Bài mới nhất

Sửa Đóng
Thư mục: karate |
Đăng ngày: 09:57 29-04-2009

Karate hay Karate-Do là một môn võ thuật truyền thống của vùng Okinawa (Nhật Bản). Karate chủ yếu được biết đến như là một nghệ thuật chiến đấu với đặc trưng là các đòn đấm, đá, cú đánh cùi chỏ/gối và các kỹ thuật đánh rộng khác. Tuy nhiên Karate vẫn có cú đấm móc, các kỹ thuật tay liên hoàn, các đòn khóa, chặn, quật ngã và những miếng đánh vào chỗ hiểm. Karate sử dụng kỹ thuật xoay hông để tăng sức mạnh của cú đánh, và kỹ thuật ép để tập trung lực vào thời điểm tác động của cú đánh

Trước đây, khi mới chỉ giới hạn ở Okinawa, môn võ này được gọi là Todei theo ngôn ngữ ở đây, và được viết là 唐手 (tangsho, Đường thủ, tức các môn võ thuật có gốc từ Trung Hoa). Vào thời Minh Trị, môn võ này bắt đầu được truyền vào lãnh thổ chính của Nhật Bản, thì chữ 唐手 được phát âm theo tiếng Nhật là Karate và giữ nguyên cách viết này. Tuy nhiên, do 唐手 thường bị hiểu không đúng là "võ Tàu", cộng thêm việc môn võ này thường chỉ dùng tay không để chiến đấu, nên người Nhật bắt đầu từ thay thế chữ 唐 bằng một chữ khác có cùng cách phát âm và mang nghĩa "KHÔNG", đó là 空. Tên gọi Karate và cách viết 空手 bắt đầu như vậy từ thập niên 1960. Giống như nhiều môn khác ở Nhật Bản (Trà đạo, Thư đạo, Cung đạo, Kiếm đạo, Côn đạo, Hoa đạo ...), karate được gắn thêm vĩ tố "Đạo", phát âm trong tiếng Nhật là "DO" (viết là 道). Vì thế, có tên Karate-Do.

Việc tập luyện Karate hiện đại được chia làm ba phần chính: kỹ thuật cơ bản ("Kihon" theo tiếng Nhật), Quyền ("Kata") và tập luyện giao đấu ("Kumite")

Kỹ thuật cơ bản (Kihon) được tập luyện từ các kỹ thuật cơ bản (kỹ thuật đấm, động tác chân, các thế tấn) của môn võ. Đây là thể hiện "mặt chung" của môn võ mà phần lớn mọi người thừa nhận, ví dụ những bước thực hành đòn đấm.

Kata nghĩa là "bài quyền" hay "khuôn mẫu" "bài hình", tuy nhiên nó không phải là các động tác múa. Các bài kata chính là các bài mẫu vận động và chiêu thức thể hiện các nguyên lý chiến đấu trong thực tế. Kata có thể là chuỗi các hành động cố định hoặc di chuyển nhằm vào các kiểu tấn công và phòng thủ khác nhau. Mục đích của kata là hệ thống hóa lại các đòn thế cho dễ nhớ dễ thuộc và những bài kata đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp tùy theo trình độ của môn sinh .

Tuy karate là một môn võ đối kháng nhưng khi bi tấn công các môn sinh karate vẫn chú trọng ở thế phòng thủ như vật , gạt đòn , khóa khớp ... để đối phương không còn tấn công nữa . Nếu đối phương còn nuôi ý đinh tấn công thì lúc đó môn sinh karate mới dùng những đòn tấn công

Một từ tổ hợp gồm “kara: không”, “te: tay” - “karate” là cách chiến đấu bằng "tay không" (không dùng vũ khí bên ngoài cơ thể) = môn võ tay không; sau karate thường có hậu tố “do” hiểu theo nghĩa tiếng Việt là đạo (đạo đức, cách thức). Karate đa dạng về kĩ thuật chiến đấu bằng tay không (đấm, đá, vật ,ném, bẻ, khoá,... ) và sự vững chắc về tinh thần. Nước nào cũng có nhiều môn võ tay không (karate); ở nhật, trước khi môn Karate được thành lập bởi Ghichin Funakoshi cũng đã tồn tại (và phát triển) nhiều môn võ tay không khác.
Sư tổ Ghichin Funakoshi từng nói “Karate chân chính là sự rèn luyện thể chất và ý chí trong cuộc sống hàng ngày dựa trên tinh thần khiêm tốn ham học hỏi và toàn tâm toàn ý hướng tới công lí, phục vụ cho công lí”.

(Môn sinh Karate Yoseikan Pháp)
Trong Karate, ý chí và kĩ thuật hoà làm một; luyện Karate gồm luyện về thể chất và luyện tinh thần và đối thủ thật sự là bản thân. Karate có nhiều hệ phái, 4 hệ phái lớn nhất là: Shotokan, Goju, Wado, Shito .Tuy nhiên , vẫn còn nhiều hệ phái nhỏ xuất thân từ bốn hệ phái chính này

1. Hệ phái Shotokan:

Lối đánh thấp, uy lực, phần hông vững vàng - khi di chuyển, hông phải giữ ngang tầm. Nhịp thở không được phát ra mạnh khi thót bụng. Những bước nhảy cũng đòi hỏi tính kỹ thuật nghiêm khắc chứ không mang tính thể dục

2. Hệ phái Wado-ryu:

Kết hợp Shotokan và Ju-jutsu (nhu thuật), lối chiến đấu luôn thay đổi và uyển chuyển là kỹ thuật quan trọng. Có 3 nguyên tắc trong Wado-ryu: Noru (phối hợp công thủ ở cùng động tác), Nagasu (hít thở) và Inasu (làm chệch hướng), giữ khoảng cách với đối thủ.
3. Hệ phái Shito ryu:

Nghệ thuật kata (bài quyền) rất cao, đầy tinh tế và tốc độ; kỹ thuật dựa trên tính linh hoạt của vùng hông và những chuyển động nhịp nhàng của cơ thể.

4. Hệ phái Goju-ryu:

“Go” (cương: cứng), “Ju”(nhu: mềm), kỹ thuật tạo khoảng cách cần thiết cho phép thực hiện những cú chặt, khóa và đòn tay khác một cách hiệu quả. Cơ thể như một động cơ chuyển động, lực tập trung nhiều ở cơ bụng - tập trung sức mạnh cho những cú đạp và đá.


Ở Việt Nam, môn Karate phát triển mạnh ở Huế từ những năm 60, võ đường Linh Trường Không thủ đạo của Võ Sư Suzuki tại chân cầu Đông Ba - Huế là tổ đường thân thương của nhiều thế hệ karateka Việt Nam. Từ đây nhiều VS đã thành danh (Khương Công Thêm, Nguyễn Xuân Dũng, Nguyễn Văn Dũng,...đặc biệt, có Ngô Đồng đã lập hệ phái Karatedo mang tên GoJu Karatedo Việt Nam (Cương Nhu Không thủ đạo) [ông là Tiến sĩ Ngành Côn trùng học, Viện trưởng Viện Đại học Quảng Đà trước 1975].

Tại tp HCM, Võ Sư Hồ Cẩm Ngạc là người có công lớn trong việc khai sinh Karatedo từ những năm 50; tại đây, từ trước 1975 đã có nhiều hệ phái Karatedo, nay đã thống nhất về hệ thống quyền căn bản theo kỹ thuật của Karate Shotokan.

Xem thêm

Thư mục

Xem ngày tháng

S M T W T F S
  1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28