Bài mới nhất

Sửa Đóng

5.    Những đặc trưng cơ bản của CNXH  và CNXH Việt Nam ?

Những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa
Vừa dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa dựa trên thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và tổng kết lý luận, chúng ta có thể nêu ra những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa sau đây:
1. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (hay xã hội xã hội chủ nghĩa) là nền sản xuất công nghiệp hiện đại.
Cả mặt thực tế, cả lôgíc - lý luận khoa học đều chứng minh rằng, xã hội xã hội chủ nghĩa là sự kế tiếp sau xã hội tư bản chủ nghĩa, có nhiệm vụ giải quyết những mâu thuẫn mà chủ nghĩa tư bản đã không thể giải quyết triệt để. Đặc biệt là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu xã hội hoá ngày càng tăng của lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại hơn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Do đó, lực lượng sản xuất của xã hội xã hội chủ nghĩa, khi nó hoàn thiện, phải cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, các nước tư bản phát triển đã có lực lượng sản xuất cao (như G7...) thì lên xã hội xã hội chủ nghĩa giai cấp vô sản ở đó chủ yếu chỉ phải trải qua một cuộc cách mạng chính trị thành công. Khi đó chính trình độ lực lượng sản xuất đã phát triển cao là một cơ sở rất thuận lợi cho việc tiếp tục xây dựng thắng lợi, hoàn thiện chủ nghĩa xã hội - cả quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất cao hơn chủ nghĩa tư bản.
ở những nước xã hội chủ nghĩa "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa" (như Việt Nam và các nước khác) thì đương nhiên phải có quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng từng bước cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại của chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, Trung Quốc, Việt Nam, Cuba... đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ khá cao, đạt được nhiều thành tựu to lớn và ngày càng vững chắc.
2. Xã hội xã hội chủ nghĩa đã xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội không xoá bỏ chế độ tư hữu nói chung mà chủ yếu xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất (còn các chế độ tư hữu khác: chế độ tư hữu chủ nô, phong kiến, xét trên toàn cầu thì đã bị chủ nghĩa tư bản xoá bỏ trước đó rồi). Bởi vì chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã nô dịch, áp bức bóc lột giá trị thặng dư đối với đại đa số nhân dân lao động, đem lại lợi nhuận ngày càng cao cho thiểu số các tập đoàn tư bản lũng đoạn và giai cấp
84
thống trị xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu xã hội còn đan xen nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội; cơ sở kinh tế quá độ còn nhiều thành phần vận hành theo cơ chế sản xuất hàng hoá, quan hệ thị trường, vẫn tồn tại những quan hệ kinh tế cụ thể như thuê mướn lao động... cá nhân người này vẫn có thể còn bóc lột những cá nhân khác. Đó chỉ là những quan hệ bóc lột cụ thể chứ không phải xem xét trên cả một chế độ xã hội, giai cấp này bóc lột các giai cấp, tầng lớp khác. V.I. Lênin và Đảng Cộng sản Nga, sau một thời gian áp dụng "Chính sách cộng sản thời chiến" (trưng thu lương thực... do yêu cầu phục vụ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc) đã bãi bỏ chính sách này khi bước vào thời kỳ quá độ, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là thời kỳ thực hiện "Chính sách kinh tế mới" (NEP) với kinh tế hàng hoá 5 thành phần và tự do lưu thông hàng hoá trên thị trường nhiều loại sản phẩm. Đó là một đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ và cả của chủ nghĩa xã hội. Việc xoá bỏ một cách nóng vội những đặc điểm trên, sa vào bệnh chủ quan duy ý chí trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ XX của các nước xã hội chủ nghĩa là trái với quan điểm của V.I. Lênin về nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
3. Xã hội xã hội chủ nghĩa tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới
Quá trình xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội là một quá trình hoạt động tự giác của đại đa số nhân dân, vì lợi ích của đa số nhân dân. Chính từ bản chất và mục đích đó mà các nhà kinh điển Mác-Lênin đã đưa ra những kết luận khoa học cho đến nay vẫn còn giá trị: chủ nghĩa xã hội sẽ là một kiểu tổ chức lao động mới của bản thân nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo, hướng dẫn của đảng cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Do đó, kỷ luật lao động mới cũng có những đặc trưng mới, vừa là kỷ luật chặt chẽ theo những quy định chung của luật pháp, pháp chế xã hội chủ nghĩa, vừa có tính tự giác - kỷ luật tự giác (tức là mỗi người lao động giác ngộ về vai trò làm chủ đích thực của mình trước xã hội, trước mọi công việc được phân công ngày càng tốt hơn). Đương nhiên, để mọi người lao động có được tổ chức và kỷ luật lao động mới tự giác như thế, phải trải qua quá trình đấu tranh, từng bước hoàn thiện chủ nghĩa xã hội

những đặc trưng cơ bản của CNXH ở Việt Nam:
1, Chính trị: do nhân dân lao động làm chủ
2, Kinh tế: Phát triển cao dựa trên lực lượng SX hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu SX chủ yếu.
3, Con người: Được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
4, Văn hóa: Có nền VH tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
5, Dân tộc: Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
6, Đối ngoại: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
à Phân tích đặc trưng “nhân dân lao động làm chủ”:
- Khái niệm “nhân dân lao động”:
+ Trước đây, trong mô hình CNXH cũ, nhân dân lao động thường được hiểu đơn giản là 2 giai cấp công nhân, nông dân, nghĩa là gần như chỉ đề cập đến lực lượng lao động chân tay.
+ Tuy nhiên vẫn còn có nhiều hình thức lao động khác như lao động trí óc, lao động nghệ thuật. Vì thế việc mở rộng khái niệm này sẽ tác động rất lớn đến định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta.
- Tại sao phải “do nhân dân lao động làm chủ”?
+ Bản chất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, đem quyền lực về tay nhân dân (trong đó chủ yếu là nhân dân lao động). Vì thế xã hội xã hội chủ nghĩa “do nhân dân lao động làm chủ” phải được xem là một đặc trưng cơ bản, hiển nhiên của mọi chế độ XHCN.
+ Việc trao quyền làm chủ xã hội cho nhân dân sẽ giúp phát huy được nguồn lực to lớn của lực lượng này trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giúp cho xã hội ngày một phát triển hơn.
- “Do nhân dân lao động làm chủ” như thế nào?
+ Việc trước hết cần làm đó là phải thực hiện dân chủ. Đây là một quá trình lâu dài và khó khăn. Trong đó, tự nhân dân phải phát huy quyền làm chủ (thông qua bầu cử, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,…); còn Đảng và Nhà nước phải đảm bảo về pháp luật, các cơ chế nhằm đảm bảo nhân dân có thể phát huy quyền làm chủ của mình.
+ Đảng là lực lượng lãnh đạo nhưng xuất phát từ nhân dân và phải luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết. Mọi chủ trương chính sách phải xuất phát từ quyền lợi thực tế của người dân và phải loại trừ mọi tư tưởng độc đoán, lạm quyền, chủ quan, duy ý chí

6.    Nền dân chủ XHCN và nhà nước XHCN? Liên hệ nhà nước XHCN Việt Nam ?

Nền dân chủ và nhà nước xã hội chủ nghĩa


Để có thể tiếp cận được vấn đề một cách dễ dàng thì trước hết chúng ta cần biết thế nào là Dân Chủ. Vậy Dân Chủ là gì?
Từ trước công nguyên, con người đã biết hợp lực để SX, chống thiên tai, thú dữ và tự tổ chức hoạt động mang tính xã hội – việc cử ra những người đứng đầu các cộng đồng người thực thi qui định chung và phế bỏ nếu họ không thực hiện qui định chung theo ý nguyện và lợi ích chung của cộng đồng.
Theo tiếng Hy Lạp từ thời cổ đại, dân chủ là sự kết hơp giữa hai từ Demos + Kratos có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân có quyền làm chủ những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình.
Dân Chủ là một hình thái nhà nước, một chế độ xã hội, trong đó thừa nhận về mặt pháp luật những quyền tự do, quyền dân chủ, quyền bình đẳng của nhân dân ( tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do bầu cử…). Dân Chủ được qui định thành nghĩa vụ của công dân với nhà nước và trách nhiệm của nhà nước với công dân.
Dân Chủ còn được hiểu là một nguyên tắc sinh hoạt của các tổ chức chính trị-xã hội, cộng đồng dân cư, theo nguyên tắc số ít phục tùng số đông, thiểu số phục tùng đa số.
Dân Chủ là một phạm trù chính trị, bởi vì nó gắn liền với bản chất giai cấp thống trị XH, bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị ( dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản hay còn gọi là dân chủ XHCN). Theo nghĩa này, dân chủ sẽ mất đi khi nào trong XH không còn giai cấp.
Mặt khác, Dân Chủ là một phạm trù lịch sử khi gắn với chế độ nhà nước. Dân Chủ còn là thành quả đấu tranh của nhân dân lao động chống áp bức, bóc lột, đòi quyền tự do, quyền làm chủ của mình. Quyền lực thuộc về nhân dân là giá trị cao nhất của dân chủ và theo nghĩa này thì dân chủ sẽ tồn tại lâu dài khi XH còn giai cấp và nhà nước.
Ở đây chúng ta cũng cần mở rộng thêm quan niệm của CN Mác – Lênin khi nói về dân chủ để từ đó có khái niện hoàn thiện hơn về dân chủ.
Ông cho đó là sự kế thừa những nhân tố hợp lý, những hành động thực tiễn và nhận thức về dân chủ, và đặc biệt tán thành: Dân Chủ là một nhu cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.
Trong XH có giai cấp và nhà nước thì chế độ dân chủ thể hiện chủ yếu qua nhà nước, mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất giai cấp thống trị XH, khi có chế độ dân chủ thì luôn luôn với tư cách phạm trù lịch sử chính trị.
Khi có nhà nước dân chủ, thì dân chủ còn có ý nghĩa là một hình thức nhà nước, có quản lý XH theo pháp luật và thừa nhận ở nhà nước đó “ quyền lực thuộc về nhân dân”.
Không những thế mỗi chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng đều do một giai cấp thống trị cầm quyền chi phối tất cả các lĩnh vực XH như: tính chất chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa mỗi quốc gia, dân tộc.
Đó là khái niệm về dân chủ nhưng còn bản chất của nó thì như thế nào? Giữa dân chủ XH và dân chủ tư sản có điểm gì khác biệt?
Là một chế độ XH mà ở đó dân chủ với nghĩa là toàn bộ quyền lực thuôc về nhân dân. Điều đó trở thành mục tiêu của sự phát triển XH và được thực hiện trong các lĩnh vực của đời sống XH.
Đó là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân. Có sự thống nhất giữa tính giai cấp công nhân với tính dân tộc và tính nhân dân, do lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của dân tộc và của đại đa số nhân dân lao động.
Trong đó yếu tố quan trọng bảo đảm quyền lực thật sự thuộc về nhân dân là do sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vì, ĐCS đại biểu cho trí tuệ, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Với nghĩa này, dân chủ XHCN mang tính nhất nguyên về chính trị.
Bên cạnh đó CN Mác – Lênin quan niệm rằng: chuyên chính vô sản và dân chủ XHCN về căn bản là thống nhất. Từ ĐHĐBTQ lần thứ VII, chuyên chính vô sản gọi là nền dân chủ XHCN.
Dân chủ XHCN được thực hiện toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống XH như:
Về chính trị, Hồ Chủ Tịch chỉ rõ: chế độ dân chủ XHCN thì bao nhiêu quyền lực là của dân, sức mạnh đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Chế độ dân chủ XHCN, nhà nước XHCN… thực chất là của nhân dân do nhân dân và vì nhân dân.
Nhân dân được quyền làm chủ nhà nước bằng cách có quyền giới thiệu các đại biểu tham gia vào bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, xây dựng bộ máy và cán bộ nhân viên nhà nước.
Về kinh tế thì dựa trên chế độ công hữu về TLSX toàn XH đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của LLSX thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động. Nhân dân được làm chủ TLSX chủ yếu của XH, nhân dân được tham gia vào quá trình quản lý SX, quá trình phân phối sản phẩm XH, không ngừng được nâng cao đời sống vật chất.
Bản chất kinh tế bộc lộ đầy đủ qua quá trình ổn định chính trị, phát triển SX và nâng cao đời sống toàn XH dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mác – Lênin và sự quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của nhà nước XHCN.
Về tư tưởng – văn hóa thì nền dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác – Lênin đó là hệ tư tưởng giai cấp công nhân làm nền tảng, chủ đạo.
Kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống, tiếp thu những giá trị tư tưởng, văn hóa văn minh, tiến bộ XH. Nhân dân được làm chủ những giá trị văn hóa tinh thần, được nâng cao trình độ văn hóa và có điều kiện để phát triển cá nhân. Những cái đó sẽ trở thành mục tiêu, động lực để xây dựng CNXH. Dân chủ XHCN không tùy thuộc vào cơ chế chính trị đa nguyên và sự tồn tại của đa đảng đối lập.
Như vậy giữa dân chủ XHCN và dân chủ tư sản có điểm gì khác biệt?
Đây là hai trong số ba nền dân chủ tồn tại trong lịch sử loài người, dân chủ XHCN ra đời có sự kế thừa một cách chọn lọc những thành tựu của các nền dân chủ trước đó, nhất là dân chủ tư sản. Tuy nhiên, hai nền dân chủ này có sự khác nhau về chất.
Dân chủ XHCN là nền dân chủ cho đại đa số nhân dân lao động, phục vụ lợi ích cho đại đa số; còn dân chủ tư sản là nền dân chủ cho thiểu số, phục vụ lợi ích cho thiểu số.
Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân, nhưng nó phục vụ cho đa số. Bởi vì, lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc; còn dân chủ tư sản mang bản chất của giai cấp tư sản, lợi ích của giai cấp tư sản đối lâp với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Dân chủ XHCN là nền dân chủ do ĐCS lãnh đạo, nhất nguyên về giá trị; còn dân chủ tư sản do các đảng của giai cấp tư sản lãnh đạo, đa đảng về chính trị.
Dân chủ XHCN được thực hiện thông qua nhà nước pháp quyền XHCN; còn dân chủ tư sản được thực hiện thông qua nhà nước pháp quyền tư sản.
Dân chủ XHCN được thực hiện trên cơ sở kinh tế là công hữu hóa các tư liệu sản xuất chủ yếu; còn dân chủ tư sản được thực hiện trên cơ sở kinh tế là chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX chủ yếu của toàn XH đó là chế độ áp bức bóc lột.
Như vậy chúng ta cũng đã hiểu được sự khác biệt giữa dân chủ XHCN và dân chủ tư sản. Nhưng chúng ta cũng cần quan tâm về cốt lõi bên trong của vấn đề. Nó giống như một xương sống, giá đỡ để chúng ta nương tựa, sửa chữa, hoàn thiện và phát triển đất nước mình. Đó là hệ thống chính trị XHCN. Một đất nước muốn phát triển vững mạnh, nền kinh tế tăng trưởng thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài thì phải có nền chính trị ổn định. ( Bằng chứng là nhiệm kỳ 2002 – 2007 tổng thu nhập kinh tế cả nước tăng 8,5% là lợi thế, điểm mạnh để chúng ta làm bàn đạp cho nhiệm kỳ 2007 – 2012. Hay sự đầu tư từ phía Hàn Quốc khi cho khởi công xây dựng tòa nhà Vitexco với độ cao 72 tầng là tòa nhà cao nhất Việt Nam hiện nay đã làm cho các nhà thầu cùng nhau vóc toàn bộ sức lực để được đưa chân vào tham gia của buổi đấu thầu nhằm tranh quyền thắng thầu để thực hiện công trình qua đó đưa thương hiệu của mình ngày càng đi lên ). Vậy hệ thống chính trị XHCN là gì?
Theo lý luận của CN Mác – Lênin thì hệ thống chính trị XHCN là một chỉnh thể bao gồm: ĐCS, nhà nước XHCN, các tổ chức chính trị – XH hợp pháp, các tầng lớp nhân dân cùng các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận đó hoạt động trên nguyên tắc bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân và nhằm mục tiêu xây dựng CNXH.
Hệ thống chính trị XHCN ra đời từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền nhà nước, đưa đất nước quá độ lên CNXH và được hoàn thiện dần trong quá trình xây dựng và phát triển CNXH.
Hệ thống chính trị XHCN là công cụ thực hiện dân chủ XHCN. Nền dân chủ XHCN hoạt động và thể hiện thực tế thông qua hệ thống chính trị XHCN.
Hệ thống chuyên chính vô sản bao gồm những tổ chức, thiết chế cơ bản nhất của hệ thống chính trị XHCN.
Trong đó hệ thống chính trị XHCN bao gồm ba bộ phận: ĐCS, Nhà nước XHCN, các đoàn thể cá nhân và các tổ chức chính trị – XH. Ba bộ phận này có vai trò, chức năng khác nhau nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành một chỉnh thể.
ĐCS là hạt nhân của hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận lãnh đạo hệ thống chính trị. ĐCS lãnh đạo XH bằng việc đề ra chủ trương, đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược trên nền tảng của CN Mac – Lênin; bằng các công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận và chuẩn bị đội ngũ cán bộ cho hệ thống chính trị.
Nhà nước XHCN là cơ quan thể hiện và thực hiện quyền lực của nhân dân lao động; thay mặt nhân dân lao động, được nhân dân ủy quyền, chịu trách nhiệm trước nhân dân, quản lý mọi hoạt động của XH bằng hệ thống phát luật và những thiết chế nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS và sự bảo vệ, giám sát của nhân dân.
Các tổ chức chính trị – XH hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật qui định. Đó là nơi làm chủ tập thể của nhân dân; là khâu trung gian nối liền ĐCS, nhà nước XHCN với quần chúng nhân dân. Thông qua các tổ chức này, nhân dân giới thiệu các đại biểu của mình tham gia vào chính quyền, đóng góp ý kiến cho Đảng, nhà nước; đồng thời qua đây nhân dân thể hiện tâm tư nguyện vọng của mình với Đảng, nhà nước.
Ba bộ phận này cùng với cơ chế vận hành của chúng hợp thành hệ thống chính trị XHCN, gắn bó chặt chẽ với nhau vì mục tiêu xây dựng CNXH. Trong đó, nhà nước XHCN là nhân tố cơ bản nhất để thực hiện quyền lực của nhân dân.
Mối quan hệ giữa ba bộ phận này trong hệ thống chính trị là cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, trong đó mối quan hệ giữa ĐCS và nhà nước XHCN đóng vai trò quan trọng.
Cơ chế tổng quát: Đảng lãnh đạo – nhà nước quản lý – nhân dân lao động làm chủ.
Còn hệ thống chính trị ở Việt Nam có những đặc điểm gì?
Hệ thống chính trị ở nước ta gồm ĐCSVN, Nhà nước Cộng hòa XHCNVN và các tổ chức chính trị – XH như: mặt trận Tổ Quốc, Công Đoàn, Đoàn Thanh Niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội nông dân… và mối quan hệ giữa ba bộ phận này là:
ĐCSVN là một bộ phận trong hệ thống chính trị và lãnh đạo hệ thống chính trị trên nền tảng của CN Mác – Lênin, tư tưởng HCM để đề ra cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chiến lược sách lược, tổng kết lý luận và thực tiễn, đào tạo đội ngũ cán bộ cho hệ thống chính trị.
Nhà nước CHXHCNVN là cơ quan nắm và thực thi quyền lực của nhân dân, quản lý XH bằng hệ thống pháp luật và các thiết chế dưới luật.
Các tổ chức chính trị – XH là đại diện cho các tầng lớp nhân dân, là công cụ để qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.
Vậy hệ thống chính trị XHCN ở nước ta lấy CN Mác – Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng – lý luận trong hoạt động, nhất nguyên về chính trị đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của một Đảng tiên phong của giai cấp công nhân đó là ĐCSVN, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nhân dân bầu ra các đại biểu của mình bằng hình thức trực tiếp và đại diện.
Do đó để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, hệ thống chính trị ở nước ta cần phải đổi mới như thế nào?
Cương lĩnh xậy dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được ĐHĐBTQ lần thứ VII ĐCSVN thông qua có ghi rõ: “ Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”. Trong hệ thống chính trị hiện nay gồm có: ĐCSVN, nhà nước, mặt trận Tổ quốc VN và các đoàn thể nhân dân… giữ những vai trò khác nhau nhưng cùng tạo thành một khối thống nhất nhằm xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, quản lý XH, bảo vệ chế độ XHCN.
Trước hết đối với ĐCSVN thì tiếp tục cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Đảng phải đề ra được chủ trương, đường lối phù hợp với thực tiễn cách mạng VN trong từng thời kỳ cách mạng, đồng thời phải lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra. Muốn vậy, Đảng phải đổi mới tư duy lý luận gắn với đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới sinh hoạt Đảng theo hướng dân chủ, giáo dục, đào tạo, đào tạo lại và rèn luyện đội ngũ cán bộ, Đảng viên, nhất là những người giữ trọng trách trong bộ máy Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị – XH. Quá trình chỉnh đốn Đảng phải dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ ( chẳng hạn như thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương và Đại hội Đảng toàn quốc, tập thể lãnh đạo còn cá nhân phụ trách )
Thế quan hệ của Đảng và Nhà nước ra sao? Đảng lãnh đạo nhà nước thể chế hóa và thực hiện đường lối của Đảng thông qua pháp luật, hệ thống chính sách nhà nước, chính vì thế mà Đảng tự tuyên bố Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước, không choán quyền quản lý của nhà nước.
Còn đối với nhà nước thì tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, trên cơ sở những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất đổi mới hoạt động của Quốc hội bằng cách tập trung vào hai lĩnh vực chủ yếu là hoạt động lập pháp và hoạt động giám sát. Từng bước xây dựng và ban hành hệ thống văn bản luật pháp bảo đảm tính pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan này.
Thứ hai là cải cách hành chính một cách cơ bản, trong đó có các thủ tục hành chính, cải cách bộ máy nhà nước, công chức, thể chế và tổ chức thực hiện, ngăn chặn tệ quan liêu, tham nhũng, hối lộ…
Thứ ba là đối với các cơ quan tư pháp, cần từng bước xây dựng ban hành hệ thống văn bản, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan này nhằm bảo vệ luật pháp, kỷ cương XH, lợi ích chính đáng của các tổ chức và công dân.
Thứ tư là trong quan hệ Nhà nước với Đảng thì nhà nước chịu sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, đồng thời yêu cầu mọi Đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.
Đối với các tổ chức chính trị – XH thì cần đổi mới cho phù hợp với tình hình trong nước và thế giới.
Đổi mới hình thức và phương pháp hoạt động để lôi kéo quần chúng tham gia đông đảo, phát huy trí tuệ và sự đóng góp của nhân dân vào phát triển đất nước.
Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ cho các tổ chức để đáp ứng được nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ mới.
Cần hướng mạnh về cơ sở, phát triển tổ chức, tăng cường sinh hoạt cơ sở để nhân sức mạnh to lớn của nhân dân trên nền tảng của Quy chế dân chủ cơ sở ban hành năm 1998.
Trong đổi mới phải gắn nội dung chính trị với các hoạt động kinh tế, XH của các đoàn thể để tạo động lực thúc đẩy sức mạnh của nhân dân. Mặt khác, hoàn thiện các bộ luật để vừa tăng cường quản lý về mặt nhà nước đối với các tổ chức này, vừa phát huy được sức mạnh của các tổ chức.
Như thế khi đổi mới hoạt động của các bộ phận, mối quan hệ trong hệ thống chính trị của nước ta cần lưu ý những điều gì?
Trước tiên là mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta là xây dựng, củng cố và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với vai trò quản lý của nhà nước cũng giống như chức năng, nhiện vụ của ba cơ quan nhà nước là lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ hai là yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị XH. Nhằm đảm bảo ổn định chính trị, XH để phát triển kinh tế, văn hóa, XH.
Tăng cường vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò và hiệu lực lãnh đạo của nhà nước.
Đảm bảo đất nước phát triển đúng định hướng XHCN.
Bên cạnh đó chúng ta cũng cần lưu ý những điểm như:
Khắc phục lối nhìn hẹp hòi, đối lập, máy móc giữa dân chủ tư sản với dân chủ XHCN, từ đó phủ nhận sạch trơn mọi tiến bộ của dân chủ tư sản.
Phê phán luận điểm ca ngợi một chiều d6n chủ tư sản với hình thức tam quyền phân lập, coi đó là đỉnh cao của nền dân chủ, từ đó có ý định cải cách nhà nước của ta theo tư tưởng tam quyền phân lập.
Phê phán quan điểm cho rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ.
Chống tệ quan liêu trong bộ máy nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công thức; tránh hình thức trong cải cách hành chính.
Khắc phục bệnh hình thức trong sinh hoạt của các đoàn thể nhân dân.
Ngoài ra có một bộ phận trụ cột không thể thiếu trong hệ thống chính trị XHCN đó là nhà nước XHCN.
Nhà nước XHCN là một trong những tổ chức chính trị cơ bản nhất của hệ thống chính trị XHCN, là công cụ quản lý mà Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức ra để thực hiện quyền và lợi ích của nhân dân lao động để giai cấp công nhân và Đảng lãnh đạo Xh.
CN Mác – Lênin cho rằng nhà nước XHCN thống nhất về căn bản với nhà nước chuyên chính vô sản về bản chất, mục tiêu, vai trò, chức năng, hoạt động theo nguyên tắc, pháp luật, chính sách…
Trước hết là về bản chất, thì trong XH xó giai cấp nhà nước mang bản chất của giai cấp thống trị XH; còn nhà nước XHCN mang bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc.
Đảng và Hồ Chủ Tịch cho rằng: nhà nước của ta là nhà nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền lực đều ở nơi dân, là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Về chức năng thì nhà nước XHCN có hai chức năng cơ bản là bạo lực trấn áp và tổ chức xây dựng, trong đó chức năng tổ chức xây dựng là chức năng cơ bản nhất. Vì nó thể hiện sự tập trung ở việc quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống XH chủ yếu bằng pháp luật, chính sách, pháp chế XHCN và thông qua hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Còn chức năng chuyên chính của nhà nước XHCN được thực hiện đối với mọi tội phạm và mọi kẻ thù để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn XH, tạo ra những điều kiện cơ bản để mở rộng dân chủ trong nhân dân.
Về nhiệm vụ thì nhà nước cần quản lý, xây dựng và phát triển nền kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Nhà nước cũng cần quản lý văn hóa XH, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân…đó là về phần đối nội. Còn đối ngoại thì mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị, bình đẳng, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau cùng có lợi đối với nhân dân các nước trên thế giới. Trấn áp mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ thù trong và ngoài nước, bảo vệ những thành quả cách mạng.
Và việc mà chúng cần phải làm hiện nay đó là cải cách nhà nước trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam .
ĐH lần thứ IX ĐCSVN đã đặc biệt chú ý việc lãnh đạo quá trình cải cách nhà nước ta theo hướng chung là: xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Đảng ta chỉ rõ: “ Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, do dân , vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thưc hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp….
Cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước.”
Trước hết, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước ta. Quốc hội là do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra bằng bỏ phiếu kín. Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ lớn nhất của Quốc hội là nghiên cứu, thống nhất để ban hành Hiến pháp và hệ thống pháp luật, pháp chế XHCN.
Vì vậy, để đổi mới hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp thì cần phải nâng cao năng lực am hiểu về lập pháp, lập quy…của các cơ quan và các đại biểu của Quốc hội nhất là đại biểu chuyên trách. Nghị quyết hội nghị trung ương 7 khóa 8 viết: “ Đổi mới quy trình chuẩn bị và thông qua các dự án luật tại kỳ họp quốc hội, xây dựng luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, xác định rõ cơ chế giám sát đối với chính phủ, tòa án nhân dân tối cao, VKS nhân dân tối cao, từng buớc tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách, coi trọng việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình xây dựng pháp luật và chuẩn bị những quyết sách của Quốc hội.”
Trên cơ sở đổi mới quốc hội mà kiện toàn, nâng cao năng lực và hiệu quả của các cấp HĐND với những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung cụ thể gắn với các địa phương cơ sở.
Chính phủ và hệ thống cơ quan hành pháp gắn trực tiếp nhất với quá trình cải cách hành chính cảu nhà nước ta. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của việc thực hiện các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người, quyền lực của nhân dân trên thực tế của mọi lĩnh vực XH.
Cải cách hành chính phải đồng bộ về thể chế, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức…
Trong cải cách thể chế hành chính, trước hết là cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục liên quan trực tiếp với công dân và với doanh nghiệp. Đổi mới việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và thi hành pháp luật…cho rõ ràng, thống nhất, chặt chẽ và dễ thực hiện hơn, có hiệu quả hơn.
Cải cách bộ máy hành chính trước hết là bố trí lại cơ cấu tổ chức chính phủ cho tinh-gọn, năng động và quản lý vỹ mô có hiệu quả hơn. Từ đó điều chỉnh cơ cấu cán bộ, Ngành, UBND các cấp theo hướng gọn nhẹ, năng động, hiệu quả trong thực thi pháp luật, chính sách, kế hoạch…phục vụ phát triển kinh tế trên cả nước. Từng bước hiện đại hóa cơ quan hành chính các cấp trong đó có vấn đề vai trò, hoạt động “ hành chính công”.
Tiếp theo là đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Trước hết là nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo lại cán bộ, công chức theo yêu cầu mới của cải cách nhà nước. Đồng thời đổi mới việc quản lý đánh giá cán bộ, công chức; sử dụng đãi ngộ cán bô, công chức.
Nhà nước ta đã có “ chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước 2001-2010”, tăng cường vai trò lãnh đạo của trung ương Đảng và các cấp ủy Đảng đối với mọi mặt tổ chức và hoạt động của nhà nước ta trong quá trình cải cách nhà nước, sao cho đúng định hướng: nhà nước ta ngày càng vững mạnh, thể hiện trên thực tế là nhà nước pháp quyền XHCNVN của dân, do dân và vì dân.

 

Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - nền dân chủ nhất nguyên chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Ai cũng biết dân chủ là nhân dân làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ trên tất cả lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Dân chủ luôn là khát vọng của con người, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thôi thúc hàng triệu người đấu tranh để giành và vươn tới khát vọng đó. Cuộc đấu tranh vì dân chủ luôn gắn liền với đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Trải qua các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp và nhà nước, đến nay nhân loại chỉ có hai thứ dân chủ khác nhau, đó là một thứ dân chủ cho số ít người, dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất, do giai cấp cầm quyền chi phối. Đó là dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản – “dân chủ”' của giới bóc lột, cường quyền, vô nhân đạo. Một thứ dân chủ khác, là dân chủ cho đại đa số người - dân chủ của nhân dân lao động dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Nền dân chủ này giành được do kết quả thắng lợi của cuộc đấu tranh lâu dài vì tiến bộ xã hội của nhân dân lao động. Đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ xuất hiện khi giai cấp công nhân và, nhân dân lao động đấu tranh giành được chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Với tính cách là một chế độ chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức chính trị của nhà nước, do nhân dân lao động lập ra dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; mọi quyền lực thực tế thuộc về nhân dân, nhân dân quản lý xã hội của mình. Đó là một nền dân chủ thực sự, đầy đủ và triệt để nhất. Vì đây là dân chủ của đa số, của nhân dân lao động, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân; trong đó gắn liền với công bằng và bình đẳng xã hội, gắn liền với chống áp bức, chống bóc lột và bất công, được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội, được thể chế bằng Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ nhất nguyên về chính trị. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện ở chỗ: Đảng Cộng sản là người lãnh đạo hệ thống trị và toàn xã hội xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền có chức năng thể chế hoá đường lối của Đảng về các quyền tự do, dân chủ của nhân dân thành hiến pháp, pháp luật, chính sách và tổ chức thực hiện Hiến pháp, pháp luật, chính sách đó; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ là nền tảng lý luận, tư tưởng của dân chủ xã hội chủ nghĩa; dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu chung của xã hội, hệ thống chính trị và của toàn dân; không chấp nhận các khuynh hướng, các lực lượng chính trị có tư tưởng trái với mục tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa, trái với lý luận Mác - Lênin. Thực tiễn xây dựng dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa đã khẳng định, quá trình củng cố, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là quá trình tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, gắn liền với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, không ngừng nâng cao ý thức, năng lực làm chủ của nhân dân, thu hút và động viên họ tham gia tích cực, tự giác vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.

Nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, sản phẩm thắng lợi của cuộc cách mạng “Tư sản dân quyền cách mạng là thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, thống nhất nước nhà, của công cuộc đổi mới đất nước vì hạnh phúc nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam dốc lòng và đồng tâm xây dựng nhiều chục năm qua, đạt nhiều thành tựu, thì tất yếu phải là một nền dân chủ nhất nguyên chính trị. Bởi vì, xét về tính chất giai cấp thì nền dân chủ nào cũng có tính giai cấp, Ở một số nước phương Tây, người ta thực hiện hình thức dân chủ đa nguyên, nhưng về thực chất, bao giờ cũng là nhất nguyên, do đảng của giai cấp cầm quyền chi phối việc xây dựng và thực hiện dân chủ. Cái gọi là “đa nguyên chính trị” chẳng qua chỉ là luận điệu lừa mị của giới tư sản đối với những người non kém chính trị” rồi trở lại tước quyền dân chủ của nhân dân lao động do gian khổ đấu tranh mới giành được mà thôi.

Trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” chống Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại rêu rao một cách ác ý rằng “ở Việt Nam thực hiện chế độ độc đảng lãnh đạo nên đã dẫn tới chế độ “Đảng trị”; rằng “độc đảng thì kéo theo: độc tài, độc đoán, độc quyền”; rồi họ yêu cầu: “Việt Nam phải xoá bỏ sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”, vì “còn thực hiện “độc đảng” lãnh đạo thì Việt Nam không có dân chủ” và họ “khuyên”: “Để có dân chủ, Việt Nam nên thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập”, bởi “Đa nguyên, đa đảng bao giờ cũng tốt hơn chế độ nhất nguyên độc đảng. Độc tài, đảng trị là cái gốc sai chính của nhà nước cầm quyền Việt Nam hiện đại”… Từ ngày ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhà nước đó ngay từ đầu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố là nhà nước của dân do dân vì dân: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… quyền hành và lực lượng đều ở nơi nơi dân”.

76 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn dày công tìm tòi, sáng tạo, không ngừng đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của mình đối với nhà nước Nhà nước, nhằm làm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh và thực sự là cơ quan quyền lực, công cụ biểu hiện ý chí, nguyện vọng, thực hiện và bảo vệ quyền dân chủ thực sự của nhân dân. Đặc biệt là từ ngày thực hiện đường lối đổi mới đất nước đến nay, sinh hoạt dân chủ trong xã hội Việt Nam ngày càng được mở rộng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân mỗi ngày một nâng cao, tiếng nói tâm huyết của nhân dân vì một xã hội công bằng, bình đẳng, dân chủ, văn minh được các cấp chính quyền lắng nghe, tôn trọng và tiếp thu đúng đắn. Năm 1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường nhằm tiếp tục phát huy, mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân... đã tạo nên một sắc thái dân chủ mới trong xã hội. Sự thật đó nói lên rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang từng bước được thực hiện ngày càng tốt hơn theo đà phát triển của dân trí Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta cũng thẳng thắn thừa nhận rằng, hiện nay, “Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp,.. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao... Một số giá trị văn hóa và đạo đức xã hội suy giảm... Mức sống nhân dân, nhất là nông dân ở một số vùng quá thấp... Sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh chóng. Tình trạng khiếu kiện của nhân dân ở nhiều nơi kéo dài và phức tạp, chưa đuợc các cấp các ngành giải quyết kịp thời... Các tệ nạn xã hội, nhất là nạn ma tuý và mại dâm lan rộng... Trật tự an toàn xã hội chưa được bảo đảm vững chắc... Cơ chế, chính sách không đồng bộ...Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng...Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến”, đã làm hạn chế mức độ thực hiện dân chủ của xã hội ta và là nguyên cớ để kẻ thù và bọn cơ hội, bất mãn, công kích chúng ta. Do vậy, để kiên trì bảo vệ và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - nền dân chủ nhất nguyên chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta một mặt phải kiên quyết khăc phục những yếu kém; mặt khác phải thực sự kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh vạch trần mọi luận điệu xuyên tạc, dụ dỗ, lừa mị của kẻ thù, cùng nhau đoàn kết một lòng chung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết tâm đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta tiến lên giành nhiều thành tựu hơn nữa.

7.    Những vấn đề CT – XH  thời kỳ quá độ xác định XHCN ?

Đảng ta đã xác định: Cách mạng Việt nam bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vậy Thời kỳ quá độ là gì? (Sau đây được viết tắt TKQĐ).

Bản chất của TKQĐ là Chuyên chính vô sản ! Nghĩa là giai đoạn giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền sẽ tước đoạt toàn bộ tư liệu sản xuất từ giai cấp tư sản, xoá bỏ triệt để tàn dư phong kiến, tích luỹ cơ sơ vật chất để xây dựng XHCN bằng những biện pháp chuyên chính vô sản! (Bản chất là: Dùng bộ máy chính quyền cưỡng bức.)

TKQĐ chính là sự khác biệt giữa học thuyết của C. Mác và của V. Lê-nin.

Có thể khẳng định TKQĐ không có trong học thuyết C. Mác!

Không ai có thể khẳng định được: Nếu C. Mác sống đến thời V. Lê-nin thì ông có đồng ý luận điểm đó không? Và có đồng ý ghép học thuyết của mình vào với học thuyết của Lê nin để gọi chung là học thuyết Mác - Lê nin, để trở thành Chủ nghĩa Mác - Lê nin?

Còn TKQĐ đã được thực hiện ở nước ta từ năm 1975 ra sao?

Sau 1975, Đảng ta xác định Cách mạng Việt Nam đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Chúng ta đã tuyên bố với mọi người rằng: Việt nam bắt đầu “Thời kỳ quá độ” thông qua việc đổi tên Đảng, đổi tên nước mà chính Bác Hồ đã đặt!

Suốt 2 kỳ Đại hội Đảng (IV và V), chúng ta đã làm đúng theo luận điểm của Lê-nin về Thời kỳ quá độ! Kết quả 10 năm ra sao thì không cần nêu lại, chúng ta đều đã biết.

Có thể khẳng định: Đó là thất bại của Đảng trong lãnh đạo xây dựng đất nước thời kỳ từ 1975-1985!

Thời kỳ này có thể nói gọn trong tổng kết của Đại hội Đảng VI bằng 3 từ “Duy ý chí” (Thực chất là sai lầm).

Sau Đại hội VI, công cuộc “Đổi mới” bắt đầu. Đất nước ta giống như cánh đồng hạn gặp mưa. Đổi thay từng giờ, từng phút và có thể nói cả từng giây. Những ngày tháng của thời “Duy ý chí” gần như chỉ còn trong truyện cổ tích nào đó...

Chúng ta đã làm gì mà “kỳ diệu” vậy? (Tôi dùng từ này không quá!)

Có một sự thật trớ trêu là:

Những việc làm “Đổi mới” của Đảng ta lại khác hẳn với học thuyết Lê-nin về Thời kỳ quá độ, thậm chí đi ngược hẳn!

Ví dụ: Trong nông nghiệp: hầu như các HTX nông nghiệp và nông trường quốc doanh tan rã, trả lại ruộng cho nông dân. Trong công nghiệp: cổ phần hoá các nhà máy và công ty nhà nước, khuyến khích tư nhân làm giầu không giới hạn, bắt tay với tư bản nước ngoài…

Có thể tổng kết Cách mạng Việt Nam từ sau khi thống nhất năm 1975 đã xuất hiện một vấn đề rất lớn là:

1)Thời kỳ từ 1975 – 1985: Thời kỳ “Duy ý chí”

Đảng ta thực hiện đúng học thuyết Lê-nin về Thời kỳ quá độ. Kết quả: Đất nước chậm phát triển, dân đói khổ…!

2)Thời kỳ từ 1985 đến nay: Thời kỳ “Đổi mới”

Đảng ta thực hiện không đúng học thuyết Lê-nin về Thời kỳ quá độ. Kết quả: Đất nước phát triển, dân giầu lên…!

Rõ ràng: Thực tiễn Cách mạng Việt Nam đã xuất hiện mâu thuẫn rất lớn:

Lý luận Cách mạng mâu thuần với Thực tiễn Cách mạng.  

Cùng lúc đó “Thành trì chủ nghĩa xã hội sụp đổ!”

Những người đảng viên chúng tôi làm sao mà không dao động trước sự kiện “kinh thiên động địa” đó? Sự dao động là có cơ sở vì:

1) Theo học thuyết của C. Mác thì những nước lạc hậu như chúng ta không thể tiến lên CNXH được mà phải qua giai đoạn phát triển Tư bản!

2) Theo Lê-nin thì những nước như chúng ta sẽ tiến lên CNXH không qua con đường phát triển Tư bản mà bằng TKQĐ! Với điều kiện có phe XHCN làm hậu thuẫn! (Lê-nin đã tạo ra điều kiện này cho chúng ta!)

3) Những ai đã tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác – Lê nin, vào con đường đi lên CNXH không phải vì học thuyết đó viết hay mà chính vì: Có cái để mà tin là nó đã đúng (Và có thể sẽ đúng) bằng thực tiễn tồn tại của Liên Xô hùng cường.  Trước khi Liên Xô sụp đổ, nếu có ai đó còn hoài nghi về đường lối, chúng ta chỉ việc dùng Liên Xô làm “bằng chứng” là xong…! 

Mâu thuẫn lớn nói trên và Liên Xô sụp đổ là nguyên nhân chính gây ra mọi “rắc rối”. Bởi khi lý thuyết không đúng thực tiễn thì chắc chắn phải “Nói một đàng, làm một nẻo”.

Lý luận đã mâu thuẫn thực tiễn! Và sự vận động của thực tiễn đã vượt quá tầm của các nhà lý luận của Đảng ta. Họ đã không thể đưa ra được một lý giải nào thỏa đáng cho sự biến đổi của thực tiễn.

Đáng lẽ các nhà lãnh đạo và các nhà lý luận phải làm nổi việc giải thích đó một cách cặn kẽ, hết sức khoa học, bằng những cuộc sinh hoạt (Tranh luận một cách dân chủ) về sự kiện “kinh thiên động địa” đó, thì họ lại im lặng “đáng sợ” hoặc giải thích một cách phiến diện, mơ hồ, hầu như đó chỉ là “một tai nạn” nhỏ nào đó… (Có thể do trình độ, có thể do chủ nghĩa bảo thủ, giáo điều, hoặc sự né tránh để đạt mục đích cá nhân…)  

Rõ ràng chúng ta đã một lần nữa không dám nhìn thẳng vào sự thật để giải quyết thấu đáo những vướng mắc về tư tưởng trong Đảng ta!

(Tôi nói một lần nữa bởi: Chúng ta đều đã tôn vinh hết lời nào là “đúng đắn” “sáng suốt”... sau Đại hội IV, Đại hội V, vậy mà đến Đại hội VI chúng ta cho là “Duy ý chí”.)

 

8.    Hiện trạng của CNXH ?

Các yếu tố xã hội chủ nghĩa đang nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư bản
Theo quan điểm của C.Mác “sự thay thế của các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử-tự nhiên”. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội với tư cách là hai hình thái kinh tế xã hội khác nhau, kế tiếp nhau, xã hội trước tất yếu bị xã hội sau thay thế, xã hội sau vừa phủ nhận xã hội trước vừa kế thừa và phát triển những thành tựu mà xã hội trước tạo ra. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã phát triển đến giai đoạn cao nhất của nó- chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước- đã gần với chủ nghĩa xã hội hơn. Theo V.I. Lênin chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là giai đoạn trước của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã tạo ra nền sản xuất lớn với khoa học công nghệ ngày càng hiện đại, sự phát triển xã hội hoá sản xuất đang “nẩy mầm” những nhân tố của chủ nghĩa xã hội. Sự xuất hiện những công ty cổ phần trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự tăng lên của nó và những nhân tố xã hội chủ nghĩa khác có nghĩa là sự phát triển của quá trình lịch sử tự nhiên trong đó chủ nghĩa tư bản bắt đầu quá độ sang phương thức sản xuất mới. Trong xã hội tư bản hiện đại, về mặt sở hữu, sự xuất hiện quốc hữu hoá, chế độ hợp tác, công ty cổ phần, nhà nước đóng vai trò điều tiết quản lý về vốn, nguồn lao động tham gia quản lý xí nghiệp ở mức độ khác nhau, sự rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, lao động trí óc với lao động chân tay, tính dân chủ và xã hội của nhà nước tăng lên v.v tất cả những cái đó nếu không nói đó là những nhân tố của chủ nghĩa xã hội ở mức độ nhất định, thì đó cũng là sự chuẩn bị điều kiện vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên điều đó vẫn chưa vượt ra khỏi cái khung tư bản chủ nghĩa, sự biến đổi về lượng chưa chuyển thành sự biến đổi về chất, vẫn là chủ nghĩa tư bản.
Tính đa dạng các xu hướng phát triển của thế giới đương đại
Sau cách mạng Tháng Mười nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, với sự tồn tại hai hệ thống kinh tế xã hội đối lập nhau đã tác động đến sự lựa chọn con đường phát triển của các dân tộc.
Ở các nước vốn trước đây là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sau khi giành độc lập đã, đang lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình. Con đường tư bản tư nghĩa trong những điều kiện nhất định đã đem lại những thành công cho một số nước còn phần lớn cách nước khác không thoát khỏi đói nghèo, nợ nần chồng chất.
Ngay ở các nước tư bản phát triển cũng nảy sinh xu hướng phát triển “phi tư bản”, “hậu tư bản”, xu hướng xã hội dân chủ v.v điều này chứng tỏ chủ nghĩa tư bản không phải là “xã hội tốt đẹp cuối cùng”, không phải là tương lai của loài người mà nó sẽ phải bị thay thế.
 Chủ nghĩa xã hội- tương lai của xã hội loài người
a. Sự sụp đổ của Liênxô và các nước Đông Âu không có nghĩa là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội
Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, sự kiện Liênxô, Đông Âu sụp đổ, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới bị tổn thất nghiêm trọng. Kẻ thù thì vội vã vui mừng cho đó là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, sự cáo chung của chủ nghĩa Mác, còn người dân cũng không khỏi hoang mang bối rối. Sự thật, sự tan rã của Liên xô, Đông Âu không phải là sự thất bại của chế độ và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà chỉ là sự thất bại của một mô hình thực tiễn nhất định. Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liênxô, mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc, nó không đồng nghĩa với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một hình thái kinh tế-xã hội mà loài người đang vươn tới. Sự sụp đổ của Liênxô và Đông Âu cũng không vì thế mà thay đổi nội dung, tính chất của thời đại. Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liênxô và Đông Âu chỉ chứng tỏ tính quanh co, phức tạp của sự phát triển xã hội mà thôi.
b. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách mở cửa, đổi mới và ngày càng thu được những thành tựu to lớn
Trong bối cảnh Liênxô và các nước xẫ hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, thì ở một số nước xã hội chủ nghĩa khác điển hình là Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành đổi mới, cải cách mở cửa thành công, đã đưa đất nước vượt qua khó khăn khủng hoảng và đạt được những thành tựu to lớn. Trên cơ sở kiên trì, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình, trong qua trình đổi mới, cải cách, mở cửa đã giữ vững nguyên tắc, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội. Để giữ vững vai trò lãnh đạo, Đảng phải tự đổi mới theo hướng dân chủ, khoa học phù hợp với điều kiện cụ thể của nước mình.
Đã từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang kinh tế thị trường, thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, lấy hình thức phân phối theo lao động là nguyên tắc chủ yếu. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế. Nhà nước quản lí vĩ mô, giảm dần sự can thiệp vi mô, thực hiện chế độ dân chủ, công khai minh bạch. Xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường khó khăn lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn.
Sau hơn 30 năm (1978) cải cách, mở cửa của Trung Quốc, hơn 20 năm (1986) đổi mới ở Việt Nam, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và đánh giá cao, vị thế của Trung Quốc và Việt Nam ngày càng được thế giới tôn trọng. Thành công của cải cách, mở cửa của Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội.
c. Sự xuất hiện xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở các nước Mỹ Latinh
Cùng với những thành công của công cuộc cải cách, đổi mới của Trung Quốc và Việt Nam, sự hồi phục của các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, ở Mỹ Latinh đã xuất hiện xu hướng thiên tả từ những năm 90 của thế kỷ XX và hiện nay không ngừng lớn mạnh. Thông qua bầu cử các lực lượng dân chủ, tiến bộ đã thành lập được chính phủ lên cầm quyền ở các nước Mỹ Latinh như Vênêzuala, Nicaragoa, Bôlivia, Braxin, Acgentina v.v nhiều nước đã tuyên bố lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Mô hình chủ nghĩa xã hội nhiều nước Mỹ Latinh lựa chọn tạo thành mô hình “chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh thế kỷ XXI”, mô hình này về đại thể có những nội dung cơ bản là Về tư tưởng, lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng tiến bộ của Ximôn Bôlivia, tư tưởng nhân đạo thiên chúa giáo làm nền tảng. Về chính trị, nhấn mạnh tư tưởng “dân chủ cách mạng” và chính quyền nhân dân, xây dựng mô hình xã hội theo đó nhân dân tham gia vào công việc của nhà nước, thực hiện công bằng xã hội. Về kinh tế, chủ trương thực hiện kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước và hợp tác giữ vai trò chủ đạo, giành lại chủ quyền dân tộc đối với tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là dầu mỏ, nước sạch v.v thực hiện công bằng, giải quyết vấn đề bất bình đẳng và phân hoá xã hội. Về đối ngoại, thúc đẩy khối đại đoàn kết Mỹ Latinh và quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, lấy hợp tác thay thế cạnh tranh, đấu tranh cho một thế giới đa cực dân chủ, chú trọng kinh nghiệm quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa như Cu Ba, Việt Nam, Trung Quốc. Mô hình chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh tuy còn điểm này điểm khác, còn tiếp tục được nghiên cứu, theo dõi, nhưng với sự xuất hiện mô hình đó chứng tỏ sức sống và khả năng phát triển của chủ nghĩa xã hội và lòng tin vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa của nhân dân lao động.
Tóm lại, tình hình thế giới đang vận động rất phức tạp, những diễn biến từ sau cách mạng Tháng Mười Nga đến nay cũng chứng tỏ dù phải trải qua những bước quanh co phức tạp nhưng loài người nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là quy luật vận động khách quan của lịch sử.