|
Năm mười
một tuổi, trong một đêm theo người lớn bắt ếch ngoài đồng, lớ ngớ sao tôi theo
nhầm một đám người ra sông vượt biển. Khi lên ghe, có người hỏi, muốn vượt biên
họ cho theo, còn không cầm đuốc mà về. Tôi ngoảnh lại, sau lưng, ruộng đất tối
thui. Đường về phải băng ngang một gò mả lớn. Mới nghĩ tới, bắt rùng mình. Tôi
cầm đuốc liệng xuống sông, rồi nhảy phóc xuống ghe, kiếm một chỗ ngồi im chong
ngóc.
Mùa biển lặng, ghe xuôi gió tới Mã Lai. Hai tháng sau, văn phòng
Cao Ủy Tỵ nạn sắp xếp tôi sang Mỹ theo diện trẻ mồ côi. Một gia đình ở Georgia
nhận tôi làm con. Và tôi, đương nhiên coi Judy, con gái họ như em ruột. Lúc đó,
tôi không ngờ, con nhỏ này chính là người thay đổi cuộc đời tôi, chứ không phải
là thằng cha cho tôi cây đuốc.
Gia đình mới của tôi ở một thị trấn nhỏ,
miền Nam Georgia. Cha nuôi, một người đàn ông cao lớn, suốt ngày quần quật trong
nông trại. Mẹ nuôi, người ngoan đạo. Cuộc sống êm đềm, nhưng quen dần cũng đâm
chán. Chiều tan trường, tôi thích băng ngõ tắt qua cánh đồng khô sau nhà. ở đó,
tôi ngồi đợi nắng thoi thóp rồi tắt dần. Mặt trời lặn bên này để mọc bên kia.
Tôi hình dung ra chốn quê xưa. Ruộng đất trơ mình, đìu hiu gốc rạ. Những mái lá
đơn sơ. Con đường quê quanh quất. Tôi nhớ mẹ, nhớ em, tơi bời đứt ruột. Mãi khi
sập tối mới trở về. Cả nhà Judy nhìn tôi như người bước ra từ cơn mộng dữ. Cha
mẹ nuôi không nói, nhưng đôi mắt Judy nhìn tôi như hỏi không ngừng.
Có
lần, tôi đang khóc bị Judy bắt gặp. Nó ngó mây trời rồi hỏi, tôi thấy gì trong
đó. Đang lúng túng chưa biết trả lời sao thì tôi phát giác. Ráng chiều hất lên
mặt nó một màu rực rỡ. Tóc nâu óng, môi ngả màu mận chín. Trời ơi, còn đôi mắt.
Một chùm mây nhỏ lửng lơ đang trôi vào trong đó. Thấy tôi ngó sững, Judy hỏi.
Tôi nói, mắt mày sâu không thấy đáy. Nó cười chúm chím, cứ nhìn đi rồi sẽ
thấy.
Chúng tôi thân thiết như hai anh em ruột. Tôi dốt tiếng Anh, vào
lớp sợ bạn cười nên càng nói lặp. Về nhà, Judy dạy tôi từng chữ. Nó nắm tay tôi,
bắt nói từng câu, hai chữ rồi tăng dần ba, bốn chữ... Nó dẫn tôi ra đồng, ngồi
cách nhau một sào rạ để nói chuyện. Cốt ý tập tôi nói lớn, nói cho quen, để hết
cà lặp. Vốn liếng tiếng Anh của tôi hầu hết là Judy dạy. Chỉ có ba chữ “I love
you” là tôi dạy nó. Đó là năm tôi mười bảy, cũng ngay trên cánh đồng
này.
Mấy năm sau, cha nuôi bớt việc, ở nhà thường. Mẹ nuôi ngày càng
ngoan đạo. Cuối tuần, cả nhà đi lễ. Bọn con trai trong họ đạo thích Judy. Tôi
chê, mấy thằng vai u thịt bắp nhưng đầu óc trống trơn. Judy nói, còn anh ốm
tong, trông yếu xìu. Không phải đùa, nhiều lúc tôi thấy Judy nể họ ra
mặt.
Năm mười tám, tốt nghiệp trung học xong. Đám bạn như nghé tan bầy.
Tôi lên thành phố kiếm trường định vừa làm vừa học. Hôm về, thấy một đám bạn tới
nhà từ giã. Họ vào quân đội, sẽ học ở trung tâm huấn luyện Fort Benning gần đây.
Tôi nhăn mặt, đi lính cực lắm. Tụi nó nói, chịu đựng mười bốn tuần, hết thời tập
huấn là khỏe. Sau hai năm, vào đại học nhà nước đài thọ, nếu đi làm cũng được ưu
tiên. Thấy mặt tôi vẫn nhăn nhó, thằng John châm, tướng mày đi lính, vác súng sẽ
lùn đi. Cả đám cười ầm. Tôi nổi sùng bỏ đi một nước.
Buổi tối, Judy nói,
vừa học vừa làm cực khác chi lính. Chịu khó một thời gian coi như đi làm, sau
này giải ngũ, học không tốn tiền, lúc đó nó cũng lên thành học chung. Judy nói
nhiều, nhưng tôi chỉ hiểu một. Nó không muốn xa tôi. Chính điều này làm tôi cảm
động. Sáng hôm sau, tôi đến phòng tuyển mộ, điền đơn.
Trước ngày nhập
ngũ, tôi nhận tin nhà. Trong thư mẹ khóc, thằng con dại, người ta tốn tiền lo
trốn lính, sao mày lại đâm đầu vô chỗ chết. Còn cha mới ra tù lại ủng hộ. Nước
Mỹ mạnh, đi lính không gì sợ. Chính phủ họ thương quân đội, lính chết mấy chục
năm vẫn còn tìm.
Sáng hôm sau, mưa sụt sùi. Không gian dường nhuốm màu
tang. Cả nhà thức sớm để tiễn chân. Mặt Judy buồn hiu làm như tôi sẽ không
về.
Trung tâm Fort Benning cách thị trấn không xa. Trước cổng có chiếc xe
tăng chĩa súng lên trời. Cái trại này tôi qua lại nhiều lần, duy có lần này tôi
vào trại.
Chia tay mọi người trong phòng đợi, tôi mang hành lý theo người
điểm danh lên xe bus đến phòng tân binh. Xe qua trạm gác, mọi người nhìn ra.
Trại rộng hơn tôi tưởng, đường nhựa thẳng tắp, hai bên có bóng cây, sân cỏ. Nhà
cửa sơn trắng, cất kiểu chung cư, giống nhau như một. Người lạ vào, rất dễ
lạc.
Phòng tân binh là một hội trường, trước cửa có hàng chữ “Welcome to
the US Army”. Giữa khán đài có quốc huy hình con ó lớn, một chân quặp bó tên,
chân kia quắp nhành Olive. Hai bên treo cờ và la liệt đầy bằng khen, huy
hiệu.
Khi mọi người ngồi yên, một người sĩ quan đội nón bánh ú, cổ đeo
tu-huýt nhanh nhẹn bước lên khán đài. Ông tự giới thiệu là huấn luyện viên, tên
Bill Hawk, đại diện trại chào mừng các tân binh, đề cao những người tình nguyện,
xung phong phục vụ đất nước. Ca ngợi xong, ông trở giọng đe, quân trường không
phải là chiếc giường để những kẻ lười biếng, thất nghiệp đặt lưng. Mười bốn
tuần, thời gian biến người dân thành người lính. Ai còn do dự cứ tự tiện về. Ông
nhấn mạnh, “Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”.
Vừa dứt lời,
một người quân nhân cầm xấp giấy phát ra. Ông giải thích, đó là thời biểu khóa
học. Mười bốn tuần chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn một, hoàn tất thủ tục nhập
ngũ, học tập nội quy, kỷ luật, nhiệm vụ trong quân đội và thao diễn cơ bản. Giai
đoạn hai, tập bắn, sử dụng vũ khí. Giai đoạn ba, thực tập tác chiến và thi mãn
khóa. Không đủ điểm sẽ bị loại.
Tôi nhìn quanh, ai nấy chúi đầu vào thời
khóa biểu. Lịch trình dầy đặc, mỗi ngày mười hai tiếng, một tuần sáu ngày. Chủ
nhật nghỉ. Người có đạo, được lễ tại trường. Trong thời tập huấn, không phép ra
ngoài. Mọi hình thức thăm viếng bị cấm ngặt.
Tôi lấy bút dò từng hàng, cố
tìm giờ rảnh sẽ gọi điện thoại cho Judy. Thấy tôi mò mẫm, thằng ngồi kế vò tờ
giấy tròn vo, rồi vươn vai ngáp dài, “Lúc nào là lúc để thở, hả
trời?”
Bên trên, ông huấn luyện viên giơ cao thời khóa biểu, đọc rào rào,
“Bốn giờ ba mươi:tập họp, thể dục tại chỗ, nhận lệnh trong ngày. Năm giờ: điểm
tâm. Năm giờ mười lăm:tập họp, diễn hành. Sáu giờ: chạy. Bảy giờ: vượt chướng
ngại, tám giờ,... đến hai mươi mốt giờ: đèn tắt. Ngủ”. Thời khắc nghiêm nhặt.
Rồi ông dặn, trong quân đội khi nghe lệnh, lập tức thi hành. Chính xác. Mau lẹ.
Lệnh không lập lại. Nói xong, ông la lớn, “Tất cả rõ chưa?” Chúng tôi nói, “Rõ”.
Ông lắc đầu, chưa nghe. Mọi người đồng thanh, “Rõ”. Thật lớn, ông vẫn chưa chịu.
Đợi chúng tôi gào bỏng cổ, ông mới thôi.
Khóa tập huấn chia bốn nhóm. Mỗi
nhóm là một trung đội. Mỗi đội bốn mươi người, trực thuộc một huấn luyện viên
chịu trách nhiệm chính. Sĩ quan của trung đội tôi chính là Bill Hawk. Hawk là
diều hâu. Cái nhìn ông soi mói, giống cú hơn giống diều.
Hình như Bill
Hawk không biết đi, chỉ biết chạy. Ông dẫn đầu, cả đội lúp xúp theo sau. Chúng
tôi di chuyển tới lui nhiều chỗ, làm hồ sơ, khám sức khỏe, nhận đồng phục, sắp
xếp chỗ ăn ở đúng quy cũ. Doanh trại rộng, sợ lạc, sợ trễ, làm gì chúng tôi cũng
bảo nhau, nhanh chóng, lẹ làng. Chỉ hai ngày tôi đã hiểu, mình chìm lỉm. Quân
đội triệt tiêu đời sống cá nhân. Tập hợp, nhận lệnh, di chuyển, tới lui, ăn ngủ,
tan hàng,... đều răm rắp. Phải, kể cả tan hàng. Trong quân đội, tan hàng thật ra
chỉ là một hình thức sẵn sàng đợi lệnh. Nó là thứ tập hợp lỏng. Mỗi người như
một cơ phận, một con ốc, một chiếc đinh vít trong guồng máy khổng lồ. Điều quan
trọng, khi máy quay, người ta phải chạy vận tốc mới điều hòa.
Bài đầu
tiên trong quân trường tôi học là lúc chích ngừa. Con mẹ y tá cầm súng chích bắn
vào cánh tay mỗi thằng một phát. Thấy ai giật nẩy thì con mẻ lại cười duyên,
“Chỉ như kiến cắn, phải hôn nà?” Nhìn mấy thằng trước chích xong đi lẩy bẩy, tôi
chùn bước. Mẻ nhìn tôi nghiêm giọng, cứ trân mình chịu mới bớt đau. Tôi ngạc
nhiên đến nỗi bị chích hồi nào cũng không biết.
Đêm đầu tiên, tôi mất
ngủ. Nhắm mắt lại, nhưng tâm trí cứ lòng vòng ngoài sân trại. Chỗ này phát quần
áo, chỗ kia là cantin. Khiếp nhất là phòng hớt tóc. Cả đội xếp hàng chờ. Tới
phiên, tôi dặn, hớt ngắn hai bên tai và ót, nhưng phía trước làm ơn để dài một
chút. Thằng cha thợ gật lia lịa, ừ, ừ. Khi ngồi xuống, hắn gọt một đường tông đơ
từ sau ra trước. Đầu tôi có sọc như cái vỏ dừa. Nhớ lại, tôi vẫn ngờ, thằng cha
thợ... điếc. Sau này, tôi nhủ, sẽ hớt tóc ở ngoài.
Gần sáng, tôi kéo mền
lên đầu, đánh một giấc. Chỉ chút sau mền bung, tôi phát giác, mình khó ngủ vì
lạnh cái đầu. Tôi trùm mền kín mít, định dỗ giấc thì nghe tiếng hoét hoét ngay
đầu giường. Theo lịch trình, chương trình huấn tập bắt đầu vào tuần thứ hai.
Nhưng mới tờ mờ, Bill Hawk đã đem còi tới thổi. Trời còn tối đen, chúng tôi nhào
ra sân. Gió đêm đẫm mùi sương mơn lên da thịt. Cả trung đội, kẻ trước người sau
co giò, nhảy. Một hai, một hai, một hai,... có người nhắm mắt, đếm. Bill Hawk
không để ý chuyện này. Thể dục tại chỗ xong, ông đọc huấn lệnh. Đến năm giờ,
giải tán. Chúng tôi vào phòng điểm tâm. Bill Hawk không ăn. Ông cầm dùi cui đi
lòng vòng kiếm những kẻ ngừng nhai, la mắng, “Ăn, ăn, ăn”. Ăn cho no, mới đủ sức
tập. Sau này, tôi mới biết, đối với ông, khi ăn phải nhai, khi bắn phải trúng,
đó là cái đích để tới. Chuyện mắt nhắm hay mở, không cần thiết. Nói một cách
khác, nó ví như những vòng tròn đứng ngoài tâm điểm.
Ăn xong, chúng tôi
về phòng thay quân phục. Ngắm thử trong kính, tôi trố mắt, một thằng lính dữ tợn
cũng đang ngơ ngáo nhìn ra. Trời, tôi đó ư? Đang định thần nhìn kỹ, thằng Jones
nắm lưng lôi tôi ra ngoài. Nó vừa chạy vừa la, “Tập họp, tập họp”.
Chúng
tôi, bốn mươi thằng sắp làm tám hàng, mỗi hàng năm đứa. Bill Hawk ngậm còi,
nhưng không thổi. Ông rảo quanh, hàng dọc, rồi hàng ngang. Tới chỗ tôi, ông dừng
lại, ngắm. Tia nhìn sắc lẻm. Tôi ngây người, nín thở, bụng dạ rối bời. Cảm giác
như ai lấy mũi dao rạch chơi trên mặt, mày, mi, mắt. Xong, ông lướt qua, rồi
dừng lại chỗ một vài người khác. Sau cùng, rút danh sách, gọi tên. Tới ai, nấy
la, “Có”. Tôi để ý, trong đội ngoài thằng Lee gốc á, có một Mễ, một Cuba, số còn
lại toàn dân bản xứ.
Điểm danh xong, Bill Hawk nghiêm giọng nói, khi thực
tập mọi người phải cố gắng bằng chính sức mình. Mỗi người phải sống, chiến đấu
như một con sói cô độc. Không giúp đỡ, không bao che, không hợm mình. Tất cả đều
bình đẳng, mọi hình thức kỳ thị, bị cấm ngặt. Trong quân đội, mọi thứ phải đơn
giản, rõ ràng, như thắng và thua, như không và có. Phải loại trừ những thứ lưng
chừng. Ngôn ngữ quân đội cũng khác, ông không muốn nghe những chữ có lẽ, hình
như, thì là, tại, bị...
Buổi đầu, chúng tôi tập những động tác thao diễn.
Nghiêm. Nghỉ. Chào. Quay trước, quay sau. Sắp hàng, rồi tan hàng. Khi nắng lên
cao, chúng tôi bắt đầu diễn hành. Một. Hai. Ba. Bốn. Bill Hawk đếm trước, chúng
tôi đếm theo. Một. Hai. Ba. Bốn. Đếm mỏi, Bill Hawk lấy còi thổi. Một hồi sau,
không có tiếng còi, chỉ còn tiếng chân. Đội hình di chuyển nhịp nhàng. Chúng tôi
băng đồng cỏ, vượt qua ngọn đồi cao. Khi vòng về, đếm chán, Bill Hawk dạy chúng
tôi ca.
I’m just soldier, Sergant march for you. I’ ll not quit
until P.T. is through. That’ s turn me on. Must be army. That’ s make
me strong. One. Two. Three. Four. One. Two. Three. Four.
Chín giờ
sáng, chúng tôi từ đồi cao thẳng một đường vào lớp học. Giảng viên là một sĩ
quan, đội nón kết, đứng dang chân, tay chống nạnh, nghe báo cáo. Tôi nói lớn,
“Tiểu đội Một, báo cáo, Ron Nguyen, 9341, sir”. Ông thầy lừ mắt nhìn. Tôi mặc,
đi tới ghế, đàng sau quay, đặt đít xuống.
Khi tất cả ngồi yên, lớp học
bắt đầu. Ông thầy, tên Tom Selek, ngồi trên bàn chăm chú nhìn mọi người một lúc
rồi hỏi, tại sao chúng tôi vào quân đội? Câu hỏi tưởng dễ, mà hóa khó. Mọi người
bối rối. Không ai xung phong trả lời. Ông chỉ Jones. Nó ấp úng nói, nó vào quân
đội làm người lính để bảo vệ quê hương. Chúng tôi chịu Jones nhanh trí, trong
chớp nhoáng nó nghĩ ra câu trả lời đúng bài bản. Nhưng ông thầy chỉ nhếch môi,
cười chế diễu. Ông chỉ tiếp, Ted, người Cuba. Nó kể dài dòng, đại khái nhà nó
nghèo, lớn lên trong khu xã hội đen, đi lính để diệt kẻ xấu. Ông Tom cười ngất,
bảo nó lạc đường, nên vào cảnh sát mới đúng. Rồi ông chỉ Lee. Thằng này thành
thật nói, ba nó biểu nó đi lính. Ông Tom gật gù, mày đi lính để cha cầm súng,
phải không? Cả lớp cười ầm.
May, tới tôi thì ông Tom ngưng rồi phát tài
liệu. Tiếng lật giấy rào rào. Tôi đọc lướt qua từng đề mục. Ngoài những mục về
nhiệm vụ, nội quy, kỷ luật, còn có những môn phụ như toán, Anh ngữ. Ông bắt đầu
đọc từng phần. Kinh nghiệm chỗ nào nhiều người hỏi, ông ngưng lại giảng huyên
thiên. Trong khi nghe, tôi xoay thế, ngồi duỗi chân. Một cảm giác tê rần lan
truyền từ trên xuống dưới. Phải lợi dụng lúc học để nghỉ mới có sức chịu đựng
tới chiều. Mãi tới lúc ông Tom đứng nghiêm, đọc mẫu lời tuyên thệ, tôi nghe ở
cuối lớp có tiếng ngáy xen vào.
Ngay chiều đó, khi trở ra bãi tập, Bill
Hawk nói, tập diễn hành là tập làm dáng, một kiểu làm đỏm của quân đội. Biết
chạy, mới là hành động thiết thực. Nói xong, ông giơ ba ngón tay tức ba miles,
rồi rút còi ra thổi. Thằng Jim phản đối, mới ăn trưa xong, chạy nhiều vậy sẽ xóc
ruột. Bill Hawk hứ mũi, lập tức giơ năm ngón, năm miles. “Quân đội chỉ có tuân
lệnh, đó là kỹ luật. Phản đối ư? Tao còn nhiều ngón tay lắm”. Ông đắc chí nói.
Vài thằng tức, định đập thằng Jim thì nghe còi thổi. Chúng tôi lập tức tung mình
chạy. Nhiều thằng giữ hơi, chạy tà tà. Bill Hawk đuổi theo sau, lấy còi thổi vô
tai nghe điếc rái. Điểm đến là cánh rừng thưa. Vừa tới đích, nhiều thằng nhào
lăn ra đất, thở. Khi Bill Hawk tới, ông chê, chúng tôi chạy dở. Phải chạy sao
cho nhanh và bền. Trông chúng tôi bây giờ, sức đâu đủ trói gà.
Hai giờ
chiều, chúng tôi gặp lại Tom Selek. Ông đọc nội quy và kỹ luật quân đội. Trong
đó có nhiều mục. Ông nhấn mạnh tới Mười Một Điều Lệnh Tổng Quát. Người lính
trong mọi tình huống lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác để bảo vệ an ninh và tài
sản quốc gia. Chỉ điều này đã làm tôi nghĩ, một ngày làm lính, cả đời là
lính.
Ông Tom nói, nhiều người nghĩ, kỷ luật quân đội là thứ kỷ luật sắt,
người lính mù quáng tuân hành. Điều đó sai. Khi thấy cấp trên sai trái, người
lính có quyền phản đối. Ngày nay, quân luật được đặc biệt tôn trọng, không như
trước. Ông dặn chúng tôi, đừng tin vào những phim truyện chiến tranh. Toàn là
điều giả tưởng, mà Thượng đế chính là thằng cha đạo diễn.
Ba giờ, chúng
tôi trở ra sân, tập hít đất, ngồi bật, đu xà. Bill Hawk nói, đó là cách rèn
luyện thân thể dẻo dai, cường tráng. Phải tập thường xuyên, chúng tôi mới có thể
đạt, hít đất, hai mươi lăm; ngồi bật, bốn mươi lăm, đu xà, hai mươi cái. Đó là
tiêu chuẩn kỳ thi cuối khóa.
Bill Hawk thổi năm còi. Chúng tôi nằm sấp,
hai tay chống đất, dồn sức vào tay đưa mình lên. Được ba cái, nhiều thằng sụm,
nằm bẹp dí. Bill Hawk gọi, đó là những con gián. Ông bắt gián ra, buộc phải làm
lại, năm cái. Lần thứ hai, tôi làm bốn cái. Bill Hawk lắc đầu. Lần thứ ba, tôi
hít năm giữa tiếng reo hò cổ vũ của cả đội.
Khi tan hàng, Bill Hawk nhìn
tôi thương hại, phải cố lên. Cái nhìn làm tôi ghét. Về sau, tôi vẫn nhớ ánh mắt
thằng cha này.
Buổi tối, tắm rửa xong, chúng tôi có lớp tối dạy cách mua
sắm trong các BX. Đó là siêu thị trong quân đội. Giá rẻ, trả bằng tem phiếu, ghi
trong cuốn sổ nhỏ gọi là chit book. Giảng viên bảo, quân trường cung cấp đủ vật
dụng, chúng tôi sẽ lãnh đủ một lần vào cuối khóa. Quân lương chia theo ngạch, từ
E 1 tới E 10. Chúng tôi thuộc E 1, lương thấp nhất. Giảng viên an ủi, chẳng ai
đi lính mà khá. Tuy nhiên, quân đội là con đường mở rộng học vấn. Ai tham gia
các nhiều khóa huấn luyện, thăng ngạch cũng tăng lương.
Tám giờ, dọn
phòng. Phòng ngủ gọi là barracks, gồm hai mươi giường đôi. Chúng tôi vừa làm vừa
cãi lộn. Thằng Jim giường dưới, mở màn cự, tôi hay để mền thòng, nửa đêm dậy nó
giật mình tưởng ma. Cả bọn hoác miệng cười. Jones phân bua, đỡ hơn thằng Lee,
tối ngủ còn tập kungfu làm cái giường lắc như con tàu. Thằng Lee nổi cáu hét,
láo, láo. Jones hỏi, láo chỗ nào? Lee nói, không cần hỏi cũng biết, ở trong lớp
mày dóc, không biết ngượng. Cái gì gọi là người lính đi bảo vệ quê hương? Jones
cười hà hà, người Mỹ bảo vệ Mỹ, còn mày Tàu cớ chi lại vô đây? Câu hỏi đụng chạm
nhiều người. Lee chưa kịp trả lời, Jones đã bị chúng tôi mắng cho một mách. Kỳ
thị là vi phạm quân luật.
Chúng tôi im. Nhưng vấn đề cứ lảng vãng trong
đầu. Một hồi sau, đội kiểm soát tới xét phòng. Chín giờ, còi hú. Đèn tắt. Chúng
tôi ngủ. Bóng tối ngập phòng. Tôi mở mắt thao láo nhìn lên trần. Bên dưới, thằng
Jim cứ trở mình. Một hồi, nó gõ nhẹ thành giường. Tôi lú đầu thù thì, gì? Jim
nói, mày đi lính Mỹ, nếu có chiến tranh giữa hai nước, mày bênh bên nào? Tôi
trùm mền suy nghĩ rồi giả bộ ngủ quên. Câu hỏi là cái bẫy, mà trả lời sao cũng
dính.
Qua tuần sau, Bill Hawk nói, trước khi tập bắn, chúng tôi cần học
cứu thương. Bill Hawk đi khỏi, thằng Jones đùa, trước khi giết người, phải biết
cứu người.
Ở lớp quân y ra, Bill Hawk lại nói, biết cứu thương chưa đủ,
sau này, chúng tôi cần phải biết cách mưu sinh thoát hiểm.
Chúng tôi mang
súng, vác ba lô, đội nón sắt, chạy. Ban đầu chạy trên đồng cỏ. Về sau, tập chạy
trong rừng, nhảy qua chướng ngại. Hết chạy, tới bò. Bò lên đồi cao, chui qua rào
kẽm, dưới tầm hỏa lực. Những đêm có mưa, Bill Hawk làm dấu tạ ơn, rồi bắt chúng
tôi bò. Đạn của ban huấn luyện, không biết thật giả, xẹt qua đầu, đỏ ké. Chúng
tôi khiếp, bò sát đất. Thằng Jim nghi, không lẽ họ bắn mình bằng đạn thật? Thằng
Ted giơ súng làm bộ nhắm, ôm súng không đạn như ôm nhầm người không tim. Bò ra
tới ngoài, Bill Hawk trông thấy chúng tôi cười. Ông chửi một mách, rồi phạt cả
đội, làm lại từ đầu.
Tuần thứ ba, chúng tôi mang súng thật. Cầm, ôm,
mang, vác, nạp đạn,... lau chùi phải đúng quy cách. Ai lỡ tay, ông phạt ngay,
phòng những người bất cẩn. Tôi phát giác, mắt Bill Hawk sắc như diều. Nhiều
người nói, thằng cha này tinh lắm, ruồi bay qua cũng muốn bắt lại
dòm.
Sáng chiều đều có giờ bắn. Đây là môn chính, tính nhiều điểm nhất.
Tôi giơ khẩu M 16 nhắm, từ lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi sao thành một đường
trùng với tâm điểm. Tôi bắn mười, trúng một. Bill Hawk nói, cứ mười phát mà trật
một, họa may sống. Kiểu như tôi, ra trận, không có cơ bắn tới phát thứ mười. Tôi
làm thinh, lầm lì ghìm chặt súng. Bắn. Sức giật khiến nòng súng chếch, viên đạn
trệch một đường bay vút ra ngoài.
Tối ngủ, tôi nằm mơ. Những hình nhân
biết di động, biết cười nói xôn xao. Còn tôi ôm súng thật đứng trơ như bia gỗ.
Sáng dậy, đôi mắt cay sè. Tôi theo đám diễn hành như kẻ mộng du. One. Two.
Three. Four. One. Two. Three. Four. Má ơi, đừng khóc nữa, Con má, chưa
chết đâu. Con đi, vì sông núi. Cháy túi, con trở về.
Tôi giật mình.
Bài ca nhảm. Tôi liếc qua Bill Hawk, lại thấy ông ta cười.
Sáng hôm đó,
nụ cười của Bill Hawk đã làm tôi tỉnh ngủ.
Khi tới sân BRM, tôi ngắm
những bia người đứng bất động. Ngẫm nghĩ sao, tôi lo lắng nói, “Ra trận, tao sợ
tao không dám bắn người thật?” Thằng Lee nhìn tôi, ngạc nhiên, “Còn tao, chỉ sợ
người ta bắn mình”. Rồi nó nhún vai, “Chết cho đất nước này, thật vô lý”. Thằng
Ted Cuba, nhăn mặt, “Chết cho bất cứ nước nào cũng vô lý cả”.
Mấy ngày
sau, chúng tôi học về tác hại của những thứ vũ khí mới. Bom hạt nhân, bom sinh
học, và hóa học. Những loại tối độc và giết người hằng loạt với số lượng nhỏ,
khó khám xét. Để nhận diện, chúng tôi học thêm toán và Anh ngữ. Toán, học cách
cộng, trừ, nhân, chia, chấm tọa độ,... không máy tính. Các nguyên tắc đọc bí số,
ký hiệu trên các loại chất nổ, vũ khí,... để biết công dụng. Lớp Anh ngữ, dạy
chúng tôi hiểu ý nghĩa từ ngữ một cách chính xác, cách đọc bản đồ, và những ngôn
ngữ riêng của quân đội. Ví dụ, colors (màu sắc) nghĩa là cờ; cover (che đậy) là
nón, sickbay là bệnh viện. Thời giờ quân đội cũng khác, một ngày có hai mươi bốn
giờ, bảy giờ mười lăm tối phải nói mười chín mười lăm. Tôi nghĩ, mình biến đổi
như con ve đang lột xác.
Tới giữa khóa là thời gian khổ luyện. Chúng tôi
học cận chiến. Địch là đám người cây, đứng yên không nhúc nhích. Chúng tôi bò
sát đất, khi tới gần thì bật dậy, ào ào thét, “Xung phong”. Cả đội xông tới đâm
túi bụi vào đám người cây. Bill Hawk đứng đàng sau, nhào ra chửi, chúng tôi
điên.
Khó nhất là học leo dây, đi trên lưới, trèo tường, đu người từ trên
cao. Bãi tập gọi là Đài Chiến Thắng. Đài đóng bằng gỗ, trên có cầu treo, dây đu,
và nhiều xà ngang, xà dọc. Muốn lên, phải bám dây, dùng sức kéo cả thân mình.
Dây là loại thừng to, nắm đau tay. Nhiều đứa leo chưa tới đâu đã bị tuột. Bill
Hawk lấy roi đứng bên dưới quất vô giò. Chúng tôi sợ, phải gồng mình mới lên
được. Đài cao, từ trên nhìn dễ chóng mặt. Lên đã khó, xuống cũng không dễ. Chúng
tôi nắm dây, bung mình, thả từng chặn. Khi chạm đất, hai bàn tay rát bỏng, tê
rần. Chưa leo thành thục, Bill Hawk đã dạy cách đi dây.
Buổi tối, khi về
phòng, ai nấy đừ. Mình mẩy tôi rã rời. Không còn sức cãi nhau. Vừa đặt lưng,
chúng tôi đã ngủ say như chết.
Chúa nhật nghỉ. Sáng, tôi tốc mền dậy sớm.
Phải chạy nhanh ra phòng điện thoại để gọi Judy. Tôi không muốn đang nói chuyện,
có người sắp hàng chờ điện thoại. Khi băng ngang đài Chiến Thắng, nhác thấy bóng
người. Quái, ai đang tập giờ này? Tôi chạy tới gần, lom lom nhìn. “Hi. Ron”.
Thằng Lee đứng trên cao vẫy tay chào rối rít. Chưa kịp hỏi, nó đã nói, phải tập
nhiều cho quen. Ngưng một ngày, khi trở lại sẽ thấy khó như mới bắt đầu. Nó rủ
tôi tập chung. Thấy nó chịu khó, tôi không nỡ bỏ đi. Tập một mình thật dễ chịu.
Một lúc sau tôi nhận ra, không ai hối, tôi có thời giờ tìm thế nắm thích hợp, dễ
leo.
Trên đường về, tôi rủ nó ôn các tiếng lóng trong quân đội. Nó nói,
“Tiếng Anh rắc rối, đọc một đàng hiểu một nẻo. Sau này, cả thế giới sẽ nói tiếng
Tàu”. Thấy tôi kinh ngạc, Lee giải thích, “Người Tàu ở khắp nơi, sau này con
cháu chiếm đa số thì thế giới sẽ nói tiếng Tàu”. Tôi dè dặt nói, “Nhưng hiện nay
nước nào cũng học Anh ngữ là sinh ngữ phụ”. Lee cả quyết, “Đó chỉ là tạm thời,
điều tao nói là qua thời gian đó nữa”. Tôi chống chỏi, hỏi một câu ngớ ngẩn,
“Nhưng, trong lúc cả thế giới nói tiếng Anh thì người Tàu nói tiếng
gì?”
Chúng tôi gặp lại Tom Selek trước khi bước qua giai đoạn ba, tập hợp
đồng tác chiến. Ông dạy cách truyền tin, đánh mật mã, và nhận diện các đơn vị
bạn. Như Thủy Quân Lục Chiến, huy hiệu con ó đậu trên quả địa cầu, đàng sau có
chiếc mỏ neo gác tréo; Đội Đặc Nhiệm, mũ xéo xanh, huy hiệu là cây gươm vàng và
ba lằn chớp; Người Nhái, có con ó đậu trên mỏ neo,... Ngoài ra, chúng tôi còn
học những huy hiệu quân đội nước ngoài. Như Anh, tất cả huy hiệu đều có hình
vương miện; Nga, hình búa liềm; Trung Quốc, ngôi sao đỏ, chữ Tàu
bạc,...
Chúng tôi xem quá nhiều huy hiệu phát hoa mắt, một hồi không phân
biệt nổi. Tom chỉ, điểm khác nhau giữa quân đội của các nước không phải trên huy
hiệu mà ở trong nhà tù. Lính tư bản bắt mười tù nhân phát cho mười một điếu
thuốc, trong khi phe cộng sản chỉ phát chín. Cùng là cách dùng vật chất mua linh
hồn. Chỉ khác nhau, người mua rẻ, kẻ mua mắc, vậy thôi.
Chúng tôi nghĩ,
Tom Selek là một người hóm, luôn đặt ra những vấn đề cắc cớ để giải khuây. Còn
Bill Hawk như một bóng quạ, lúc nào cũng giơ vuốt giữa bầy gà. Gần cuối khóa,
ông càng khắc tợn. Buổi sáng, hai dặm trong mười lăm phút. Ai chạy chậm, phải
chạy lại từ đầu. Ông đưa ra tiêu chuẩn, bắt chúng tôi mỗi ngày phải thi thử. Mỗi
lần nghe phàn nàn, Bill Hawk mắng, tiền thuế dân đâu dư dả để trả cho mấy người
ngồi bẻ lóng tay. Tụi tôi nói, thằng cha này không phải diều mà là
cọp.
Cuối cùng, chúng tôi học pháo, cách phối hợp xe tăng, trực thăng, và
những đơn vị khác. Khóa học bốn trung đội, chia hai phe. Mục tiêu là cái chòi
gác trên đồi cao. Buổi trưa, trên đường tiến lên đồi, tôi gặp lại thằng John
cùng lớp đang nấp trong một lùm cây. Mới gặp nó hối hận, chửi thề, vào đây như
xuống địa ngục. Tôi lập lại lời nó hồi trước, chịu đựng mười bốn tuần, hết thời
tập huấn là khỏe. Sau hai năm cởi áo, làm dân. Nó thở dài, áo này như áo da, mặc
vào rồi khó cởi. Nói đến đây, nhác thấy Bill Hawk đang thị sát đàng xa, tôi định
chạy. Nó nói, ông Bill hiền, chứ không như thằng cha Tiger bên tao, nó dữ còn
hơn cọp.
Ngày mãn khóa, chúng tôi diễn hành quanh khán đài. Ban chỉ huy
trường mời các vị sĩ quan cao cấp về dự lễ. Tôi liếc qua hàng ghế dành cho quan
khách, Judy và cha mẹ nuôi cũng đang hướng về tôi.
Ban chỉ huy trường
tuyên dương và xướng tên tân binh mãn khóa. Chúng tôi được gắn ngạch và cấp
bằng. Từ giờ phút này, tôi đã là người lính, quân số 726256-B526 là tên. Tiếp
theo, chúng tôi làm lễ tuyên thệ, rồi tung nón bế mạc. Sau ngày tốt nghiệp, tôi
được một tuần phép trước khi trở lại nhận lệnh mới.
Tôi về nhà thay
thường phục rồi dẫn Judy ra cánh đồng xưa. Chúng tôi kể nhau nghe nhiều chuyện
và đuổi bắt như hồi còn thơ. Tới chiều, nắng đổ ngập cánh đồng. Mặt trời gay gắt
chói. Judy nép vào sau lưng tôi trốn nắng. Thấy áo đẫm mồ hôi, nó đưa môi ngậm
từng giọt như người Hồi nhấm nháp rượu quỳ.
Tuần phép trôi qua nhanh.
Trước ngày trở lại trường về đơn vị mới, Judy nói trông tôi thay đổi nhiều. Tôi
cười, nhìn vào kính, ừ. Trông tôi ốm, da đen đi, nhưng rắn chắc. Còn Judy, tôi
nhìn kỹ, trông hơi khác.
Chín giờ mười, ngày mười một tháng chín, chúng
tôi có lệnh tập hợp khẩn. Ban chỉ huy báo cáo tình hình. Một tổ chức khủng bố
tấn công hai tòa nhà chọc trời của New York và một góc lầu của Bộ Quốc Phòng.
Lệnh báo động toàn quốc. Quân nhân các cấp toàn ngành ở trong tình trạng sẵn
sàng. Không phận, hải cảng, đường biên giới đóng cửa. Cả đơn vị chờ đợi nhận
lệnh. Không khí đượm mùi chiến tranh.
Buổi chiều, đơn vị tôi được lệnh
điều động tới New York. Xưa nay, tôi vốn không ưa thành phố lớn. New York, nơi
mệnh danh “A thousand dreams for one parking place”. Máy bay quân sự bay một
vòng. Khói mù mịt. Bên dưới, một đống gạch đổ cao như một núi hoang tàn. Trái
tim tôi như thắt lại từng hồi.
Trung đội tôi chia nhau đóng một ngã phố.
Chúng tôi căng dây, giăng chướng ngại vật ngăn từng khu. Những người dân cầm cờ
đứng hai bên lề hoan hô người lính. Tôi cảm động, hơi xấu hổ. Chúng tôi là lính
mới, chưa làm gì để được hoan hô. Tôi nhìn những đoàn người thiện nguyện, làm
việc ngày đêm, nhặt những mảnh thi hài mà cảm phục.
Buổi tối, con phố
không ngủ. Nhiều người mang khung ảnh thân nhân, xuôi ngược trên vỉa hè. Gặp ai,
họ cũng hỏi. Những câu hỏi vang lên như điệp khúc.
Tôi đứng canh giữ hiện
trường. Và tưởng tượng hàng trăm chuyện tình trong tòa nhà đổ nát. Mà chuyện nào
kết thúc cũng giả sử nạn nhân là tôi hoặc Judy. Để sáng mai tôi gặp lại những
người không may, vừa mừng vừa thương hại. Tôi hạnh phúc vì tôi có tình yêu. Như
người đang đứng ngoài ánh sáng, mà Judy chính là người cầm đuốc mang
cho.
Đến sáng, thay phiên gác, tôi quyết định gọi về nhà. Mẹ nuôi bốc
điện thoại, mừng rỡ, “Con khỏe không? Em nó đi chơi biển với bọn thằng Tim. Chưa
nói với con à?” Tôi không tin ở lỗ tai mình. Hôm qua, Judy mới nói đi cắm
trại ở trường. Lẽ nào? Tôi đứng lại bên đường. Nắng ban mai đã vàng bên kia
phố.
|
Hoc Tieng Anh CLUB 09:41 29-10-2009
hoangyen vy 19:44 23-10-2009
deptraithithoiroi20:04 23-10-2009