Thư mục: Chung |
Tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển TP HCM, Phó TTK Hội Khoa học Lịch sử VN
Tôi thuộc thế hệ “vùng biên”
Miệng cười, mắt cười, giọng nói sôi nổi, chị cuốn hút người đối diện không chỉ bằng những suy nghĩ thấu đáo, khúc chiết, mà còn bằng sự quyến rũ rất phụ nữ. Là người có những nghiên cứu khảo cổ học về giai đoạn văn hóa Óc Eo và những văn hóa cổ của vùng đất Sài Gòn, với cách tiếp cận những vấn đề lịch sử từ văn hóa và cuộc sống hôm nay, chị còn là một người viết những tạp văn đầy suy tư về thế hệ mình bằng những câu chuyện đời giản dị.
- Những đồ trang sức cổ, vật gia dụng phát hiện gần đầy ở Cần Giờ đã hé lộ bí ẩn lý thú về con người cổ xưa đã thích ứng với môi trường tự nhiên như thế nào, bài học ấy theo chị có ích gì cho hôm nay?
- Văn hóa khảo cổ luôn được đặt trong bối cảnh môi trường sinh thái nhân văn và có mối quan hệ với cuộc sống đương đại. Hệ thống di tích khảo cổ học ở Cần Giờ quan trọng không chỉ với Việt Nam mà với cả Đông Nam Á. Là những di tích vùng rừng ngập mặn (một đặc trưng sinh thái của Nam Bộ), môi trường khó sống lắm mà sao người xưa sống được? Những di tích khảo cổ ở Cần Giờ cách đây 3000 - 2000 năm cách ngày nay cho thấy dân Cần Giờ đã biết thích ứng với môi trường sình lầy cửa sông Đồng Nai để phát triển cảng thị tiền tiêu buôn bán dọc biển Đông và vào lưu vực sông Đồng Nai. Có thể cho rằng Cần Giờ trước đây là một “cảng thị sơ khai”, nơi tiếp nhận và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá – kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời cũng là nơi tích tụ và phát tán những yếu tố văn hoá bản địa.
Tôi có cảm tưởng hiểu biết về môi trường tự nhiên Nam Bộ của nhiều người còn quá giản đơn, cứ chung chung là vùng đất hoang sơ ưu đãi, con người làm ăn dễ dãi, nặng về khai thác tài nguyên thiên nhiên…Thực ra không hẳn vậy. Cư dân nơi đây phải có sự hiểu biết sâu sắc về tự nhiên mới có thể thích ứng và tạo ra nền sản xuất mang đặc thù của vùng đất này.
Với 3000 km bờ biển, trong đó hơn 2000 km “mặt tiền” thuộc Trung bộ và Nam Bộ, trong quá khứ cư dân Chăm Pa và Óc Eo đã tận dụng vị trí địa lý để khai thác rất tốt con đường giao thông ven biển Đông. Tại vùng đồng bằng Nam bộ, dấu vết những tuyến nhà sàn dọc những kênh rạch cổ thể hiện rõ lối cư trú thích ứng với mùa nước nổi Nam Bộ, nhất là ở tứ giác Long Xuyên. Ngày nay ở khu vực chịu ảnh hưởng lớn của mùa nước nổi, việc cư dân sống trong “nhà trệt” khó tạo ra sự “an cư” thì làm sao “lạc nghiệp”? Khi khảo sát ở Campuchia, tôi thấy vùng nông thôn Campuchia vẫn bảo tồn yếu tố nhà sàn, cầu thang cao, có chiếu nghỉ, kiến trúc rất “dân tộc và hiện đại”. Không còn gỗ như xưa, người ta đúc các cột bê tông để xây dựng nhà sàn. Nhà sàn thường cao hơn đỉnh nước đến nửa mét, phía dưới có chiếc xuồng khá tốt chứ không phải xuồng “năm quăng” (làm bằng gỗ xấu, xài một năm rồi quăng bỏ). Mùa khô có thể lấy lá che phía dưới thành một phòng rất mát, không bị hơi phèn bốc lên ẩm và nóng. Ở nước ta, giá mà có doanh nghiệp nào đúc sẵn những cột bê tông đó, làm những chiếc xuồng chắc chắn cho dân có phương tiện sinh sống hữu hiệu trong mùa nước sẽ giúp người dân sống yên ổn và làm ăn bài bản hơn. Mùa nước nổi vốn là một “thuộc tính” của tự nhiên Nam bộ, thích ứng và khai thác nó cũng là một thuộc tính của cư dân Nam bộ, từ thời kỳ Văn hóa Óc Eo.
- Chị nghĩ thế nào về tính cách của người Sài Gòn xưa và nay? Biến động cư dân của Hà Nội và Sài Gòn đang đặt ra những vấn nạn gì cho văn minh đô thị?
- Trải qua nhiều biến cố lịch sử, cho đến bây giờ nếu làm một cuộc thống kê ở các thành phố lớn về Hội đồng hương của các Tỉnh (chưa kể đến huyện, xã) thì chắc chắn, Sài Gòn là nơi có số lượng nhiều nhất! Ở Sài Gòn ta có thể nghe thấy tiếng nói, thưởng thức món ăn của nhiều vùng miền khác nhau nhưng cách thức làm ăn của những người tứ xứ tại đây vẫn đậm nét Sài Gòn: nhanh nhạy “chịu chơi”(chứ không chơi chịu), tín nghĩa “một là một, hai là hai”, hướng ngoại, nhưng khi trở lại với không gian gia đình vẫn giữ được tính chất văn hóa vùng miền. Người Sài Gòn dễ dàng thích ứng với những cái mới, chấp nhận những khác biệt của nhau một cách nhẹ nhàng, không cực đoan. Luôn thay đổi và dung nạp một cách phóng khoáng những văn hóa khác. Nói đến Sài Gòn là nói đến Nam Bộ, không phân biệt dân tỉnh và dân Sài Gòn gốc, có lẽ vì giữa Sài Gòn và các tỉnh có nhiều mối liên hệ mật thiết về văn hóa và kinh tế. Sâu thẳm trong người Sài Gòn là truyền thống văn hóa cội nguồn được gạn lọc, lắng đọng theo thời gian, để trong hoàn cảnh ngặt nghèo đến đâu Sài Gòn cũng luôn tìm được cách để vượt qua. Luôn thích nghi với những điều mới lạ nhưng không đánh mất bản chất của mình, đấy là một tính cách rất đặc trưng của người Sài Gòn.
Sài Gòn là một đô thị từ rất sớm. Nhưng hiện nay tính chất đô thị rất đáng báo động. Văn minh đô thị xuống cấp do những biến động về xã hội, biến động về cư dân. Lớp thị dân lâu đời của Sài Gòn nay hầu như không còn. Cơ sở vật chất của đô thị ngổn ngang trong quá trình xây dựng, cơ chế quản lý đô thị chưa thích hợp… Vẫn biết việc xây dựng lối sống, tính cách đô thị không thể nóng vội, không chỉ một thế hệ, nhưng nếu không nhìn thấy nguyên nhân từ lịch sử thì mọi việc làm khó thoát khỏi kiểu “phong trào”, tốn nhiều công sức tiền bạc mà hiệu quả không cao, vài bữa lại “đâu vào đấy”. Chuyện mở rộng Hà Nội nhiều nhà khoa học và dư luận đã lên tiếng. Thủ đô là trung tâm chính trị văn hóa, chứ cứ phình to, mở rộng và gánh vác quá nhiều chức năng như một “tiểu vùng khép kín” thì… tôi cứ nghĩ vui: không khéo như “cây tre trăm đốt”, lại “khắc nhập, khắc xuất” mà thôi. Văn hóa Hà Nội cũng biến dạng nhanh chóng ghê gớm, lời nói vui “bây giờ phải lập hội đồng hương Hà Nội ở giữa Hà Lội” nghe sao mà chua xót quá!
Trong công việc nghiên cứu của mình, chị có khó khăn gì không khi bảo vệ những giá trị thực?
Với nghề khảo cổ của tôi thì chưa gặp khó khăn như thế, vì chúng tôi cứ từ di tích, từ hiện vật mà nói. Còn với công tác hiện nay liên quan đến văn hóa – xã hội thành phố, đúng chức trách của người nghiên cứu khoa học tôi luôn bày tỏ đúng chính kiến của mình.
Chị nhìn nhận thế nào về những giá trị tinh thần của người Việt xưa và nay? Điều gì khiến chị lo lắng nhất?
- Người Việt mình đại đa số là nông dân, sống giản dị, không có nhu cầu quá lớn về vật chất. Về tinh thần, có những thời kỳ Phật giáo trở thành quốc giáo, nhưng Phật giáo Việt Nam dung dị và không cực đoan, không trở thành gánh nặng tinh thần mà mang tính giải tỏa nhiều hơn, giúp cho cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Những nghi lễ cũng chừng mực, vừa phải. Trải qua nhiều cuộc chiến, những biến động xã hội làm cho đời sống tinh thần có nhiều thay đổi. Tôi nhận thấy bây giờ có một bộ phận dân chúng đến với tôn giáo chưa hẳn vì niềm tin hướng thiện. Nhiều “nghi lễ” bị biến dạng để phục vụ, hỗ trợ tư tưởng làm sao kiếm được nhiều tiền bằng mọi cách. Có lẽ vì vậy mà những người đó đi Chùa, cúng bái như để tự trấn an tinh thần vậy! Những hiện tượng này cho thấy sự thay đổi về kinh tế quá nhanh gây ra hụt hẫng lớn về tinh thần và văn hóa, dường như chính điều đó không mang lại sự bình yên cho mỗi con người…
- Tôi suy nghĩ nhiều về những mối quan hệ của con người hiện nay. Có gì đấy như tạm bợ, như không có niềm tin vào nhau, vào con người nói chung. Có những giá trị tinh thần trước đây mình rất tin, giờ không còn nữa. Tuy nhiên tôi cũng tự cảnh giác mình: liệu mình có “lý tưởng” quá không?
- Trong các tạp bút của chị, nổi bật những đoản văn mang tên Những mảnh vỡ, phải chăng đó cũng là “vấn đề” của thế hệ chị?
- Lứa tuổi mình chịu sự thay đổi liên tục của hoàn cảnh xã hội, chông chênh, phân vân, không rành mạch giữa cách nghĩ truyền thống và lối sống hiện đại. Vừa muốn níu kéo những ký ức nghèo khó nhưng êm ả thời thơ ấu, vừa phải thích nghi với môi trường sống hiện đại, có lúc dồn nén, nghĩ đi nghĩ lại, cũng cáu kỉnh, muốn đập phá, nhưng không thể. Nhìn dưới góc độ văn hóa, cái gì ở vùng biên cũng rất hay, thật đấy (cười). Kể cả vùng biên trong không gian, cả vùng biên trong lịch sử. Thế hệ tôi là thế hệ “vùng biên” phản ánh một giai đoạn giao thời. Tôi rất thương thế hệ mình, bạn bè ai cũng có tâm tư, mâu thuẫn, khó giải tỏa lắm. Chính vì vậy mà tôi viết. Viết để nói hộ bạn bè, viết để chia sẻ, để mọi người hiểu nhau hơn. Tuy nhiên tôi cũng chỉ là người viết nghiệp dư thôi!
- Còn “vấn đề” của riêng chị? Chị giải quyết thế nào? Có bao giờ chị rơi vào những đổ vỡ quá lớn trong tình cảm và cuộc sống?
- Trong công tác tôi đã từng bị đối xử nhỏ mọn, bị “đâm sâu lưng”. Mấy năm trời người cứ rạc đi vì suy nghĩ tại sao người ta lại đối xử với nhau tàn tệ thế? Nhìn mặt mày tôi sầu thảm, bạn bè nói vui để động viên: “Không biết bà làm việc được cái gì mà chỉ thấy càng ngày trông càng… chán. Cứ xấu xí thế là nghỉ chơi đó nha!”. Từ đó, tôi cố gắng không tự dằn vặt nữa, nhìn nhận mọi cái một cách nhẹ nhõm hơn, bởi tôi hiểu cái gì đã xảy ra thì đã qua! Trong mọi mối quan hệ, nếu có chuyện không hay, bao giờ tôi cũng “xem” lại mình trước. Có lẽ nhờ thế mà dù có chuyện gì tôi cũng chưa từng tuyệt giao với ai. Mọi chuyện đã qua hãy cho qua, đừng giữ định kiến trong mình khiến mình khổ trước…Tuy nhiên nhiều lúc vẫn thấy chông chênh lắm, vì phụ nữ thường dễ tha thứ mà khó nguôi quên…
- So sánh giữa các thế hệ, chị có thấy sự khác biệt trong quan niệm về sự chung thủy, lâu bền với tình yêu?
- Thế hệ nào thì trong tình yêu cũng mong muốn sự thủy chung vì đó là thuộc tính của tình yêu. Nhưng có lẽ biểu hiện sự chung thủy ở từng thế hệ có khác nhau, cũng như biểu hiện của tình yêu vậy.Thế hệ cha mẹ và thế hệ mình thường yêu ai là muốn sống cả đời với nhau, còn thế hệ trẻ bây giờ hình như hiểu chữ chung thủy đơn giản hơn, là “khi đang ở bên tôi thì chỉ có một mình tôi, còn trước tôi, sau tôi không quan trọng”. Họ cũng không đặt nặng vấn đề mối quan hệ ấy lâu dài hay ngắn ngủi. Có người cho rằng thế không phải là yêu, nhưng tôi nghĩ đó cũng là bình thường.
- Ở Việt Nam, ít có phụ nữ nào theo đuổi ngành khảo cổ đam mê như chị, trở thành nhà quản lý, đi dạy cũng liên quan đến khảo cổ. Trong sự chọn lựa này, ai là người ảnh hưởng đến chị nhiều nhất?
- Đó là người thầy của tôi, thầy Trần Quốc Vượng. Thầy Vượng coi tôi như người trong gia đình, đối với tôi rất tình cảm. Thầy Vượng cũng rất nghệ sĩ, thích đi đây đi đó, làm gì là làm tới cùng, mà làm một cách vui vẻ. Thầy không bao giờ muốn học trò đi theo lối mòn. Thầy mất đã mấy năm rồi mà tôi vẫn cảm giác như thầy đang còn sống. Học Thầy là học kiến thức, và cả phương pháp nữa. Phụ nữ làm quản lý cũng đòi hỏi sự kiên định, quyết đoán. Nhưng với học trò và người cấp dưới, tôi luôn ứng xử thế nào để thuyết phục họ cách làm tốt nhất, và vui vẻ thì càng tốt, chứ không phải là làm theo “mệnh lệnh” của mình. Mỗi người là một thực thể, đừng đòi hỏi người khác phải giống mình, vì mình cũng có giống ai đâu! Có lẽ nhờ thế tôi có rất nhiều bạn bè trẻ tuổi. Nhiều người nói tôi may mắn, thành đạt, nhưng trong thâm tâm, tôi thấy mọi sự phù du lắm, chính vì thế mà mình cứ sống thoải mái, nhẹ nhõm, vui vẻ thôi.
- Kim chỉ nam trong nghệ thuật sống của chị là gì?
- Nhường nhịn một chút, chịu thiệt một chút là xong. Hơn thua nhau một câu nói, một đồng bạc làm gì. Thực ra ở đời, chẳng có gì là mất hết, cũng chẳng bao giờ được hết. Được mất vô cùng lắm…
- Hạnh phúc nhất với chị là gì?
- Gia đình yên ổn, con cái được làm nghề chúng yêu thích. Có điều kiện thì đi đây đi đó. Đi là biết thêm, nghĩ thêm, nạp thêm được nhiều cái mới, tâm hồn cũng cởi mở nhẹ nhàng hơn.
... - 04:56 24-11-2009
Bạn có băn khoăn về nghề nghiệp tương lai của mình không?... - 15:12 23-11-2009
... - 14:02 23-11-2009
- 21:59 22-11-2009
... - 15:47 22-11-2009


hihi 23:20 23-11-2009
hihi 23:17 23-11-2009
Gold Monkey 19:35 23-11-2009
hậu khảo cổ22:37 23-11-2009
Cô sẽ trả lời: cứ làm việc thôi, và chấp nhận cuộc sống sẽ có phần chật vật!
hoa024 12:35 23-11-2009
em rất thích quan niệm này của chị,em nghĩ rẳng nếu mình luôn ý thức về quan niệm này thì sẽ đỡ khổ nhiều lắm !
hậu khảo cổ22:35 23-11-2009
vanganhmm_52@yahoo.com.vn 11:56 23-11-2009
hậu khảo cổ12:02 23-11-2009
Star 02:11 23-11-2009
hậu khảo cổ22:34 23-11-2009
Tôi là tôi 23:42 22-11-2009
"Trong mọi mối quan hệ, nếu có chuyện không hay, bao giờ tôi cũng “xem” lại mình trước. Có lẽ nhờ thế mà dù có chuyện gì tôi cũng chưa từng tuyệt giao với ai. Mọi chuyện đã qua hãy cho qua, đừng giữ định kiến trong mình khiến mình khổ trước…Tuy nhiên nhiều lúc vẫn thấy chông chênh lắm, vì phụ nữ thường dễ tha thứ mà khó nguôi quên…"
Em đồng ý với chị!
hậu khảo cổ22:34 23-11-2009
Phụ nữ mình khi bị tổn thương thì vết thương khó lành. Tha thứ cũng là cách tránh đụng vào vết thương ấy nữa...
hậu khảo cổ 22:00 22-11-2009
hậu khảo cổ08:44 23-11-2009