Chào bạn! Rất vui vì bạn đã vào thăm blog của tôi:-) Tôi là cỏ, bạn thấy tôi ngay dưới chân của bạn - ý thơ của W. Withman- nhưng ẩn chứa dưới bao la đồng cỏ

Bài mới nhất

Sửa Đóng

LỜI HỒ CHÍ MINH:   DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA

Lịch sử của thời cổ và trung cổ trên toàn thế giới - theo các nhà nghiên cứu là lịch sử thôn tính bành trướng mạnh được yếu thua. Đại Nam , Đại Việt đã tồn tại và phát triển trong bối cảnh đó. Lân bang luôn xâm lăng và đã bị bại vong. Tham khảo tài liệu dưới đây để hiểu thêm lịch sử nước nhà và có cái nhìn biện chứng khoa học về lịch sử

 

Hai bài nghiên cứu của Hồ Bạch Thảo, dựa trên bộ MINH THỰC LỤC ( sử đời Minh), đối sánh với các bộ sử Việt Nam .

 

LẦN THEO DẤU VẾT MỘT THỜI NGANG DỌC CỦA CHẾ BỒNG NGA

 

Hồ Bạch Thảo

 

 

Một người bạn tại Hà Nội, anh N. B. D., biết tôi hiện đang dịch Minh Thực Lục nên có nhã ý gửi cho website bản dịch bằng Anh ngữ về Minh Thực Lục liên quan đến vùng Đông Nam Á (Southeast Asia in the Ming Shi-lu), do Singapore thực hiện. Xem xong, tôi trả lời anh D. rằng :

- Tài liệu rất có ích trong việc tham khảo để dịch các văn bản liên quan

Việt Nam ; riêng về các nước khác như Chân Lạp, Chiêm Thành, Java, Tiêm La

vv… thì hiện nay tôi chưa có ý định làm.

Anh D. có ý kiến :

Nghiên cứu bộ sử Trung Quốc Minh Thực Lục, và đối chiếu với các bộ sử Việt

Nam, tác giả Hồ Bạch Thảo  đã mang lại cho chúng ta nhiều thông tin về

nước Chiêm Thành và về quan hệ giữa hai nước Đại Nam và Chiêm Thành, hai yếu tố cấu thành của quốc gia Việt Nam ngày nay. Nghiên cứu này gồm hai bài. Bài đầu đã công bố trên mạng Talawas. Để bạn đọc có thể theo dõi một cách mạch lạc, chúng tôi đăng toàn văn cả hai bài trong cùng một tài liệu.

- Chiêm Thành hiện nằm trong lãnh thổ nước ta, vậy sử Chiêm Thành là sử Việt Nam ; anh không nên bỏ qua.

Nhận thấy đây là nói phải của một người bạn trẻ, tuy xa cách quan san nhưng gần gũi trong gang tấc, bởi cùng chung một tấm lòng yêu sử Việt ; nên tôi bắt tay vào việc sưu tầm bản gốc để dịch tiếp. Nhân tiện rút ra một vài sử liệu liên quan đến đấng anh hùng của Chiêm Thành để giới thiệu, qua nhan đề LẦN THEO DẤU VẾT MỘT THỜI NGANG DỌC CỦA CHẾ BỒNG NGA.

 

*

Không rõ năm sinh của Chế Bồng Nga, nhưng vào năm Hồng Vũ thứ 2 (1369) khi vua Thái Tổ nhà Minh sai sứ báo tin cho các nước về việc nhà Minh giành ngôi từ nhà Nguyên, thì Chế Bồng Nga đã làm vua (tên xưng với Trung Quốc là Ha Đáp Ha Giả) và sai sứ sang triều cống Trung Quốc. Chế Bồng Nga bị quân nhà Trần bắn chết tại sông Hoàng Giang vào năm Hồng Vũ thứ 23 (1390) như vậy thời gian trị vì của họ Chế cũng xấp xỉ với vua Minh Thái Tổ.

Riêng các vua nhà Trần nước ta thì một phần yểu mệnh, một phần gặp biến cố nên trong thời gian này tính có đến 6 đời vua : Dụ Tông, Dương Nhật Lễ, Nghệ Tông, Duệ Tông, Phế Đế, Thuận Tông.

 

Nay thuận theo dòng lịch sử, sự việc được đề cập kể từ khi vua nhà Minh gửi chiếu thư đầu tiên liên lạc ngoại giao với Chiêm Thành và một số nước như Nhật Bản, Ja Va, Tây Dương vào tháng giêng năm Hồng Vũ thứ 2 :

 

 

NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM HỒNG VŨ THỨ 2 [26/2/1369]

“ Sai Sứ-giả mang tờ chiếu lên ngôi dụ các nước Nhật Bản, Chiêm Thành,

Trảo Oa [Java ], và Tây Dương ( 1 ) ”. ( Minh Thực Lục v. 2 , t. 0775;

Thái Tổ q. 38, t. 11a ).

 

Riêng đối với nước Chiêm Thành thì lúc Sứ-giả chuẩn bị ra đi, Chế Bồng Nga

đã nhanh tay cho người đến trước ; triều cống cọp, voi và sản vật :

 

 

NGÀY 4 THÁNG 2 NĂM HỒNG VŨ THỨ 2 [12/3/1369]

“ Quốc vương Chiêm Thành Ha Đáp Ha Giả [Chế Bồng Nga] sai quan là Hổ Đô

Man cống cọp, voi, và sản vật địa phương.” ( Minh Thực Lục v.2 q. 39 t.

0785; Thái Tổ q. 39, t. 2a ).

 

Sứ giả Trung Quốc đưa đi, đều mang thư có dấu ấn tỷ của Minh Thái Tổ gửi

cho các nước. Nội dung tỷ thư nhà Minh tỏ ra ân cần với Chiêm Thành, Ja Va

; riêng đối với Nhật Bản thì có thái độ rất nghiêm khắc với lời đe doạ

nặng nề, do bởi lúc bấy giờ đám cướp biển người Nhật thường ra vào cướp

phá tại bờ biển Trung Hoa :

 

 

NGÀY 6 THÁNG 2 NĂM HỒNG VŨ THỨ 2 [14/3/1369]

“ Sai bọn Ngô Dụng, Nhan Tông Lỗ và Dương Tải đi sứ các nước Chiêm Thành,

Trảo Oa [Java], Nhật bản.

Ban cho Quốc vương Chiêm Thành Ha Đáp Ha Giả [Chế Bồng Nga] tỷ thư ( 2 )

như sau :

“ Ngày mồng 4 tháng 2 năm nay, Hổ Đô Man đến dâng cọp, voi ; lòng thành

của Vương, Trẫm đã hiểu rõ. Tuy nhiên lúc Hổ Đô Man chưa tới, Sứ giả của

Trẫm cũng sẵn sàng trên đường đi đến nước Quốc vương. Sứ giả của Trẫm đến

để báo cho Quốc vương biết rằng trước đây nước Trung Quốc bị rợ Hồ [Mông

Cổ] trộm chiếm hàng trăm năm, khiến tập tục man di đầy rẫy, phế bỏ Trung

quốc phong hóa. Trẫm khởi binh trong vòng 20 năm, dẹp sạch bọn chúng, làm

chủ Trung Quốc, thiên hạ bình an. Sợ các Di (3) trong bốn phương chưa

biết, nên sai Sứ giả báo tin cho các nước. Không ngờ Sứ giả nước của Vương

tới trước, lòng thành thể hiện vững vàng, khiến Trẫm rất vui. Nay ban một

bản lịch Đại Thống, 40 bộ y phục lụa là, lụa ỷ (4) dệt kim tuyến ; sai

người đưa Sứ giả về nước. Lại dụ vương về đạo [thờ nước lớn], Vương nên

phụng thừa coi như đạo trời, khiến dân Chiêm Thành yên với nghề nghiệp,

Vương giữ được lộc vị truyền đến con cháu ; trời đất soi xét sự cố gắng,

Vương chớ xem thường. Hổ Lao Man và đám tùy tùng cũng được ban lụa là, lụa

ỷ hoa văn, có phân biệt.

“ Ban tỷ thư cho Quốc-vương nước Trảo Oa [Java] như sau :

“ Rợ Hồ trộm chiếm nước Trung Hoa chính thống hơn một trăm năm, cương

thường đọa lạc, mũ nón điên đảo. Trẫm khởi binh dẹp chúng suốt 20 năm, đất

nước bình định, bèn phụng mệnh trời làm chủ Trung Quốc. Sợ nơi xa xôi chưa

biết tin này, nên sai Đặc sứ báo cho Vương biết. Khi Sứ giả sẵn sàng ra đi

; lại được tin người của Vương là Niết Chỉ Mổ Đinh đến cống nhà Nguyên,

lúc về đến Phúc Kiến thì được tin nhà Nguyên mất, bèn trở lại kinh sư.

Trẫm nghĩ y xa Trảo Oa đã lâu ngày, tất nặng lòng tưởng nhớ, nên sai người

đưa trở về. Lại cho một bản lịch Đại Thống để Vương nhớ ngày Chính Sóc (5)

ban tại đây, tất phải chuyên tâm phụng thờ như đạo trời, để giúp dân Trảo

Oa yên ổn trong cuộc sống, Vương được giữ lộc đời đời, truyền đến con

cháu. Hãy gắng chăm lo, chớ coi thường.”

“ Ban cho Quốc vương Nhật Bản tỷ thư như sau :

“ Thượng đế hiếu sinh, ghét kẻ bất nhân. Nhà Triệu Tống xưa (6) chế ngự

sai lầm, để rợ Hồ phương Bắc tràn vào, truyền bá thói tục hôi tanh, đến

nỗi phong hóa trung thổ suy sụp, lòng dạ muôn người ai mà không hưng phẩn

? Từ năm Tân Mão [1351] đến nay, Trung Quốc loạn lạc, bọn giặc Nụy (7) các

ngươi đến cướp tại Sơn Đông, bất quá thừa dịp khi bọn Hồ [nhà Nguyên] suy

đốn. Trẫm vốn thuộc gia đình Trung Quốc xưa, hổ thẹn vì vua trước chịu

nhục, hưng binh quét sạch rợ Hồ ; ngày đêm quên ăn, lo tính đã hai mươi

năm nay. Từ năm ngoái đến nay, bọn giặc phương bắc diệt hết, lên làm chủ

Trung Quốc. Sự việc chưa báo rõ cho các Di bốn phương, thỉnh thoảng Sơn

Đông lại tâu về rằng bọn Nụy mấy lần cướp phá vùng duyên hải, kẻ chết lìa

vợ lìa con, làm tổn thương vật chất và mạng sống. Nay soạn đặc thư báo

quyền chính thống và dụ về việc quân Nụy vượt biển quấy phá. Khi chiếu thư

đến nơi, như muốn làm bề tôi thì hãy dâng biểu đến triều đình ; nếu không

chịu thì hãy luyện binh để tự giữ, lo đời đời cho lãnh thổ được bình an để

đối phó với uy trời. Nếu còn cướp phá, Trẫm sẽ mệnh các đạo thủy quân

dương buồm truy bắt sạch tại các đảo, rồi tiến thẳng vào trói Vương nước

này, há chẳng phải là thay trời phạt bất nhân đó ư ! Vương hãy lo tính lấy

! ” (Minh Thực Lục v. 2 q. 39 t.0785-0787; Thái Tổ q. 39,t. 2a-3a).

 

Lúc này chiến tranh xẩy ra giữa Việt Nam và Chiêm Thành. Chế Bồng Nga bèn

sai sứ sang tố cáo với Trung Quốc, do đó vua nhà Minh sai sứ giả mang thư

đến Việt Nam và Chiêm Thành để dàn hòa :

 

 

NGÀY MỒNG 1 THÁNG 12 NĂM HỒNG VŨ THỨ 2 [30/12/1369]

“ Sai Hàn Lâm Viện Biên tu La Phục Nhân, Chủ sự bộ binh Trương Phúc mang

chiếu thư dụ An Nam và Chiêm Thành rằng :

“ Trẫm vốn xuất thân từ bình dân, nhân thiên hạ loạn bèn khởi binh để bảo

vệ làng xóm, không ngờ hào kiệt theo rất đông. Trẫm cầm binh vài năm, đất

đai mở rộng, quân lính cường thịnh, được thần dân tôn lên làm vua trị

thiên hạ, nối dòng chính thống, đến nay đã được 3 năm. Các nước ngoài đến

triều cống thì An Nam là nước đầu tiên, thứ đến Cao Ly, rồi Chiêm Thành ;

tất cả đều dâng biểu xưng thần, hợp với chế độ xưa, khiến Trẫm rất vui

lòng.

“ Mới đây Chiêm Thành sai Bình chương Bồ Đán Ma Đô đến cống, tâu rằng An

Nam mang binh đến xâm nhiễu, Trẫm xem tờ trình tâm không được yên. Nghĩ

rằng hai nước các ngươi từ xưa đến nay, cương vực đã định sẵn, đó là ý

trời không thể cậy mạnh mà làm càn. Huống đất đai các ngươi, cách Trung

Quốc hết núi đến biển, lời nói về sự xâm nhiễu nhất thời khó mà biết được

để trình bày rõ ràng cho Trẫm hay. Các ngươi được truyền đời nối đời đã

lâu, việc giữ đất an dân, trên phụng theo đạo trời, tôn kính Trung Quốc ;

những việc này Vương trước của các ngươi chắc đã để lại lời dạy bảo, không

đợi Trẫm dụ mới biết. Trẫm làm chủ thiên hạ, việc đáng làm là trị loạn dẹp

nguy ; nay sai sứ đi quan sát sự việc, hiểu dụ các ngươi phải sợ trời, thủ

phận. Nếu như cả hai dùng binh, năm này qua năm khác không ngừng, làm độc

hại sinh linh, thượng đế hiếu sinh sẽ không bằng lòng ; e rằng trên thì

trời ghét, dưới thì lòng dân oán hận, mối họa sẽ không tránh được. Vương

hai nước hãy nghe lời Trẫm, tuân theo đạo lý, yên phận mình, để con cháu

các ngươi được hưởng phúc lâu bền, há lại không tốt đẹp hơn ư ! Khi chiếu

thư tới, hai nước hãy tuân mệnh bãi binh.” (Minh Thực Lục v. 3, q. 47, t.

0934-0935)

 

Tuy vua Minh đã cho Sứ giả đến hòa giải, nhưng sự việc không dừng tại đó.

Vào tháng 3 năm Hồng Vũ thứ 4 (1371) Chiêm Thành đến cướp phá thành Thăng

Long, vua Nghệ Tông phải đi thuyền sang lánh nạn tại Đông Ngàn, Bắc Ninh.

Bấy giờ thái bình đã lâu, thành quách biên cương không phòng bị, giặc đến

không có quân nào ngăn được. Chúng đốt trụi cung điện ; nhà cửa thư tịch,

sổ sách do vậy sạch không. (8)

Vừa ăn cướp vừa la làng, 3 tháng sau biến cố này, vua Chiêm Thành Chế Bồng

Nga lại sai sứ sang Trung Quốc dâng biểu, văn bản được trân trọng viết

trên vàng lá, tố cáo An Nam xâm lấn ; xin được viện trợ cho vũ khí, nhạc

khí cùng dạy cho âm nhạc để An Nam không còn coi thường :

 

NGÀY 25 THÁNG 7 NĂM HỒNG VŨ THỨ 4 [ 5/9/1371 ]

“ Quốc vương Chiêm Thành Ha Đáp Ha Giả [Chế Bồng Nga] sai bầy tôi Đáp Ban

Qua Bốc Nông đến triều đình dâng biểu về việc An Nam xâm lấn đất. Biểu

viết trên vàng lá, dài hơn 1 xích (9), bề ngang 5 thốn (10), bằng chữ nước

này, dịch giả dịch văn bản, ý như sau : “ Hoàng đế Đại Minh lên ngôi cao

quý, chức vị coi sóc bốn biển, như trời đất che chở ; mặt trời, mặt trăng

soi sáng. Ha Đáp Ha Giả chỉ đáng là một cây cỏ mà thôi, được ơn Hoàng đế

ban cho ấn vàng, phong làm Quốc vương ; lòng trung thành hân hoan đội ơn

vạn bội. Duy việc An Nam dùng binh xâm nhiễu bờ cõi, giết bắt quan lại

nhân dân ; nguyện được Bệ hạ nghĩ đến ban cho binh khí, nhạc khí, chuyên

viên về âm nhạc ; khiến An Nam biết Chiêm Thành được trang bị thanh giáo,

là nước triều cống Trung Quốc, thì An Nam không dám khinh thường.”

Thiên tử cảm động bởi lòng mong muốn, nên khi Đáp Ban Qua Bốc Nông từ giã

bệ rồng bèn ra lệnh cho Trung Thư Tỉnh chuyển văn thư cho viên Quốc vương

như sau :

“ Lân quốc giao thiệp, đạo lý là phương sách hay để giữ đất, thờ nước lớn

tận lòng thành để làm trọn lễ của bề tôi. Vả lại Chiêm Thành và An Nam đã

là bề tôi thờ triều đình, cùng phụng thừa lịch Chính Sóc, lại gây việc

binh khiến độc hại sinh linh, đã trái lễ phụng sự bề trên, lại sai đường

giao hảo giữa lân bang. Đã báo cho Quốc vương An Nam bãi binh ngay, bản

quốc cũng nên để hai bên tôn trọng giữ gìn cương thổ. Việc xin Thiên tử

binh khí thì nào có tiếc gì, nhưng Chiêm Thành và An Nam đang tranh chấp,

mà triều đình lại cho riêng Chiêm Thành, là giúp ngươi đánh nhau, rất trái

với đạo chiêu an. Việc xin nhạc khí và chuyên viên âm nhạc, thì về thanh

luật Trung Quốc và nước ngoài không khác, nhưng về ngữ âm thì có sự sai

biệt giửa Hoa và Di, như vậy khó có thể điều khiển. Nếu nước ngươi có kẻ

tập nói được tiếng Hoa, có thể dạy cho âm luật ; hãy tuyển chọn một số

người đến kinh đô học tập. Lại dụ Hành tỉnh Phúc Kiến nếu thuyền bè Chiêm

Thành ghé bờ thì cho miễn thuế, để tỏ ý mềm dẻo quyến luyến.” (Minh Thực

Lục v. 3, q. 67, trang 1260-1261)

 

Quân đội Chiêm Thành kể từ thời Chế Bồng Nga, được cải cách rèn luyện nên

khá hùng hậu. TOÀN THƯ nhận xét như sau :

“ Chiêm Thành từ thời Lê, Lý tới đây, quân lính hèn nhát, hễ quân ta đến

là đem cả nhà chạy trốn hoặc họp nhau khóc lóc xin hàng. Đến đời Bồng Nga,

La Ngai mới tập hợp dân họ lại bảo ban dạy dỗ, thay đổi dần thói cũ, trở

nên can đảm, hăng hái, chịu được gian khổ, nên thường hay sang cướp, trở

thành tai họa của nước ta.” (11)

Không chỉ cướp phá Việt Nam mà thôi, hải quân của Chiêm Thành còn vươn ra

hoạt động tận biển Đông, bắt dùm bọn cướp biển cho Trung Quốc :

 

 

NGÀY 12 THÁNG 11 NĂM HỒNG VŨ THỨ 6 [26/11/1373]

“ Quốc vương Chiêm Thành Ha Đáp Ha Giả [Chế Bồng Nga] sai bọn bầy tôi

Dương Bảo Ma Ha, Bát Đích Duyệt Văn Đán dâng biểu, cống phương vật. Lại

tâu rằng bọn giặc bể Trương Nhữ Hậu, Lâm Phúc tự xưng là Nguyên soái cướp

phá trên biển, bị Quốc vương đánh bại. Bọn Nhữ Hậu bị chết trôi. Bắt được

20 chiếc thuyền biển, 7 vạn cân tô mộc, cùng tên giặc Ngô Đệ Tứ đem đến

hiến. Thiên tử vui lòng, mệnh ban cho Vương nước này 40 tấm lụa là, văn ỷ

; cho Sứ giả 2 tấm lụa là, 4 tấm văn ỷ, 1 bộ y phục, 1 vạn 2000 đồng tiền

; những người đi theo được ban thưởng có phân biệt.” (Minh Thực Lục v. 4,

q. 84, t. 1505)

 

Vết thương nhức nhối cho các triều đại nhà Minh là nạn cướp biển hoành

hành, cầm đầu bởi người Nhật mà sử Trung Quốc gọi là “ giặc Nụy ”. Liên hệ

đến văn học nước ta, ngay cuộc đời thực của anh hùng Từ Hải trong truyện

Kiều cũng đã từng tham gia “ giặc Nụy”. Giặc Nụy hoành hành tại biển Đông

và vùng duyên hải từ cuối đời Nguyên cho đến triều Minh, bởi vậy việc nước

Chiêm Thành trực tiếp tham gia vào việc đánh cướp biển, phải được vua Minh

Thái Tổ đặc biệt o bế :

 

 

NGÀY 4 THÁNG 8 NĂM HỒNG VŨ THỨ 7 [11/9/1374]

“ Thiên tử phán bảo quan Trung Thư Tỉnh rằng : “ Mùa thu năm ngoái Quốc

vương Chiêm Thành sai sứ là Dương Bảo Ma Ha, Bát Đích Duyệt Văn Đán đến

cống, chỉ ban cho lụa văn ỷ, lụa là đáp lại ; còn công bắt giặc thì chưa

thưởng. Nay gần ngày sứ trở về nước, có thể sai người mang đồ vật đem cho.

Liền sai Tuyên sứ Kim Cừ mang rượu Thượng Tôn, cùng 24 tấm lụa văn ỷ dệt

kim tuyến, lụa là, đến Quảng Đông giao cho sứ nước này là Dương Bảo Ma Ha,

Bát Đích Duyệt Văn Đán mang về để tặng Quốc vương.” ” (Minh Thực Lục v. 4,

t.1607-1608; Thái Tổ q. 92,t. 4a-4b)

 

Lúc này Quốc vương Chế Bồng Nga muốn Trung Quốc biết rõ hơn về sức mạnh

của Chiêm Thành, nên đã sai sứ sang tâu về việc đánh thắng Việt Nam :

 

 

NGÀY 12 THÁNG 11 NĂM HỒNG VŨ THỨ 6 [26/11/1373]

Nước Chiêm Thành sai sứ tâu : “ An Nam dùng binh xâm lăng, nước thần nhờ

uy linh của thiên triều, đánh bại chúng tại biên giới. Nay kính cẩn sai sứ

báo tin chiến thắng.” Thiên tử nói với các quan tại Trung Thư Tỉnh (12)

rằng : “ Các nước hải ngoại cách trở núi biển, mỗi nước lo tự phòng thủ

biên giới, lâu lâu mới đến triều đình. Năm ngoái An Nam dâng biểu tâu rằng

Chiêm Thành xâm phạm biên giới, năm nay Chiêm Thành lại tâu tiếp là An Nam

quấy nhiễu biên cương. Hai nước đều thờ triều đình, không xét được hai bên

ai đúng ai sai. Nay sai người đến dụ hai bên nên bãi binh để yên dân, không được xâm lấn lẫn nhau. Vẫn ban cho Quốc vương Chiêm Thành cùng Sứ giả văn ỷ, rồi sai trở về nước.” (Minh Thực Lục v. 4, q. 86, t. 1524-1525)

 

Tình trạng quân Chiêm Thành quấy phá tại Việt Nam khá trầm trọng và lâu

dài, đến nỗi bọn Sứ thần nhà Minh mượn đường nước ta đi sứ Miến Điện, phải kẹt lại đến 2 năm trời

 

NGUỒN SƯU TẦM TRÊN INTERNET - CÒN NỮA…