhà sàn của Bác tại Hà Nội; một ao cá rộng với vườn cây trái xanh tốt, trĩu quả đã gợi nhớ hình ảnh thân thương của Bác mỗi khi cho cá ăn, chăm sóc cây cối.
Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng, chăm sóc, bảo quản chu đáo đã đáp ứng ước muốn cao cả, song cũng thật bình dị của đảng bộ, chính quyền và bà con nhân dân các dân tộc nơi đây là thường xuyên thăm viếng, tỏ lòng thành kính và biết ơn Bác.
Hàng năm khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đón hàng ngàn lượt khách xa gần tới thăm, là một trong những địa điểm mà Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo nhân dịp 115 ngày sinh của Người. Khu tưởng niệm cũng là nơi cấp ủy, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ thị xã đến cơ sở, cán bộ đảng viên, nhân dân, lực lượng vũ trang, thiếu niên nhi đồng đến dâng hương tưởng niệm báo công ơn với Bác trong các ngày lễ, ngày kỉ niệm lớn, là nơi tổ chức nhiều hoạt động tổng kết, kết nạp đảng viên, đoàn viên, đội viên mới ... Những hoạt động đó đã trở thành một nếp sống mới đẹp đẽ và trang trọng trong đới sống xã hội ở thị xã miền Tây.
Một trong những thiết chế văn hóa quan trọng trên địa bàn thị xã là bảo tàng Nghĩa Lộ. Bảo tàng Nghĩa Lộ đã được tôn tạo, nâng cấp, là chi nhánh trực thuộc bảo tàng tỉnh Yên Bái. Bảo tàng có diện tích sử dụng trên 800m2, hiện đang lưu giữ, trưng bày và luân chuyển gần 800 hiện vật (341 hiện vật gốc, 156 tài liệu khoa học và gần 300 ảnh gốc các loại về con người; thiên nhiên; về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm; thành tựu xây dựng quê hương, đất nước của nhân dân Văn Chấn - Nghĩa Lộ). Bảo tàng Nghĩa Lộ mỗi năm đón hàng ngàn lượt khách trong tỉnh, trong nước và quốc tế đến tham quan.
Địa lý nhân văn
Là một miền đất từ lâu đời, một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ. Các di tích di chỉ khảo cổ học ở các vùng lân cận như Thẩm Thoóng, Thẩm Han đã chứng minh điều đó.
Với dân số năm 2005 là 26.786 người, mật độ là 896 người/1km2 - mật độ dân số của thị xã Nghĩa Lộ chỉ đứng sau thành phố Yên Bái của tỉnh. Cư dân của thị xã Nghĩa Lộ mang đặc trưng của cư dân thành thị miền núi Tây Bắc. Những năm đầu thế kỉ XX , dân cư ở Nghĩa Lộ thưa thớt, chủ yếu là người Thái bản địa ít, người Kinh, chủ yếu ở dưới xuôi lên theo các chủ đồn điền khai thác thuộc địa phiêu bạt trong nạn đói 1945. Sau này, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương chuyển dân Thái Bình, Hưng Yên, Hà Tây... lên đây xây dựng vùng kinh tế mới. Hiện nay Nghĩa Lộ là cái nôi của 17 dân tộc anh em chung sống, trong đó dân tộc Thái, Kinh, Tày chiếm tỉ lệ đông nhất...
Người Thái: Là cộng đồng dân tộc đông nhất ở thị xã Nghĩa Lộ. Người Thái sống quây quần thành bản làng, ở nhà sàn, có bản sắc văn hóa dân tộc đậm đà thể hiện rõ nét trong trang phục, lễ hội, ẩm thực... trong tục lệ về đám cưới, đám ma... Họ có kĩ thuật thâm canh lúa nước 2 vụ khá cao với một hệ thống thủy lợi thích hợp, ngoài ra người Thái còn rất giỏi về đan lát, dệt vải đặc biệt là dệt vải thổ cẩm, làm chăn, đệm, túi. Người Thái có 2 nhóm người là Thái trắng và Thái đen. Dựa theo các thư tịch cổ Mường Lò luôn được người Thái đen xác định như là miền đất tổ của họ.
Người Kinh: Ngoài bộ phận cư trú từ lâu đời , hầu hết người Kinh từ các tỉnh miền xuôi lên xây dựng kinh tế miền núi và đội ngũ cán bộ công chức công tác trong các cơ quan nhà nước. Người Kinh sống xen kẽ với các dân tộc khác, họ làm nghề buôn bán, thợ thủ công, làm ruộng, công chức, viên chức, hình thành một cộng đồng gắn bó với người địa phương.
Người Tày: Là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm lúa nước. Cộng đồng người Tày ở nhà sàn, sống xen kẽ. Người Tày ở thị xã Nghĩa lộ cũng mang đầy đủ những bản sắc của dân tộc mình thể hiện trong trang phục cổ truyền ,các lễ hội mà đặc trưng là lễ hội “lồng tồng”, trong các làn điệu dân ca và các tục lệ cưới xin, ma chay...
Còn lại các dân tộc khác như Mường, Dao, Mông, Khơ Mú...
Với truyền thống, đoàn kết gắn bó, cộng đồng các dân tộc ở Nghĩa Lộ luôn đoàn kết với nhau trong lao động sản xuất, trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và ngày nay là xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh, văn minh. Mỗi một dân tộc ở thị xã Nghĩa Lộ đều có một bản sắc riêng, đậm đà nhưng hoà quyện vào nhau, cùng với thiên nhiên đã tạo ra một nét văn hoá riêng đó là văn hoá Mường Lò .
Ở Nghĩa Lộ cùng với đa số người dân theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cha mẹ và những người có công với quê hương, đất nước còn có một bộ phận giáo dân theo Thiên Chúa giáo với tổng số 284 hộ, 945 nhân khẩu. Nhà thờ Nghĩa Lộ được hình thành những năm đầu thế kỷ XX, do linh mục Vĩnh (Coóc - nít) đưa giáo dân từ Thái Bình lên lập đồn điền. Với chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước, mỗi người dân theo tôn giáo cũng như không theo tôn giáo ở Nghĩa Lộ đều lấy mục tiêu sống đoàn kết, tương thân, tương ái, chung sức, chung lòng xây dựng quê hương, đất nước.
Truyền thống văn hóa
Là một thị xã miền núi, miền đất - con người Nghĩa Lộ mang trong mình một bản sắc văn hoá đậm đà, riêng có đó là nét văn hoá Mường Lò.
Câu nói ví trở thành quen thuộc: Nhất Thanh, nhì Lò... cho ta thấy đây là một miền đất rộng lớn, phì nhiêu (Cánh đồng Mường Lò rộng chỉ sau cánh đồng Mường Thanh - Điện Biên). Không những vậy nơi đây còn là địa danh mang đậm truyền thống văn hoá các dân tộc.
Vùng đất Nghĩa Lộ là cái nôi của 17 dân tộc chung sống như Thái, Kinh, Tày, Mường... mỗi dân tộc đều mang trong mình một bản sắc riêng.
Người Kinh ở Nghĩa Lộ có một bộ phận cư trú từ lâu đời còn hầu hết từ các tỉnh miền xuôi lên xây dựng kinh tế miền núi nhưng vẫn giữ những nét tương đồng như ở dưới xuôi. Cùng với người Kinh, các dân tộc khác như người Thái, người Tày, người Mường, người Khơ Mú... mỗi dân tộc có một bản sắc văn hoá riêng thể hiện về trên cả lĩnh vực văn hoá vật thể và phi vật thể.
Người Thái có trang phục độc đáo. Phụ nữ mặc áo cỏm, đủ các màu sắc, đính hàng khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với váy dài màu thẫm, cuốn hình ống, có hoa văn ở gấu, thắt eo bằng thắt lưng xanh lá cây, đeo xà tích bạc bên hông. Đồ trang sức của phụ nữ như hoa tai, nhẫn vòng tay chủ yếu bằng bạc. Người Thái đen đã có chồng phải “tằng cẩu” (Búi tóc). Phụ nữ Thái hầu hết có thân hình đẹp bởi được lao động và mặc áo bó từ nhỏ. Nữ Thái đen đội khăn piêu nổi tiếng với các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc sặc sỡ.
Nam giới người Thái mặc quần cắt theo kiểu chân què có cạp để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở 2 bên gấu vạt, người Thái trắng có thêm túi bên ngực trái. Màu quần áo chủ yếu là màu thẫm.

Người Thái khéo tay, đặc biệt là phụ nữ Thái, giỏi nghề thủ công truyền thống tiêu biểu là nghề dệt thổ cẩm. Nói về nghề dệt, người Thái có câu thành ngữ “Vợ con tay guồng, tay tơ”. Cộng đồng người Thái quan niệm: gái tốt, gái đẹp phải là người khéo trong trồng bông, dệt vải. Mọi thiếu nữ đều được mẹ giáo dục chăm chút từ nhỏ, truyền kinh nghiệm để khi cô gái đến tuổi về nhà chồng đã có đủ váy, áo, chăn đệm, gối... do chính mình làm ra mang theo. Người Thái có câu ví đặc trưng “Mí phải chăng pên ếm” (có vải mới thành mẹ) thể hiện sự đảm đang, khéo léo của người phụ nữ.
Dệt thổ cẩm là một nghề truyền thống lâu đời ở Nghĩa Lộ. Bao đời, nghề trồng bông, dệt vải đã gắn bó với từng gia đình người Thái. Ngày nay, nhiều nguyên liệu mới, hiện đại đã dần thay thế việc trồng bông, ươm tơ. Khung cửi truyền thống cũng được cải tiến, chạy bằng điện, giảm bớt sức người. Sản phẩm thổ cẩm của người Thái Nghĩa Lộ luôn được mọi người ưa chuộng và đã có mặt ở nhiều nơi trong nước.
Y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không có thêu thùa trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn bên trong và áo dài bên ngoài.
Người Mường ở nhà sàn, kiểu nhà 4 mái. Canh tác chủ yếu là lúa nước. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men, được đem ra mời khách quý và các cuộc vui tập thể. Phụ nữ Mường cũng rất giỏi nghề thủ công như dệt vải, dệt thổ cẩm, đan lát. Trang phục tiêu biểu của phụ nữ là khăn đội đầu và áo cánh ngắn màu trắng, váy đen có cạp dệt hoa văn sặc sỡ và hoạ tiết vô cùng phong phú...
Ngày nay, những trang phục truyền thống của dân tộc Thái, Tày, Mường... thường chỉ được mặc vào các dịp lễ, hội, tết... và ở những người trung tuổi trở lên.
Văn hoá ẩm thực cũng là một trong những đặc trưng của văn hoá Mường Lò. Câu nói đã trở thành quen thuộc như: “Muốn ăn gạo trắng nước trong. Vượt qua đèo Ách vào trong Mường Lò” gợi nhớ về một vùng quê trù phú với những sản vật đặc trưng của vùng đất này.
Được thiên nhiên ưu đãi, lòng chảo Mường Lò với cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay đã cho những hạt nếp (nếp tan) đặc sản. Dưới bàn tay khéo léo của con người, món xôi nếp là một trong những đặc sản khó quên nhất của Nghĩa Lộ. Xôi Nghĩa Lộ dẻo, thơm, ai thưởng thức một lần thì nhớ mãi. Xôi được đồ bằng chõ gỗ, khi đơm không bày ra đĩa như người Kinh mà được đặt trong những chiếc giỏ đan bằng giang xin xắn (coóng khẩu).
Không chỉ có xôi, ở Nghĩa Lộ còn có nhiều món ăn tiêu biểu mà những nơi khác không có như món rêu nướng, rêu hấp (rêu ở dòng suối Thia), măng chua, thịt trâu sấy, nộm hoa chuối rừng, rau xôi thập cẩm... Không quá cầu kỳ nhưng những món ăn của vùng đất này luôn hấp dẫn bởi hương vị của các loại gia vị từ núi rừng (hạt sẻn, hạt dổi...).
Với một tiềm năng về văn hoá dân gian đậm đà bản sắc, các loại hình nghệ thuật đặc sắc của miền đất này đã thể hiện giá trị nghệ thuật đích thực.
Vũ điệu xoè là một trong những loại hình nghệ thuật tiêu biểu của người Nghĩa Lộ. Đêm đến, bên đống lửa hồng, ai ai cũng đắm say hoà mình trong điệu xoè. Người Mường Lò có câu :” không xoè không tốt lúa, không xoè thóc cạn bồ”. Xoè Thái có nhiều điệu tiêu biểu như xòe quanh đống lửa, xoè nâng khăn mời rượu, xoè tiến lùi, xoè tung khăn, xoè vòng tròn vỗ tay... Âm thanh trầm bổng, vũ điệu nhịp nhàng của hội xoè tưng bừng, hối hả thôi thúc mọi người đến với vòng xoè. Trong nhịp xoè, mọi người xích lại nhau hơn, thân ái, quây quần, đầm ấm. Điệu xoè hôm nay không còn là của riêng người Thái mà đã trở thành tài sản vô giá của nhân dân các dân tộc Mường Lò.
Ngoài ra, ở Nghĩa Lộ còn có những loại hình nghệ thuật độc đáo tiêu biểu như “hạn khuống” - một hình thức sân khấu sơ khai được các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian hết sức chú ý.
Là một miền đất giàu truyền thống văn hoá, Nghĩa Lộ - Mường Lò là quê hương gạo trắng, nước trong, được coi là xứ sở của nhiều lễ hội, cái nôi tạo nên sắc thái văn hoá khá riêng biệt, đậm đà bản sắc dân tộc, nhất là mỗi khi Xuân về, Tết đến; mùa màng thu hoạch xong xuôi. Lễ hội nào cũng chứa đựng một tâm tưởng vừa kín đáo, vừa lan toả, bao trùm lên nó là sự thờ cúng, tôn vinh các vị thần linh, các siêu nhân có công với bản, với quê hương, đất nước, với tổ tiên. Lễ hội cũng là dịp giải trí, vui chơi, giao lưu, củng cố tình làng xóm, từ lễ hội này trai gái được giao duyên, nhiều đôi nên vợ, nên chồng. Lễ hội đã góp phần bồi đắp và phát triển ý thức cộng đồng. Ở đây có những lễ hội đặc sắc như lễ hội hoa ban, lễ hội “lồng tồng” (hội xuống đồng”, lễ hội “xên hươn - xên bản - xên mường” (cúng nhà, cúng bản, cúng mường) cầu cho sức khoẻ, làng bản ấm no, mùa màng bội thu, mưa thuận gió hoà, trâu bò đầy chuồng, thóc lúa đầy nhà...; lễ hội trò chơi, lễ hội ẩm thực... Gắn liền với lễ hội là các trò chơi truyền thống của các dân tộc như kéo co, ném còn, tómắclẹ, đánh yến, đu chà... Những trò chơi không chỉ vui, hứng thú mà còn có ý nghĩa giao duyên, tỏ tình đậm đà.
Kho tàng văn hoá, văn nghệ dân gian của các dân tộc ở Nghĩa Lộ phong phú với nhiều thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, sử thi, ca dao... với nhiều tác phẩm nổi tiếng như “Sống trụ xôn xao”; “Ngọc Hánh đánh giặc Cờ Vàng”, “Táy pú sắc”..., các làn điệu dân ca như khắp, then, lượn... cùng nhiều loại nhạc cụ như đàn, trống, pí, chũm choẹ, khèn... tạo nên âm thanh trầm bổng, tha thiết.
Mỗi dân tộc ở Nghĩa Lộ có một bản sắc văn hoá riêng, độc đáo nhưng luôn song hành hoặc hoà quyện vào nhau tạo nên một vùng đất văn hoá đặc sắc mà ít nơi có được đó là văn hoá Mường Lò. Ngày nay, dưới ánh sáng của Đảng, các giá trị truyền thống văn hoá đó luôn được bảo tồn, gìn giữ và phát huy. Thị xã đã chủ động tổ chức xây dựng phong trào văn hoá, văn nghệ trong đó chú trọng bảo tồn, phát triển các giá trị văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, quan tâm xây dựng các đội văn nghệ quần chúng, khôi phục các loại hình tổ chức sinh hoạt văn hoá dân gian ở cơ sở, từng bước đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của nhân dân trong việc hưởng thụ các giá trị văn hoá của chính dân tộc mình, góp phần xây dựng thị xã Nghĩa Lộ trở thành một thị xã văn hoá miền núi tiêu biểu của cả nước.
Truyền thống lịch sử
Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, với một vị trí chiến lược khá quan trọng trong khu vực Tây Bắc của Tổ quốc, trên mảnh đất Nghĩa Lộ nhiều thế lực phong kiến, thực dân, đế quốc đã nhiều lần xâm chiếm. Nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ không chỉ cần cù trong lao động, sáng tạo trong văn hoá mà còn có truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước.
Năm 1075, mảnh đất này đã có nhiều dân binh theo Thái uý Lý Thường Kiệt chống quân xâm lược nhà Tống.
Năm 1258, giặc Nguyên - Mông sang xâm lược nước ta lần thứ nhất, nhân dân các dân tộc Mường Lò đã cùng nhân dân vùng lân cận anh dũng chống giặc cản bước tiến của chúng về phía kinh thành dưới sự chỉ huy của lãnh binh Hà Chương, Hà Bổng.
Trong lần thứ hai xâm lược của quân Nguyên - Mông (năm 1285), nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ đã giúp đỡ, ủng hộ đạo quân của tướng Trần Nhật Duật.
Mùa Xuân năm 1872, giữa lúc bản làng đang sống yên vui thì giặc Cờ Vàng do tướng Dịp Tài cầm đầu từ đất Vân Nam - Trung Quốc tràn sang vùng Tây Bắc Việt Nam xâm chiếm, cướp bóc, tàn phá. Giặc Cờ Vàng tàn ác, đi đến đâu là gây ra cảnh đốt nhà, giết người, hãm hiếp phụ nữ.
Mường Lò là mảnh đất đầu tiên của vùng Tây Bắc bị bọn xâm lược giày xéo. Với lòng yêu bản, yêu mường, nhân dân các dân tộc Mường Lò do thủ lĩnh Cầm Ngọc Hánh đã đứng dậy chống lại kẻ thù. Khi chúng vượt sông Hồng, mới đến đất Âu Lâu, nghĩa quân đã chủ động tiến đánh, song do thế giặc mạnh nên nghĩa quân đã về cố thủ tại đất Mường Lò. Đội Nhất - người chỉ huy của Cầm Ngọc Hánh đã anh dũng hi sinh tại Đồng Bằng. Tại lòng chảo Mường Lò, trận giáp chiến đầu tiên do 2 vị tướng của nghĩa quân là Cầm Hiệp và Cầm Tú chỉ huy đã diễn ra rất ác liệt từ chân dốc Thái Lão đến Bằng Bon. Trong trận này, Cầm Hiệp bị chúng bắt và chém đầu. Mặc dù vậy, dưới sự lãnh đạo của các tướng, nghĩa binh và nhân dân đã làm cho lũ giặc thiệt hại lớn, chặn bước tiến xâm lược của chúng...
Để chống lại kẻ thù, căn cứ Viềng Lò, Viềng Công được thành lập và xây dựng kiên cố. Nghĩa quân và nhân dân gấp rút củng cố lực lượng, đào thành, đắp luỹ. Nhiều lần giặc tiến đánh Viềng Công nhưng đều thất bại thảm hại. Sau này, do sự phản bội của Cầm Ngọc Chiêu, giặc đã chiếm được thành. Chúng thẳng tay tàn sát dân lành, làm cho vùng đất phì nhiêu này không còn sự sống, đâu đâu cũng dâng lên niềm oán hận. Những người dân còn lại đã phiêu bạt lên những vùng xa xôi sinh sống tìm cách chống lại chúng.
Sau khi chiếm được cả đất Mường Lò, giặc Cờ Vàng mở rộng phạm vi xâm lược lên Gia Hội, Tú Lệ, Ngọc Chiến, vượt sông Đà sang Sơn La, Thuận Châu. Mường Lò trở thành hoang tàn, vườn không, nhà trống. Lũ giặc bạo tàn sau một thời gian giết người, cướp của đã gặp phải bệnh tật, thú dữ, lương thảo cạn kiệt đã phải tháo chạy khỏi đất Mường Lò. Nhân dân Mường Lò dưới sự chỉ huy của Cầm Tám sau ba năm phiêu bạt đã trở về lập bản, xây mường. Với đôi bàn tay cần cù lao động, được sự chở che, giúp đỡ của nhân dân các dân tộc vùng lân cận và tình yêu quê hương, bản làng dần lại trở lại cảnh đầm ấm, yên vui.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta. Tháng 2 năm 1886, sau khi làm chủ thành Hưng Hoá, thực dân Pháp do tướng Gia Mông chỉ huy đã tiếp tục tràn lên thượng lưu sông Hồng đánh chiếm Yên Bái. Mất thành Hưng Hoá, bố chánh Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp đã rút về lập căn cứ chống Pháp ở vùng sông Thao. Nghĩa quân chiến đấu hết sức dũng cảm với tinh thần và ý chí cao. Phong trào chống Pháp do Nguyễn Quang Bích trực tiếp chỉ huy đã phát triển vào các căn cứ như Đại Lịch, Mường Lò, Mường Cơi... Đồng bào các dân tộc Thái, Dao, Mông, Mường đã hết lòng ủng hộ nghĩa quân. Dưới sự lãnh đạo của lãnh binh Vương Văn Doãn, nghĩa quân đã đẩy lùi cuộc tấn công của giặc Pháp và căn cứ lòng chảo Mường Lò.
Sau lần tấn công tháng 7 năm 1988 thất bại, 2 tháng sau Pháp tổ chức tấn công Nghĩa Lộ bằng 2 mũi. Mũi phía Đông gồm 400 quân do Bô-xê chỉ huy từ Ngòi Hút đến; mũi thứ 2 gồm 384 quân của Béc-giê tiến từ ngòi Lao lại. Địch bị chặn đánh ở nhiều đoạn đường hẻm, núi cao nên thiệt hại khá nặng. Một tốp nghĩa quân do Phạm Đình Tế, Phạm Thọ chỉ huy đã cùng lãnh binh Lý Hữu Kim tấn công địch ở Khe Thắc - nằm trên đèo Ách. Tháng 9 năm 1888, đại uý Pháp là Sapơlê đưa quân vào xây dựng đồn Nghĩa Lộ đã bị nghĩa quân bao vây, Pháp buộc phải cứu viện. Khi hai cánh quân của đại uý Buy-kê và trung uý Nooc-kê đến giải cứu đều bị đánh bật và tiêu diệt một phần. Nghĩa quân của Đặng Phúc Thành và Đào Chính Lục đã khống chế đường Nghĩa Lộ - đèo Hát đánh tan một cánh viện quân khác do đại uý Grôđa chỉ huy.
Ngày 26 tháng 11 năm 1889, thực dân Pháp tập trung một binh lực lớn do thiếu tá Pen - nơ - canh chỉ huy tiến từ hướng sông Hồng và sông Đà đến Nghĩa Lộ. Chúng thẳng tay khủng bố và đàn áp phong trào yêu nước của nghĩa quân rút về thượng huyện Văn Chấn để củng cố song cũng bị chúng truy quét hết sức quyết liệt để đè bẹp phong trào.
Tháng 1 năm 1890, đại bản doanh chống Pháp của Nguyễn Quang Bích ở Mường Lò bị tan rã.
Những năm sau đó, nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ và nhân dân vùng lân cận vẫn liên tục nổi dậy chống ách thống trị của giặc Pháp và tay sai, đặc biệt có lần phối hợp lực lượng của nghĩa quân tổ chức đánh úp đồn Tú Lệ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Mặc dù rất dũng cảm chiến đấu, song tương quan lực lượng quá lớn nên thực dân Pháp đã chiếm được Nghĩa Lộ. Các phong trào yêu nước của nhân dân các dân tộc nổi dậy chống thực dân thời kỳ cuối thế kỷ XIX không thành công nhưng đã khơi dậy ý chí căm thù, thức tỉnh lòng yêu nước để sau này, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân các dân tộc đã đứng lên, đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lậo tự do cho dân tộc trong cách mạng tháng Tám năm 1945.
Truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiến cường của nhân dân các dân tộc Nghĩa Lộ trong đấu tranh chống các thế lực phong kiến và ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất được phát huy cao độ trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc sau này dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nghĩa Lộ nổi tiếng với hoa ban, gạo Mường Lò, xôi ngũ sắc, thổ cẩm, ngòi Thia và đặc biệt là các điệu xòe cổ, các loại nhạc cụ dân gian.
Chợ Văn hóa Mường Lò và mạng lưới thương mại dịch vụ đã làm cho Nghĩa Lộ trở thành trung tâm kinh tế xã hội của các địa phương miền Tây Yên Bái.
Về phía Bắc của lòng chảo Mường Lò thơ mộng, có một dòng suối lớn. Mùa nước lớn lòng suối rộng tới cả trăm mét. Đó là suối Thia. Tiếng địa phương, Thia nghĩa là nước mắt. Dân địa phương kể rằng, từ ngày xưa đã lâu lắm rồi, có một cô gái yêu một chàng trai miền xuôi, khi chàng trai về xuôi không trở lại, cô gái ngồi khóc một mình, khóc mãi, khóc mãi, nước mắt chảy thành dòng suối còn đến nay. Các nghệ nhân dân gian còn kể lại nhiều truyền thuyết khác như truyền thuyết về Hoa Ban, hang Thẩm Lé, Thẩm Han...
Bài hát nổi tiếng của Nghĩa Lộ là bài "Anh có vào Nghĩa Lộ với em không", nhạc Trọng Loan phổ thơ Hoàng Hạnh:
Chiều mùa thu, nắng vàng như mật
Khi nhắc tên đèo Ách, cầu Nhì
Khi đã từng nghe tiếng rừng gió hút
Anh có vào Nghĩa Lộ với em không?
Hay những câu thơ:
Mường Lò gạo trắng, nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về...
Các đơn vị phường, xã trong thị xã:
Thị xã Nghĩa Lộ gồm có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó có 4 phường: Pú Trạng, Trung Tâm, Tân An, Cầu Thia và 3 xã gồm: Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc, Nghĩa An



luongthienminh 10:32 20-11-2009
Mrthieugia12:32 25-11-2009