<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[Mưa, tình yêu và em]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn]]></link>
        <description><![CDATA[Đây là blog của một tác giả có một bản lĩnh phi thường, một trình độ siêu việt và một tâm hồn trong sáng!]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2010/01/25 14:33:56</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[thơ Tất niên]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=276]]></link>
            <description><![CDATA[Tất niên, tất tay
Gặp may, gặp rủi
Lúc buồn, lúc tủi
Luôn có vợ hiền
Đưa cho mình tiền
Rủng ra rủng rỉnh
&nbsp; 
Khi đi liên tỉnh
Khi về quê hương
Luôn nhận tình thương
Anh em cô chú
Khi thì chơi tú
Lúc lại tổ tôm
Sáng ăn khoai môn
Chiều về hảo hảo
&nbsp; 
Năm nay thầy bảo
Mày sao thái dương
Nếu ngủ gầm giường
Cũng luôn may mắn
Nếu không ăn “chắn”
Thì cũng ăn “lô”
Em cười hô hô
Chỉ xin con hổ
&nbsp; 
Đúng là trúng số
Vợ cười hô hố
Sư tử sinh hổ
Chuyện quá..bình thường
Trời rủ lòng thương
Nhà em đoàn xiếc
&nbsp; 
Năm nay không biết
Mình trúng sao chi?
Chắc chắn kiểu gì
Cũng sao quả tạ.
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2010/01/25 14:10:51</pubDate>
            <guid><![CDATA[thơ Tất niên:276]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Thời sự - dự báo thời tiết]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=263]]></link>
            <description><![CDATA[Đêm qua tôi có một giấc mơ kỳ lạ. Tôi đứng cạnh một chiếc rađa quân sự, bỗng một chiếc máy bay chiến đấu bay qua và một quả tên lửa bắn lên. Máy bay nổ ngay phía trước mặt, tiếp theo là hàng loạt máy bay khác rơi tiếp, rơi tiếp trước và sau lưng tôi. Chiếc rađa vẫn chưa hề hấn gì. Tôi tỉnh lại và nhớ ra ngày hôm trước nói chuyện việc nước ở quán nước về&nbsp;VN và TQ, có lẽ những chiếc máy bay rơi kia là của TQ chứ ko phải của Mỹ. Năm nay 2010, 1000 năm Thăng long, 60 năm quan hệ với TQ mà nhiều chuyện rối bời. Không phải ngẫu nhiên mà tôi có giấc mơ kỳ lạ bởi theo cái sắc sắc không không thì có thể rất căng thẳng nhưng cũng có thể chẳng có gì diễn ra. Cũng như sự nóng lên của trái đất chẳng liên quan gì đến mình vậy, tôi tự nhủ giá như trái đất này chẳng có một mâu thuẫn, tranh chấp gì thì cuộc sống tốt đẹp biết bao. Không biết ngoài quán nước có bao nhiêu cuộc nói chuyện về tình hình quan hệ VN TQ, về biên giới đất liền và trên biển. Đất nước ta nhân nhượng rất nhiều, dĩ hòa vi quý một phần cũng do ta còn nghèo, kinh tế và quân sự còn yếu.
&nbsp;Một ông bạn tôi có nhận xét thời phong kiến nếu quốc gia nào quân sự mạnh sẽ xâm chiếm các nước khác, chẳng có nước nào sống hiền lành với nước khác đâu. Hôm nay xem top 10 nước hạnh phúc nhất thế giới thì có Costa rica một đất nước bãi bỏ quân đội. 
Trong câu chuyện vỉa hè có một nhận xét về sự khác nhau giữa VN và TQ đó là người TQ hợp tác với nhau trong kinh doanh rất tốt còn trong chiến tranh lại rất kém, VN thì ngược lại, trong chiến đấu rất ngoan cường nhưng trong thời bình thì chẳng ai chịu hợp tác làm ăn với ai cả. Bác Hồ thì có câu &quot;Không có gì quý hơn độc lập tự do&quot; còn Đặng Tiểu Bình thì có câu &quot;Nếu kinh tế chúng ta mạnh chúng ta không sợ bất kỳ một quốc gia nào&quot;. Thôi thì đó cũng là những sách lược của các chính trị gia mình quan tâm mà làm gì, chỉ biết ngồi nghiền ngẫm và ăn cơm rau nói chuyện chính trị vậy. 2010 nhìn lại thấy đất nước nhiều điều suy nghĩ, nếu có một ngày nào đó chiến sự xảy ra tôi sẽ là một trong những người đầu tiên ghi danh xung trận nếu tổ quốc cần, tôi tin rằng truyền thống cha ông ta đánh giặc giữ nước sẽ được tiếp nối đến muôn đời sau. 
VN - TQ ai học hỏi ai, ai hơn ai, ai đúng ai sai, ai thắng ai thua vẫn đang râm ran quanh những cốc cafe, cốc trà đá và tôi tin rằng đêm qua tôi mơ thấy những chiếc máy bay rơi quanh chiếc rađa phòng không chắc chắn không phải là máy bay Mỹ.
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2010/01/09 18:10:30</pubDate>
            <guid><![CDATA[Thời sự - dự báo thời tiết:263]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Lần đầu tiên có ảnh trên mặt báo là vui rồi]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=259]]></link>
            <description><![CDATA[Hội thi tay nghề toàn quốc của Tập đòan dầu khí, tuy không giật được giải nhưng vẫn vui.
]]></description>
            <pubDate>2009/12/31 11:50:27</pubDate>
            <guid><![CDATA[Lần đầu tiên có ảnh trên mặt báo là vui rồi:259]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Cầu Long Biên]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=229]]></link>
            <description><![CDATA[Mấy hôm nay thấy rộ lên chuyện phá cầu Long Biên nên dẫn ông chú Tây đến chụp ngay kẻo về sau cầu không gặp lại chú mà trù không được lại cấu.


Đợt rồi còn tổ chức chợ Viềng ở HN tại cây cầu này, vậy mà...

&nbsp;
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/11/21 21:34:36</pubDate>
            <guid><![CDATA[Cầu Long Biên:229]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Hồ Gươm 999 năm!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=187]]></link>
            <description><![CDATA[]]></description>
            <pubDate>2009/10/11 01:00:58</pubDate>
            <guid><![CDATA[Hồ Gươm 999 năm!:187]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[My Sugar I Go!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=176]]></link>
            <description><![CDATA[Bước đi trong cánh rừng khuya
Ngó&nbsp;qua ngó lại chẳng ai theo mình
Leo lên ngọn núi thần linh
Ngó trên ngó&nbsp;dưới thấy mình trơ vơ
Giật mình, thức giấc, làm thơ
Thăm dò dư luận, thờ ơ là nhiều
Ôm phản vượt sóng thủy triều
Động cơ không có biết liều với ai
Cầm cờ hướng đến tương lai
Đến khi quay lại....
............................&nbsp;chẳng ai theo kịp mình!
&nbsp;
&nbsp;
&nbsp;
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/09/10 13:42:45</pubDate>
            <guid><![CDATA[My Sugar I Go!:176]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Những khoảnh khắc độc nhất vô nhị của nhiếp ảnh]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=173]]></link>
            <description><![CDATA[Theo vnexpress.net
Các tay máy sẵn sàng cải trang để đánh lừa các con vật,
ngâm mình trong nước hoặc nằm, ngồi, đứng, trèo... ở các tư thế ngộ
nghĩnh và kỳ cục.




Người chụp thấp, kẻ hướng lên cao.



&quot;Yên tâm, tớ không phải là con người đâu&quot;.



&quot;Đứng yên tớ chụp đã nào&quot;.









Niềm đam mê không đợi tuổi.





Bất cứ thứ gì cũng trở thành nghệ thuật.



Ối...



Nhảy sang bên này chụp đẹp hơn!



Xưa thế kia...



Còn nay thế này.



Dáng đẹp.







Xá gì hiểm nguy...



... hay mưa gió.





&quot;Chụp cái gì mà chụp!&quot;







Săm soi từng góc nhỏ.



Ai cũng có thể làm thợ ảnh.


























]]></description>
            <pubDate>2009/09/09 15:06:56</pubDate>
            <guid><![CDATA[Những khoảnh khắc độc nhất vô nhị của nhiếp ảnh:173]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Miu ơi, nhắm mắt lại ngủ nào!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=171]]></link>
            <description><![CDATA[Nó chết rồi mèo của vợ tôi
Con mèo sống được 4 năm rồi
Hôm qua nó vẫn còn khỏe mạnh
Chỉ một ngày thôi nó đã toi
 &nbsp; 
Nó chết rồi mèo của vợ tôi
Tôi đã nguyện nuôi nó lên người
Giờ đây khi đã qua biên giới
Tôi nghĩ kiếp sau nó thành người
 &nbsp; 
Nó chết rồi con mèo của tôi
Vì tôi đã thương nó mất rồi
Hồi xưa nó vẫn hay cào cắn
Vừa mới hiền ngoan đã đi đời
 &nbsp; 
Nó chết rồi con mèo của tôi ơi
Bao nhiều tình cảm của hai người
Dành cho nó hết giờ nó chết
Hụt hẫng làm sao lấp đầy đây]]></description>
            <pubDate>2009/09/08 23:39:54</pubDate>
            <guid><![CDATA[Miu ơi, nhắm mắt lại ngủ nào!:171]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Việt Trì ơi!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=161]]></link>
            <description><![CDATA[Việt Trì ơi!
Đã 4 tháng nay tôi chẳng gặp Người
Nhớ hàng cây, vườn hoa, sân vận động
Nhớ những ngày phi xe máy phăm phăm
Cũng từng ấy ngày tôi ở đấy...măm măm
&nbsp;
Việt trì ạ, thời gian trôi nhanh quá
Bỗng hôm nay nhớ Người đến lạ
Nhớ quán cafe, trà đá, hàng cơm
Ngồi cầm bát&nbsp;không phải vợ đơm
Gọi cho vợ hỏi han dăm ba chuyện
Để thời gian trôi, tôi lại gặp vợ tôi
&nbsp;
Việt trì, hẹn một ngày nào đó ta quay lại thăm Người
Dốc Thọ Sơn, Thanh Miện gặp ai quen
Những con người trụ lại, vươn lên
Để đọng lại trong lòng ta niềm cảm mến
Xa nhau rồi...
....................&nbsp;nhớ như nhớ quê hương
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/08/31 22:27:07</pubDate>
            <guid><![CDATA[Việt Trì ơi!:161]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP - TỔNG QUÁT]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/dunghahn/article?mid=156]]></link>
            <description><![CDATA[1. Giới thiệu tổng quát
Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần,
Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi
trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc (hay Trung Hoa, tắt là TH) vì là
những từ Hán Việt (HV). Khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những
khác lạ hay có một khuynh hướng tổng quát chung nào đó thì những dạng
này cần được so sánh với những từ khác với nguồn gốc không phải là
Việt, Thí dụ như trong các từ liên hệ đến xe hơi chẳng hạn, ta thấy các
dạng như pan (xe bị pan), phanh (thắng), láp, két nước (tử két), đèn
pha, máy bơm xăng, ống bơm, xăng, hòn (viên) bi, bị giơ (lỏng), cái
van, dây cáp (điện), dây xên, con vít, sạc điện …v…v... không kể các từ
đa âm khác như bugi, táp-lô, rô-đa, mỏ-lét, rờ-le, bù-loong … So với
tiếng Pháp và tiếng Anh hiện nay (không khác gì nhiều trong vòng trăm
năm nay)



 Việt  Pháp  Anh 
 Pan panne (bị hư)  out of order 
 Pha  phare (đèn trước)  headlight 
 Bi  bille (viên đạn)  ball 
 Giơ  jeu (lỏng)  loose, worn out 
 Sạc  charge (nạp điện)  charge 
 Van  valve  valve 
 Vít  vis  screw 
 Két  caisse (tủ, bình chứa)  tank 
 Cáp  cable (dây điện)  cable 
 Xăng  essence  gas, petrol 
 Bơm  pompe  pump 


…v…v…&nbsp;[1]

Rõ ràng là các từ trên tương ứng với tiếng Pháp rất
chặt chẽ so với tiếng Anh, hay một ngoại ngữ nào khác - người viết dùng
tiếng Anh và Pháp để so sánh vì lịch sử cận đại cho thấy nhiều liên
quan giữa nước Pháp, nước Mỹ với VN. Ngoài ra, kỹ thuật chế tạo, lắp
ráp và bảo trì xe hơi (ô tô) là từ các nước Âu Châu trên. Nếu mở rộng
đề tài ra thì ta có các tiếng Pháp khác nhập vào tiếng Việt như bót/bốt
(đồn cảnh sát), ông cẩm (commissaire), nhà ga (trạm xe lửa), lô, ký
(kilogramme), xạc (sacrer, bị mắng), cuốc (xe cuốc, course, xe đua),
cúp (coupe), cà-lem, kem (crème) ..v..v.. Phần lớn các từ mượn từ tiếng
Pháp có phạm trù giới hạn và thường là thuật ngữ. Cách viết văn (cú
pháp) và thành lập chữ của bị ảnh hưởng phần nào qua giao lưu văn hoá
với Pháp : như cách dùng bàn giấy, giết thời gian … Trong các bài sau,
người viết sẽ chú trọng đến sự so sánh các từ, các biến âm và phạm trù
ngữ nghĩa của chúng. Giao lưu văn hoá với Pháp xẩy ra chỉ gần đây (hai
trăm năm trở lại và càng ngày càng ít đi từ thời kỳ thuộc địa), thành
ra các dạng biến âm rất dễ tra ra, cũng như từ phạm trù nghĩa giới hạn
của chúng.

Trở lại với tên 12 con giáp, thời kỳ giao lưu văn hoá
với TH đã xẩy ra rất lâu (ít nhất đã hơn hai ngàn năm, so với hai trăm
năm) và từng đợt chất chồng lên nhau, thêm vào đó là các tài liệu rất
mơ hồ và thường hàm ý là tên 12 con giáp là của TH (một tiền đề không
ai dám tranh cãi hay tìm ra ngọn ngành một cách rõ ràng và khoa học).
Các tài liệu lại thường viết bằng chữ Hán, thêm và tiền đề (hầu như là
một ‘công lý’ không ai chối cãi đuợc ?) về nguồn gốc TH hợp với cách
viết chủ quan và đầy tự ái dân tộc của một số tác giả TH càng làm vấn
đề trở nên phức tạp hơn nữa. Nhìn lại bảng so sánh một số tiếng Việt
trong lãnh vực kỹ thuật (xe hơi) như trên, dù ai có tự ái dân tộc lớn
đến đâu cũng không thể chối cãi quá trình mượn từ tiếng Pháp vào tiếng
Việt, thêm vào đó là các tài liệu sách vở trong vòng hai thế kỷ qua dễ
cho chúng ta kiểm lại kết luận này. Thực ra, sự vay mượn qua lại là một
hiện tượng rất tự nhiên của ngôn ngữ loài người, chính sự thuần nhất
(pure) ngôn ngữ mới là hiếm có hay là ngoại lệ ! Cũng như hiện tượng
thuần chủng (pure race) vậy – cũng chính cách nhìn hạn hẹp từ sự thuần
chủng mà đã xẩy ra bao nhiêu tai hoạ như Đức Quốc Xã với giống Aryen,
chính sách White Policy hay nước Úc cho ‘người da trắng’ chẳng hạn ….–
và cũng chính thái độ ù lỳ không chấp nhận ‘mình vay của người’ mà
nhiều sai lầm đã xẩy ra, ngay cả cho một số công trình nghiên cứu trong
quá khứ. Tiếng Nhật và tiếng Đại Hàn có nhiều từ gốc Hán, tiếng
Anh/Pháp cũng đầy các từ gốc La-Tinh, Hi-Lạp … chẳng nước nào có ‘mặc
cảm chữ nghĩa’ đâu ? Với các cảnh giác trên thì ai là chủ nhân của tên
12 con giáp ?

2. Vài nhận xét sơ khởi về tên 12 con giáp
2.1 Tên 12 con giáp đọc như tiếng HV,
theo giọng Bắc Kinh (BK) và bằng cách ghi theo Phiên Âm (pinyin) là zĭ,
chŏu, yín, măo, chén, sì, wǔ, wèi, shēn, yŏu, xū, hài hoàn toàn không
liên hệ đến cách gọi (tên) 12 con thú trong tiếng TH hiện nay – ngay cả
giọng Quảng Đông (QĐ) ..v..v.. Khi phục hồi âm TH thời Thượng Cổ
(Archaic Chinese) thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật
thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương
tự như tên 12 con giáp thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khắn khít với
nguồn gốc tên 12 con giáp này. Cũng như khi so sánh các từ về xe hơi
phần trên, ta có thể đi dến kết luận là tiếng Pháp đã cho tiếng Việt
mượn trong thời kỳ giao lưu văn hoá cận đại1. Nhưng người viết không đi
sâu thêm nữa để tìm hiểu các danh từ tiếng Pháp trên có nguồn gốc ở
đâu. Xin nhắc lại ở đây là các bài này viết về nguồn gốc tên 12 con
giáp, còn nguồn gốc 12 con giáp ở đâu ra không nằm trong phạm vi các
phần sau.

2.2 Tại sao TH dùng con thỏ thay cho con mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) ?
Xem cách viết chữ miêu (con mèo, giọng BK là māo) bằng bộ trỉ hợp với
miêu (mầm mống, hài thanh) so với thỏ là chữ tượng hình – hay thố HV,
giọng BK là tù viết bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của thỏ đối với
văn hoá TH. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão : nguyên
âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa,
khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo…. Nhờ sự khác biệt này mà
ta bắt đầu thấy mối dây liên hệ của tiếng Việt với 12 con giáp. Mèo
hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn. Còn chi Ngọ liên hệ
đến ngựa hầu như không cần giải thích nhiều, so với mã HV (mă BK, giọng
BK hiện nay không còn âm ng- nữa mà đã bị môi hoá thành w- và m-). Các
dạng Mão/Mẹo/mèo và Ngọ/ngựa dễ cho ta nhận ra sự liên hệ giữa tên 12
con giáp với tiếng Việt hiện nay. Thời tiền Hán, tiếng Việt ta không có
nhiều thanh điệu (tone) như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu
không có gì lạ. Như trong khẩu ngữ ta ta có cách dùng “chờ một tý” cũng
như “chờ một chút”, “đưa chút tiền” cũng như “đưa tý tiền” … vào thời
tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế hay người Hòn bây giờ (ít
thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì ta thấy ngay chút hay
*chụt/chuột chính là các dạng của tý vậy. Biến âm t-ch (phụ âm đầu) của
tý/tử HV -chuột còn thấy qua các liên hệ như ty/tư HV là chủ, tỷ-chia,
tứ-cho, từ-chữ, tự-chùa, tỷ-chị, tựu-chầu (tụ lại), tốt-chết, từ-chợ,
thị-chợ, thố-chua, thù-chuốc, thục-chuộc, thúc-chú….Thành ra, ta có sơ
khởi là ba chi Mão/Mẹo, Ngọ và Tý có liên hệ với mèo, ngựa và chuột
trong tiếng Việt hiện đại. Các phần sau sẽ phân tách chi tiết hơn về sự
tương quan giữa tên các chi và các tên thú vật trong tiếng Việt.

2.3 Nếu quả thật tên 12 con giáp TH bắt nguồn từ tiếng Việt (Cổ),
thì kết quả này còn phù hợp với các kết quả trước đây như triết gia Kim
Định đã cố gắng chứng minh văn hoá TH xuất phát từ văn hoá Việt (SàiGòn
vào thập niên 1970, như cuốn “Việt Lý Tố Nguyên”), tác giả Nguyễn Hoài
Nhân (bên Pháp vào thập niên 1980, như trong các bộ “VietNam en image”
ghi nhận các bằng chứng về khảo cổ và ngôn ngữ để đi đến kết luận :
người Việt Cổ là người cho, người TH là người nhận), tác giả Lê Mạnh
Thát qua cuốn “Lịch Sử Âm Nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời
kỳ Lý Nam Đế” đưa ra các dữ kiện chứng tỏ rằng Việt Ca (Lưu Hướng ghi
lại trong Thuyết Uyển) có nguồn gốc Việt Nam (VN), tác giả Nguyễn Thiếu
Dũng cũng bắt đầu đặt lại vấn đề nguồn gốc Kinh Dịch (từ tộc Việt)
trong những năm gần đây … Cho thấy chiều vay mượn là từ phương Nam vào
thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước
chung quanh) vào các đời Hán, Đường lúc văn hoá TH cực thịnh,. Tuy
nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít
dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán Cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.

Để thấy rõ hơn các liên hệ của tên thú vật và tàn tích
trong tiếng Hán Cổ, chúng ta hãy xem một số từ chỉ con vật thông thường
như cóc, voi … và cấu trúc của tiếng Hán cho thấy tàn tích của tiếng
Việt mà đã từ từ mất đi trong ngôn ngữ TH hiện nay. Hi vọng từ đó khi
tập trung nhìn vào các tương quan của tên 12 con giáp thì các liên hệ
sẽ được rõ ràng hơn, nhất là qua sự so sánh các ngôn ngữ láng giềng với
tiếng TH, HV, tiếng Việt.

2.4 Muốn tìm hiểu ngọn ngành trên phương diện so sánh các ngôn ngữ,
ngày nay ta không đến nỗi phải đi tới những nơi xa xôi (du học) nữa,
nhất là về đề tài 12 con giáp. Các tài liệu thông tin, mạng Internet,
sách vở được ấn hành nhiều hơn và cởi mở hơn. Thêm vào đó là chính phủ
địa phương có vẻ như càng ngày càng mở mang và thành thật hơn, không
độc đoán và che dấu hay ‘bóp méo’ các dữ kiện khảo cổ, ngôn ngữ như
xưa. Cách đây hơn 50 năm, Phan Khôi - một nhà nghiên cứu văn hoá VN rất
nhiệt thành – đã phải lên tiếng “… người VN chúng ta về
sau phải sang TH ở lâu mà nghiên cứu, may ra tìm được các dấu vết tương
quan của dân tộc ta với dân tộc TH từ đời thượng cổ…” (trang 34,
“Việt Ngữ nghiên cứu” Phan Khôi, bài viết năm 1954, in lại – NXB Đà
Nẵng, 1997). Đương nhiên là các kết quả của so sánh ngôn ngữ phải phù
hợp với những kết quả từ ngành khảo cổ, lịch sử và di truyền (DNA)… để
tăng mức độ chính xác.

3. Tiếng Việt và tiếng Hán Cổ (hay tiếng Hán và tiếng Việt Cổ)
3.1 Cóc là loài vật lưỡng cư
(amphibian): vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước, hiện diện trong các ngôn
ngữ Đông Nam Á như ku-óc, cóc (tiếng Mường), ka kọc (Nùng), róc (Lào :
lụt róc, kăn kắk, khăn khắk : cóc), khàng khók (Thái), king kuok
(Khme), a-rok (Chàm), kok, kokke, khog (Mundari, Birhor, Hor…ngữ hệ
Munda), cơưk (Hmong) ..v..v.. Trong vốn từ TH hiên nay, còn một chữ rất
hiếm là cúc HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ cúc hài thanh (HT, cúc
nghĩa là nắm, túm) - giọng BK bây giờ là jú, qú. Để chỉ con cóc, tiếng
TH có các từ thiềm HV (chán, zhān BK) viết bằng bộ trùng (cũng có nghĩa
là bóng đen trên mặt trăng, tiếng ghép HV thiềm thừ là con cóc); thừ HV
(shú, chú, yú BK) viết bằng bộ trùng hợp với chữ dư HT; ma HV (má, mò
BK viết bằng bộ trùng, còn là một loại ếch); Ba/pha/bì HV (bŏ, pí BK
viết bằng bộ trùng hợp với chữ bì HT - từ này ít dùng với tần số dùng
là 10 trên 365398752 cho thấy một cách phân biệt cóc và nhái qua lớp da
sần)… Trái cóc có vỏ như da cóc … Theo người viết thì cóc&nbsp;[2]
có thể là một từ tượng thanh (con cóc có tiếng kêu đặc biệt ‘cọc… cọc”)
với âm yết hầu k-, và do đó một số ngôn ngữ khác không liên hệ gì đến
tiếng Việt hay Nam Á như ngôn ngữ của Easter Island ở Nam Thái Bình
Dương cũng gọi cóc là kok, tiếng Inđônesia là kodok, katak, tiếng Kơho
là kit trô …

3.2 Voi là một từ đáng chú ý
: có nhiều cách viết chữ Nôm, như bộ khuyển hợp với chữ vi HV (hài
thanh, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị/ĐNQATV), bộ khuyển hợp với chữ bôi (cái
chén, HT cho thấy liên hệ b-v), bộ khuyển hợp vớI chữ bút … Các chữ voi
này rất xa lạ với người TH, . Tiếng TH hiện nay có tượng HV, giọng BK
bây giờ là xiàng, giọng QĐ jeung6 liên hệ đến giống tiếng Việt, viết
bằng bộ nhân hợp với chữ tượng HT. Chữ tượng có cách viết cổ giống như
hình con voi nhưng lại dựng đứng lên để theo chiều từ trên xuống dưới
và để tiết kiệm diện tích viết chữ. Tượng còn dùng để chỉ bức tượng
trong tiếng Việt so với tiếng TH bây giờ phải dùng các từ ghép như
diāoxiàng BK (điêu tượng, tượng được khắc), sùxiàng (tố tượng, tượng
được nặn hay đắp thành). Ông hay bà quản tượng là người coi (kiểm soát)
voi hay là mahout, là tiếng Ấn Độ/Hindi mahaut gốc tiếng Phạn là
mahamatrah. Con tượng còn là con voi trong bàn cờ tướng. Một điểm đáng
chú ý là chỉ có voi là loài vật khác trong các loại lợn được viết bằng
bộ thỉ (con lợn) thứ 152. Dự là từ HV đã từng có nghĩa là con voi - chữ
này viết bằng bộ thỉ, thật ra là chữ dư hợp với chữ tượng - hiện thời
có các nghĩa như vui vẻ (nghĩa bây giờ hơi khác hơn và thiên về an
nhàn), thoải mái, du ngoạn (hàm ý vui vẻ), do dự, dự bị, một trong chín
châu (Cửu Châu) của TH thời xưa (bao gồm tỉnh Hà nam, do đó Dự cũng là
tên cổ của Hà Nam&nbsp;[3]), gạt gẫm … và rất ít tự điển ghi nhận nghĩa cổ của dự là voi&nbsp;[4].
Theo người viết, vui là âm cổ cũng như một dạng khác là voi. Liên hệ
u-o (vui-voi) còn thấy trong các cách dùng tương đương như tùng-tòng
(thông), chùm-chòm, vũ-võ, trụi-trọi, dung-dong, phù-phò, hụi-hội,
tui-tôi, thúi-thối … do đó ta có cơ sở giải thích liên hệ dự-vui-voi.
Voi từ chữ dự (có chữ tượng) hợp lý hơn là từ chữ vi (bộ trảo) theo
Vương Lực (xem phụ chú 4). Các dữ kiện hỗ trợ cho liên hệ dự-vui còn
thấy qua các chữ HV như du (yú BK, viết bằng bộ sước) có nghĩa là đi
chơi, vui vẻ; du HV (yú BK viết bằng bộ tâm) có nghĩa là yên vui … Các
cách viết khác nhau để ghi lại âm ‘vui’ cho thấy lý luận dự-vui thêm
phần chính xác (nhớ rằng chữ viết có sau tiếng nói).

3.3 Vụ HV viết bằng bộ điểu,
giọng BK bây giờ là wù, mù, giọng QĐ mou6, muk6, Hẹ mu6, vu6 … nghĩa là
một loài vịt. Chữ này không thông dụng trong vốn từ TH hiện đại với tần
số dùng là 105 trên 368707021 so với các chữ khác như áp HV (yā BK),
nga HV (é BK, ngo4 QĐ – ngan, ngỗng là các dạng cổ), nhạn HV (yàn BK,
ngaan6 QĐ) … Theo Thuyết Văn (TV), chữ ngan đồng nghĩa với nhạn. Biến
âm u-i của vụ-vịt không thường gặp nhưng còn tàn tích trong các cách
dùng bút-viết, thụ-chịu, nhu-diệu, đinh-chuồn … Để ý phụ âm tắt –t ở
sau nguyên âm thường mất đi trong giọng BK (phương Bắc) nhưng vẫn còn
duy trì trong tiếng Việt, giọng QĐ, Hẹ …

3.4 Đinh viết bằng bộ trùng với chữ đinh HT,
giọng BK bây giờ là dīng, chēng, chéng, ding1, cing1 QĐ, Hẹ den1 …có
nghĩa là con chuồn chuồn. Chữ này rất ít dùng với tần số dùng là 14
trên 430747376. So với các chữ khác thường gặp trong vốn từ TH hiện nay
như tinh HV (dīng, tīng BK), đình HV hay tinh đình, linh HV (líng BK
viết bằng bộ trùng hợp với chữ linh/lệnh HT, để ý linh HV viết bằng bộ
kim hợp với chữ linh/lệnh là chuông)… Nếu ta để ý biến âm đ-tl/tr-ch
(xem bài viết riêng về biến âm này cùng tác giả) như độn-trốn-chuồn,
đồn/đốn-truân-chiên, đồn-trôn, điền-trần, đục-trọc, đoàn-tròn,
động-trọng-chuộng, đồng-tròng (con ngươi), đản-trần …v..v.. thì có thể
giải thích được liên hệ đinh-*chuôn (biến âm i-u nói ở phần 3.3), hay
dạng chuồn (thanh huyền có thể do ảnh hưởng của phụ âm mũi –n). Tiếng
Mường cũng có dạng chuồn chuồn, tiếng Zhuang là chi-chuồn.

Như vậy thì tiếng Việt vẫn còn tàn tích trong tiếng TH, tuy nhiên các cách dùng từ ‘phương Nam’ từ từ mất dần đi&nbsp;[5],
có thể là do các tiếng phương Bắc thay vào (giai cấp thống trị), hoặc
không hợp với hệ thống âm điệu của Hán tộc hay sự cố tình bôi xoá ?

Tóm tắt bài này là trong tiếng TH có những từ Việt (Cổ)
nhưng rất ít dùng, tuy nhiên trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc
biệt : được dùng trong việc ghi lại thời gian, không gian, bói toán,
cúng kiến … rất phổ thông trong văn hoá và tín ngưỡng dân gian, chúng
gắn liền với lịch sử tư tưởng của TH và VN, đóng một vai trò quan trọng
trong văn hoá dân tộc. Do đó, chúng là những từ hoá thạch (fossilised)
gắn bó với câu ca dao

 ‘Trăm năm bia đá thì mòn /
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ’ 

 Nguyễn Cung Thông  
						&nbsp; 
						
						[1]
Bảng so sánh trên cho thấy liên hệ giữa tiếng Pháp và Anh như sạc tiếng
Pháp và tiếng Anh giống y như nhau, gốc tiếng Pháp Cổ (Old French) là
chargier (chất đồ lên, tải), liên hệ đến tiếng La Tinh carrus (chiếc
xe) do đó ta có các dạng tiếng Anh như car/xe, carry/chở, chariot/xe …
và nếu truy tầm thêm nguồn gốc các chữ trên thì sẽ thấy nhiều tương
quan của nhóm (dòng, ngữ hệ) La Mã, họ Ấn-Âu (Indo-European) phản ánh
qua lịch sử và quá trình phát triển văn hoá của Hi Lạp, Ý, Pháp v..v..
Điều này ra ngoài mục đích của bảng so sánh cốt là cho thấy các tiếng
mượn từ tiếng Pháp mà thôi.

[2]
Tác giả Lê Gia trong “Tiếng Nói Nôm Na” (NXB Văn Nghệ Thành Phố HCM,
1999) thì giải thích cóc là từ hốc, cốc mà ra “loài vật dơ dáy, bẩn
thỉu, tối ngày ngồi trong hang trong hốc” (trang 1451).

[3] Tỉnh Hà Nam vẫn còn một số hoạt động như cỡi voi cho du khách.

[4]
Theo tác giả Nguyễn Văn Tu trong “Từ và vốn từ - tiếng Việt hiện đại”
(NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội 1976) thì voi có nguồn
gốc là chữ vi “…theo sự nghiên cứu của ngành Cổ Văn Tự, vi là chữ
tượng. Theo tiếng Việt thiên đọc là vi còn tượng đọc là voi…” (trang
266) - trích dẫn từ kết luận của nhà ngữ học TH Vương Lực trong các
cuốn “Hán Việt Ngữ nghiên cứu” và “Hán ngữ sử luận văn tập” (khoảng
1958). Sau gần 3 thập niên, tác giả Lê Đình Khẩn cũng lặp lại điều này
trong cuốn “Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt” (NXB Đại Học Quốc Gia
Thành Phố HCM, 2002), tuy nhiên tác giả có bàn thêm là thời thượng cổ
“…không chắc là âm đọc theo chữ nào trong hai chữ đồng nghĩa ấy …”
(trang 59). Khi tra cách viết và khắc của chữ vi (Cổ Văn) ta thấy hình
hai con khỉ trên hình con voi tuy hình vẽ không rõ ràng lắm, theo ‘Tại
Tuyến Hán Điển’ trên mạng Internet, và ‘Chinese Characters’ của L.
Wieger - cả hai tài liệu này đều ghi vi là ‘khỉ cái’. Để ý cách đọc vi
HV là wèi BK, Hẹ wui3, wuị, wi3, wi5 … Còn theo Từ Nguyên thì nghĩa cổ
nhất của dự là “tượng chi đại giả - kiến Thuyết Văn” . Voi giữ một địa
vị đặc biệt trong lịch sử VN : nào là chuyện bà Triệu cỡi voi chống
ngoại xâm, nào là những khi được triều cống cho TH, nào là các hình
phạt cho voi xé xác, voi giày … và hiện diện trong ca dao thành ngữ như
“khoẻ như voi”, “muỗi đốt chân voi”, “chỉ buộc chân voi”, “được voi đòi
tiên”, “trăm voi không được bát nước xáo”, ”có con gái lớn trong nhà
như cỡi đầu voi dữ”, “trời sinh voi trời sinh cỏ”…v…v.. Hiếm lắm ta mới
thấy vài thành ngữ có voi trong văn hoá TH như “tượng trợ ngọc bôi”
(đũa bằng ngà voi và chén bằng ngọc, chỉ cuộc sống giàu sang) hay
“tượng xỉ phần thân” (voi chết chỉ vì muốn lấy ngà, của cải đem đến
nguy hiểm).

[5]
Khuynh hướng mất dần các vết tích của ngôn ngữ phương Nam (thời Bách
Việt về sau) đồng thời với khuynh hướng bành trướng của lãnh thổ TH và
các đợt di dân cùng pha trộn với dân bản địa trên lưu vực sông Hồng.
Các vết tích của tiếng Việt như voi, vịt, cóc, chuồn chuồn …trong tiếng
TH chứng tỏ phần nào nhận định tổng quát này.]]></description>
            <pubDate>2009/08/13 10:13:56</pubDate>
            <guid><![CDATA[NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP - TỔNG QUÁT:156]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- w4.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Thu Feb 11 00:17:52 SGT 2010 -->
