Chào bạn! Rất vui vì bạn đã vào thăm Nhà của tôi:-)

Tâm trạng

Đóng

Tâm trạng

Từ 30-09-2009 đến 26-11-2009

Danh sách bài đã đăng

Sửa Đóng
Thư mục: Lịch sử |
Đăng ngày: 21:34 07-09-2009

THANH HOÁ DƯỚI CÁCH NHÌN CỦA NGƯỜI TỈNH NGOÀI

 Bản đồ thanh Hoá 4.000 năm không đổi

 

Thanh hoá "Quê ta"

Khu Bốn đuổi ra, Khu Ba đuổi vào
Bỏ chạy sang Lào, Lào không thèm nhận.
Bực mình tức giận, lập quốc gia riêng
Thủ đô thiêng liêng, là huyện Nông Cống
Quốc ca chính thống, là "dô tá dô tà"
Nông nghiệp nước nhà, toàn cây rau má.
Biển khơi lắm cá, mười mẻ một cân.
Vang tiếng xa gần, nem chua toàn lá.
Còn công nghiệp hoá, là phá đường tàu.
Đục ống dẫn dầu, cắt dây điện thoại
Thiên nhiên ưu đãi, lũ lụt triền miên.
Có nhiều nhất miền, là đất pha cát.
Rừng xanh bát ngát, là rặng phi lao.
Gió mát rì rào, là gió Lào nóng hổi.
Công trình nổi trội, vượt cả núi non.
Có cái cầu con, gọi là cầu bố.
Mấy cây lố nhố, thì gọi rừng thông.
Núi to bỏ ông-Gọi là núi Chẹt.
Núi bằng cái mẹt-Gọi là núi Voi

Ai đến mà coi-Quốc gia Thanh Hoá

Công nghiệp bứt phá-Là phá đường tầu
Mục tiêu hàng hàng đầu: Luồng, lang, lạc, lá

Làm ăn khấm khá trong nhiều chữ L.

Cái cầu đơn xơ gọi là cầu Bố
Hàng cây lố nhố gọi là rừng thông

Con gái chưa chồng, đặt vòng tránh đẻ.

Thanh niên trai trẻ, lại sớm về hưu.

Làng xóm tiêu điều: Nông thôn đổi mới !
Quốc ca truyền thống “Dô tả dô tà”
'Tích cực tăng gia-Trồng tòan rau má
Dựa vào vách đá-Bắn được máy bay'
Đàn lợn thả ngày- "kinh tế hiện đại"
Mấy bà đứng đái "thuỷ lợi tưới tiêu"
Phá đường tàu nhiều, rau không kịp mọc

Trẻ con đi học, thường Nắm đuôi trâu

Tiết kiệm xăng dầu, bơi qua sông Mã......

Rồi họ còn xuyên tạc bài hát:

Các cụ dân quân Thanh Hóa

“Hôm qua mưa rất to
Các cụ cởi truồng đi bắt cá rô
Cá quẫy đằng đông,
Các cụ bắt đằng Tây
Hỡi dô trên đất này
Có cụ già đi bắt cá rô

Tuổi cao chí càng cao, răng càng lung lay
Không nhai được cháy nữa rồi
Sóng vỗ vào mông,
Các cụ rụng hết cả lông
Hỡi dô trên đất này
Có cụ già ấy không có lông
Thế có tức không

Huân chương không lấy đâu
Các cụ bảo rằng thịt trâu dễ chia
Máy bay đằng Đông,
Các cụ giương súng đằng Tây
Hỡi dô trên đất này
Có cụ già bắn rơi máy bay
Hết xăng”

Rồi họ còn hát dân ca Thanh Hoá

bôi bác ước mơ của con cháu quê choa:

Mơ ước cao của “con” người Thanh hóa

“Dô tá, dô tà”
Năm nay sẽ được mùa rau má lớn
Tàu rau má, to bằng tàu lá sen

“Dô tá, dô tà”
Nhà 7 người chỉ cần xơi một lá
Là đủ no liên suốt hết cả tuần

“Dô tá, dô tà-dô khoan, dô hầy

ơi dô khoan ta dô khoan”-Thế có sướng không

 

Ước mơ lớn của “cháu” người Thanh hóa

“Dô tá, dô tà”
Năm sau sẽ được mùa rau má nữa
Tàu rau má, to bằng tàu lá chuối

“Dô tá, dô tà”
Nhà 7 người chỉ cần xơi một lá
Là đủ no suốt hết cả tháng ròng

“Dô tá, dô tà-dô khoan, dô hầy

ơi dô khoan ta dô khoan”-Thế đã sướng chưa

NGHE THƠ: THANH HOÁ QUÊ CHOA TỰ ĐÁNH GIÁ MÌNH

http://farm2.static.flickr.com/1294/906276948_13b979d30c.jpg

Quê choa Thanh Hóa đẹp tuyệt vời,
Có dòng Sông Mã lặng lờ trôi,
Có hàng tre nhỏ bao làng xóm,
Có cánh chim câu liệng giữa trời.
Ấy thế mà!
Họ bảo choa: dân ba tỷ bảy,(Nợ NN năm 1985)
Họ bảo choa: dân cạy đường tàu,
Họ bảo choa: chỉ thích thịt trâu,
Chia cho dễ huân huy chương không thích.
Chuyện hàng ngày choa đâu có trách,
Cãi cọ tép, tôm khu nọ, khu kia.
Một dải non sông, choa đâu muốn phân chia,
Mà họ bảo choa, thích lập vương quốc mới.
Đẩy vào đẩy ra, đẩy sang Lào không nổi,
Tức giận trở về định lập quốc gia riêng.
Cuộc đấu tranh chống Mỹ thiêng liêng,
Các bô lão choa bắn rơi thần sét.
Họ lại bảo choa: súng trường đì đẹt,
Vớ giặc lái mù, lại lúc hết sạch xăng.
Họ lại bảo choa: ăn nói lăng nhăng,
Làm ăn lớn – thả rông cho lợn chạy.
Họ bảo choa: dân ba tỷ bảy,
Bởi làm ăn trông vào sáu chữ lờ
(Lợn, lúa, lang, luồng, lạc, lá)
Nhắc nợ hoài vẫn cứ làm ngơ,
Ruộng đất lắm, mà suốt đời tất bật.
Đào rau má mà làm cho tàu bị lật,
Cái cầu cỏn con thì bảo là to.
Bằng cái quạt mo mà gọi là cầu bố,
Có cái đồi thông mấy cây lố nhố,
Mà cứ khoe khoang gọi đó là rừng,
Họ nói nhiều, choa đâu dám dửng dưng,
Không có lửa thì làm sao có khói,
Họ dèm pha, cũng làm mình nhức nhối.
Tự ngẫm quê mình sao vẫn cứ nghèo xơ,
Đất tỉnh Thanh – một miền đất nên thơ.
Có biển mênh mông, trải dài theo đất nước,
Rừng bạt ngàn đến tận vùng Bá Thước.
Mỏ Crôm Cổ Định trữ lượng giàu,
Hàm Rồng hiên ngay hùng vĩ những nhịp cầu,
Vẫn kiêu hãnh vắt qua dòng sông Mã,
Sông Suối nên thơ vẫn trôi về biển cả,
Đã trở thành huyền thoại đất tỉnh Thanh,
Một dòng sông nảy lửa chiến tranh.
Vùi đáy sâu biết bao tàu bay Mỹ,
Ai đã đến đất Thanh rồi nhỉ?
Có ngỡ ngàng không?khi đến đất nơi này.
Thị xã tranh nghèo nay đã lắm đổi thay,
Một thành phố nguy nga và tráng lệ.
Du khách đổ về nhiều không đếm xuể,
Khao khát hè về nghỉ mát biển Sầm Sơn.
Ôi ! Sầm Sơn, còn đâu nữa đẹp hơn?
Trai, gái đến không muốn rời xa nữa,
Biển đẹp hiền hòa như vòng tay mẹ.
Giang rộng đón con ôm chặt vào lòng,
Đến đất Thanh rồi thấy có tuyệt vời không???

http://vietnamfreedomtour.com/vn/images/uploads/Product/samson1.gif

Bay có biết rằng trong lịch sử cha, ông

Dân Thanh Hoá quê choa đều làm vua cả đó

Từ Tiền Lê-Hậu Lê-đánh tan Nhà Mạc nữa

Rồi Hồ Qúi Ly-đến Minh Mạng-Gia Long

Họ Trịnh-Nguyễn quê choa cũng làm chúa 200 năm

Nhưng do dưới vua nên quê choa không tính.

Văn nhân, Đại thần quê choa nhiều vô kể

Bởi đất nhiều Rồng nên chẳng thể sống chung

Phải vào đàng trong ở cùng “đồ xứ Nghệ”

Bởi thế nên quê choa mới bị người ta chế:

"Xứ Thanh quen Cậy thế để Xứ Nghệ cậy thần"  

Những đứa con xa quê, nghe chớ bần thần

Bởi bản chất của dân quê choa là vậy đó.

Yêu nước, cần cù và cũng rất Trung Quân
Hãy nhớ đất mẹ nghèo nuôi thân mình khôn lớn,
Và phải biết mẹ trải quá nhiều đau đớn.
Vất vả và khổ rồi nên càng lớn, càng yêu,
Ta yêu tổ quốc Việt Nam bao nhiêu,
Càng tự hào nhiều vì mình Quê Thanh Hóa.

http://www.phuot.com/forums/imagehosting/139475fb72303feb.jpg

ĐIỂM LẠI LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA NGƯỜI QUÊ CHOA

1/Thời đồng đá

Văn hoá Hoa Lộc là văn hoá từ đá chuyển sang đồng được chia làm 3 giai đoạn: Cồn Chân Tiên, Ðông Khối và Quì Chử cách ngày nay 4.200 năm.

Hoa Lộc thuộc huyện Hậu Lộc gồm di vật Ðá mới hoàn hảo, mài dũa mịn màng tất cả các mặt, đặc biệt có lưỡi cuốc đá, có thể có cả lưỡi cày đá, các đồ gốm có trang trí và nung chín là nồi niêu, bát đĩa đủ loại. Cồn Chân Tiên ở sát chân phía Ðông Nam núi Ðọ, thuộc xã Thiệu Khánh (Thiệu Hoá) là một di chỉ Văn hoá Hoa Lộc quan trọng, được coi là cốt lõi mở đầu việc hình thành bộ Cửu Chân trong đất nước các Vua Hùng xa xưa. Ðông Khối (xã Ðông Cương, thành phố Thanh Hoá) là di chỉ công xưởng chế tác đá phong phú và rộng lớn nhất ở Việt Nam thuộc thời đại Ðồng thau cách nay 3.100 năm. Quì Chử (xã Hoằng Quì, Hoằng Hoá) là di chỉ có nhiều chiến cụ như rìu cân, rìu xéo, mũi giáo, mũi lao và mũi tên bằng đồng có trang trí bằng hoa văn đúc nổi, có cả các dụng cụ để nấu và đúc đồng. Di chỉ Ðông Sơn (nay thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hoá), thời Ðồng Thau là quan trọng nhất trong khảo cổ học Việt Nam, nổi tiếng trên thế giới, được đặt tên cho nền văn hoá Việt Nam ở giai đoạn cách đây 2.820 + 60 năm. Lần đầu tiên ở Việt Nam, có một nền văn hoá bao trùm một địa bàn cỡ quốc gia từ Hoàng Liên Sơn đến miền Nam Việt Nam, đó là nền Văn hoá Ðông Sơn. Riêng ở Thanh Hoá, đồ đồng Ðông Sơn đã có mặt khắp mọi miền trong tỉnh, cho tới tháng 7/1986 đã phát hiện 85 di tích. Ðồ đồng Ðông Sơn đã gồm đủ bộ công cụ, chiến cụ và nhạc cụ của người nông dân đương thời, trước khi có máy móc. Trên các đồ đồng này đều có khắc chạm đúc nổi các hoa văn trang trí, đặc biệt là các hình vẽ mô tả sinh hoạt văn hoá của người Việt thời bấy giờ. Thời Ðông Sơn, nghề dệt vải rất phát triển, chất lượng sản phẩm rất tốt, đẹp, di vật còn đến tận ngày nay. Chuôi kiếm đồng là cả một pho tượng mô tả người phụ nữ vừa đẹp về kiểu dáng vừa tiện cầm nắm. Trống đồng Ðông Sơn là nhạc khí đẹp nhất, âm lượng tốt nhất và có kích thước lớn nhất trong các di vật thời đại Ðồng Thau, Thanh Hoá là nơi phát hiện 80% số lượng các trống đồng có ở Việt Nam và thế giới. Như vậy, Thanh Hoá có những di chỉ sau đây được đặt tên cho các nền văn hoá khảo cổ: Núi Ðọ (đá cũ), Ða Bút (đá mới), Hoa Lộc (đồng đá) và Ðông Sơn (đồng thau). Bộ Cửu Chân mà lãnh thổ được xác định đầu tiên và không thay đổi của tỉnh Thanh Hoá là một trong 15 bộ của sự phân chia hành chính của thời các vua Hùng, về sau là quận, châu, trấn ở thời xưa và là tỉnh ngày nay. Ðịa danh Cửu Chân cùng với văn hoá thuần Việt Ðông Sơn còn kéo dài được nhiều thế kỷ sau Công nguyên, từ cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (thế kỷ III sau CN) cho mãi đến thế kỷ X, những người xuất thân từ xứ này đều được gọi là người Cửu Chân.

2/Cuộc khởi nghĩa của Chu Ðạt (156 - 160)

Năm 156, Chu Ðạt, người huyện Cự Phong (nay là Phú Hào, xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn) chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cự Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia và Như Xuân, Như Thanh ngày nay) giết chết huyện lệnh rồi tiến công Tư Phố, giết chết thái thú nhà Ðông Hán, lực lượng có đến 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160.

3/Cuộc khởi nghĩa bà Triệu (Triệu Thị Trinh) năm 248

Từ năm 220, Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Ðông Ngô (một trong 3 nước thời Tam Quốc), trong xứ không kể Nghệ An, Hà Tĩnh nữa, có chừng 3 vạn hộ. Bà Triệu tức Triệu Ẩu, Triệu Thị Trinh, người Quân Yên (huyện Yên Ðịnh), 20 tuổi, lập căn cứ ở Núi Nưa (Triệu Sơn), hội quân với 3 anh em họ Lý ở Bồ Ðiền (tức Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc) cùng tiến đánh quận sở Tư Phố đại thắng. Hầu hết các huyện lỵ, thành ấp ở Cửu Chân, Cửu Ðức, Nhật Nam (2 quận nay là vùng Nghệ Tĩnh - Quảng Bình) bị nghĩa quân đánh hạ, các thái thú, huyện lệnh và huyện trưởng bị giết... nền đô hộ của nhà Hán ở Giao Châu hơn 330 năm bị lật đổ.

4/Thời nước Vạn Xuân, Lý Nam Ðế (542 - 556)

Mùa xuân 542, Lý Bí - mẹ đẻ là người Cửu Chân, khởi nghĩa thắng lợi, lập ra nước Vạn Xuân xưng là Lý Nam Ðế. Nhà Lương đàn áp. Lý Thiên Bảo là anh ruột Lý Bí rút về Dã Năng (huyện Bá Thước ngày nay) xưng là Ðào Lang Vương tiếp tục kháng chiến. Sau đó Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay tức là Hậu Lý Nam Ðế. Năm 556, Lý Phật Tử đánh nhau với Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục - người tiếm ngôi của Lý Bí và là người đánh bại quân đội nhà Lương ở đầm Dạ Trạch - Quang Phục thua Phật Tử, chết ở cửa biển Lạch Trào (tức Cửa Hới ngày nay).

5/Cuộc khởi nghĩa của Lê Ngọc (đầu thế kỷ VII)

Lê Ngọc (còn gọi là Lê Cốc) cùng với 4 người con lật đổ quan cai trị của nhà Tuỳ (Trung Quốc) đóng ở Ðông Phố (tức Ðồng Pho, xã Ðông Hoà huyện Ðông Sơn ngày nay), gọi là kinh đô Trường Xuân, tự quản Cửu Chân chống lại nhà Ðường cho đến đầu thế kỷ VI. Ðến thế kỷ VII, Cửu Chân gồm 6 huyện có 16.100 hộ (quận Giao Chỉ có 30.000 hộ) khoảng 84.000 nhân khẩu, thuộc xứ An Nam (tên An Nam thay cho Giao Châu bắt đầu từ đây). Quận sở là Ðông Phố (tức là Ðồng Pho). Năm 759, quân Mã Lai cướp phá Châu ái (tên gọi Cửu Chân từ năm 523) bị quan cai trị là Trương Bá Nghi tiêu diệt. Năm 797, quân Mã Lai lại cướp phá Châu ái nữa, xây cả thành, lập nước, nhưng bị quan cai trị là Trương Châu đánh đuổi, san phẳng thành trì thu hồi mọi của cải. Thế kỷ IX, Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo đã rất phát đạt ở Châu ái. Ðạo Nho có anh em Khương Công Phụ, đỗ Tiến sỹ làm quan đến Tể tướng triều đình nhà Ðường, đạo Lão biến các hang động đẹp nhất ở khắp Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn làm nơi tu tiên và đạo Phật có các Ðại hoà thượng như Trí Hành và Ðại Thăng Ðăng sang tận Trung Quốc để hành đạo.

6/Thời Dương Ðình Nghệ (? - 937)

Dương Ðình Nghệ, chính khách quan trọng nhất thế kỷ X của lịch sử Việt Nam, thu hút hơn 3.000 người làm vây cánh ở làng Giàng, Tư Phố (nay là đất các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hoá), trong đó có Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng... Tháng 3 năm 931, Dương Ðình Nghệ đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán (Trung Quốc), tiêu diệt viện binh Nam Hán, tự lập làm tiết độ sứ, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ hơn 1.000 năm của người Trung Quốc ở Việt Nam. Từ Dương Ðình Nghệ, Việt Nam xác định lại được quốc thống của một đất nước độc lập hoàn toàn.

7/Thời Ngô Quyền (938 - 968)

Mùa đông năm 938, Ngô Quyền đem quân đội Cửu Chân tiến ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn - kẻ phản bội họ Dương ở Ðại La (Hà Nội ngày nay), rồi cản phá quân Nam Hán Lưu Hoàng Thao trên sông Bạch Ðằng, lên ngôi vua tức Ngô Vương Quyền. Thời 12 sứ quân, Cửu Chân nằm trong vòng kiểm soát của Ðinh Bộ Lĩnh ở miền Ðông và của Ngô Xương Xí - cháu nội Ngô Quyền, ở Bình Kiều (đất vùng Triệu Sơn ngày nay) tức miền Tây lãnh thổ.

8/Thời Ðại Cồ Việt - Tiền Lê (968 - 1009)

 Năm 979 - 980, Lê Hoàn trấn áp xong quân chống đối của Nguyễn Bặc và Ðinh Ðiền ở vùng sông Tống (vùng đất huyện Hà Trung ngày nay) lên ngôi vua . Năm 981, ông đánh tan quân xâm lược nhà Tống, và năm 982 đánh thắng quân Chiêm Thành. Năm 982, nhà vua cho nạo vét các sông ngòi, đào kênh nối liền hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng cho đến vùng đất tỉnh Nghệ An ngày nay, thành một đường giao thông thuận tiện đầu tiên ở Cửu Chân và ở cả đất nước Ðại Cồ Việt. Người chỉ huy đào các kênh này là Ðào Lang, làng Bùi Ðỉnh (xã Yên Trung huyện Yên Ðịnh ngày nay). Từ năm 999 đến năm 1005, các vua tiền Lê phải trực tiếp điều quân bình định miền viễn tây Thanh Hoá nhưng chưa ổn.

9/Thời Nhà Lý (1010 - 1225)

Năm 1111, Cửu Chân đổi làm phủ Thanh Hoá. Tên Thanh Hoá bắt đầu có từ đây (Thanh: trong sạch; Hoá: biến hoá), dời lỵ sở từ Ðông Phố đến Duy Tinh (vùng đất các xã Văn Lộc, Mỹ Lộc, Thuần Lộc huyện Hậu Lộc ngày nay). Ruộng đất Thanh Hoá bắt đầu bị nhà vua lấy ban cho các đại thần dưới dạng phong ấp. Ðó chính là chế độ phong kiến hình thành ở nước ta.

10/Thời nhà Trần (1226 - 1400)

Tháng giêng năm Thiệu Long thứ XV nhà Trần (năm 1272), Lê Văn Hưu, người làng Bồi Lý (xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá ngày nay) dòng dõi Lê Lương, soạn xong Ðại Việt sử ký toàn thư - bộ sử hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta.

Lê Văn Hưu được tôn là ông tổ ngành sử học của Việt Nam . Ðầu năm 1285, kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, ở Thanh Hoá, quân đội nhà Trần do Trần Kiên, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ huy chống giữ cầm chân giặc, ở các điểm Yên Duyên (xã Quảng Hùng), núi Ðá Chẹt (Quảng Lĩnh), Vân Trinh (Quảng Hợp), Bố Vệ (thành phố Thanh Hoá), Phú Tân (Hà Toại), Nga Lĩnh, Quang Lộc, Liên Lộc, chiến sự rất dữ dội. Sau khi tướng Nguyên: Toa Ðô tiến được ra sông Hồng thì Hưng Ðạo Vương lại đem 2 vua Trần rút vào Thanh Hoá (ở các vùng Nga Sơn, Hà Trung, Thạch Thành ngày nay) để bảo toàn đầu não. Ðến tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hoá, Hưng Ðạo Vương tiến quân ra Bắc quét sạch quân Nguyên Mông khỏi bờ cõi Ðại Việt. Năm 1370, dòng họ Lê ở Ðại Lại (Ðò Lèn, Hà Ngọc huyện Hà Trung) do Lê Liêm cầm đầu hội quân Thanh Hoá tiến ra Thăng Long phế bỏ người tiếm ngôi Dương Nhật Lễ, lập lại nhà Trần bằng vua Trần Phủ - tức Trần Nghệ Tôn - nhà Trần từ đây thiên vào Thanh Hoá. Năm 1378, quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hoá bị quan quân nhà Trần trấn giữ đánh bại. Năm 1380, quân Chiêm Thành do đích thân vua Chế Bồng Nga chỉ huy lại vào cướp Thanh Hoá bị Hồ Quí Ly đánh bại ở cửa sông Ngu (tức Lạch Trường, Hoằng Trường ngày nay). Năm 1382, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, bị Nguyễn Ða Phương đánh bại ở cửa Thần Ðầu (tức Thần Phù, huyện Nga Sơn ngày nay). Năm 1389, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, Hồ Quí Ly chống không nổi phải bỏ chạy. Quân Chiêm Thành tiến ra Bắc. Năm 1390, tướng chỉ huy nhà Trần ở Thanh Hoá là Trần Khát Chân cản phá được quân Chiêm Thành, giết chết Chế Bồng Nga, chấm dứt vĩnh viễn sự quấy rối của các vua Chiêm Thành.

11/Thời nhà Hồ (1400 - 1407)

Mùa xuân năm 1397, xây dựng xong thành đá Tây Giai ở động Thiên Tôn (nay là đất xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc). Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quí Ly lên ngôi vua ở thành này, thay nhà Trần, đổi tên nước là Ðại Ngu (nghĩa là rất an vui và cùng lo việc nước), bỏ kinh đô Thăng Long, lấy thành đá mới làm quốc đô gọi là Tây Ðô. Nhà Hồ phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng đúc từ năm 1396, đến năm 1400 định lại giá kim ngạch cho thêm chặt chẽ. Năm 1402, nhà Hồ hoàn thành việc xây dựng con đường Thiên Lý từ Tây Ðô ra Ðông Quan (tức Thăng Long cũ) và từ Tây Ðô vào Hoá Châu (vùng Quảng Bình ngày nay) dọc đường đặt nhà trạm, phố xá và bưu dịch có hệ thống. Sau một năm chiến đấu ngoan cường nhưng thất bại, năm 1407, nhà Hồ và nước Ðại Ngu mất vào tay quân xâm lược nhà Minh.

Ghi chú:Theo gia phả họ Hồ, tổ tiên Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang (Trung Quốc), đời Hậu Hán thời Ngũ đại Thập quốc (năm 947-950), tương đương thời Dương Tam Kha của Việt Nam, sang làm Thái thú Diễn Châu và định cư ở hương Bào Đột nay là xã quỳnh lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đến đời nhà Lý, có người trong họ lấy công chúa Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan. Đời cháu thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại, Thanh Hóa, làm con nuôi tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình. Quý Ly là cháu bốn đời của Lê Huấn. Ông có hai người cô đều được vua Trần Minh Tông lấy làm cung phi và đều trở thành mẹ hai vua nhà Trần, do đó ông sớm được đưa vào làm quan trong triều đình nhà Trần.

12/Cuộc kháng chiến 10 năm chống nhà Minh(1418 - 1428)

Mùa xuân, tháng Giêng ngày mồng 2 năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với những người tài giỏi trong cả nước khởi nghĩa ở Mường Chính (nay là huyện lỵ Lang Chánh) tiến về Khả Lam (tức Lam Sơn) bắt đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) giải phóng đất nước. Lê Lợi xưng là Bình Ðịnh Vương, người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân). Bình Ðịnh Vương chiến đấu ở Thanh Hoá 6 năm, các trận đánh lớn diễn ra ở Lam Sơn, Mường Một (vùng Bát Mọt, huyện Thường Xuân ngày nay), Mường Chính, Bến Bổng (vùng thượng du sông Âm), Ba Lẫm (vùng Chiềng Lẫm, huyện Bá Thước ngày nay), Kình Lộng (vùng Cổ Lũng, huyện Bá Thước),úng ải (vùng đèo Thiết ốvùng đèo thiết ống, huyện Bá Thước), Sách Khôi (ở khoảng giữa huyện Bá Thước và huyện Hoàng Long - Ninh Bình và huyện Thạch Thành - Thanh Hoá), Ða Căng (vùng Thọ Nguyên, Thọ Xuân), có trận phía địch có tới 10 vạn quân như ở Kình Lộng. Mùa đông năm 1424, Bình Ðịnh Vương tiến quân vào Nghệ An theo kế sách của Nguyễn Chích. Mùa thu năm 1426, quân khởi nghĩa tiến ra Bắc bao vây Ðông Quan. Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), Bình Ðịnh Vương đến Lỗi Giang (vùng đất các huyện Thạch Thành, Vĩnh Lộc ngày nay) chỉ huy bao vây Tây Ðô. Cuối năm 1426, Bình Ðịnh Vương ra Bắc chỉ huy giải phóng các miền đất Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), và vây hãm thành Ðông Quan. Ngày 22 tháng một năm Ðinh Mùi (1427), giặc Minh đầu hàng. Mùa xuân năm sau - giặc rút về, đất nước sạch bóng quân thù, thành Tây Ðô lại về Ðại Việt. Ngày 15 tháng giêng năm Mậu Thân (1428), Bình Ðịnh Vương lên ngôi hoàng đế nước Ðại Việt, thủ đô là Ðông Kinh (tức Ðông Quan, thủ đô Hà Nội ngày nay). Cả nước chia làm 3 đạo hành chính lớn, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây trong số các trấn ven biển Tây Ðô.

13/Thời Lê sơ (1428 - 1516)

Tháng 11 - Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ về bái yết Sơn Lăng, Lam Sơn, sau 10 năm chiến đấu giành độc lập cho đất nước thắng lợi. Mùa Hè năm Canh Tuất (1430) đổi Tây Ðô làm Tây Kinh và Ðông Ðô (Hà Nội) làm Ðông Kinh. Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Thái Tổ mất, một tháng sau đem về an táng ở Lam Sơn, gọi nơi an táng là Vĩnh Lăng. Tháng 12 năm Quí Sửu ( 1433) xây dựng điện Lam Sơn (gọi là Lam Kinh). Ngày 7 tháng 01 Giáp Dần (1434), điện Lam Kinh bị cháy (cháy lần thứ nhất). Tháng 9 Mậu Thìn (1448): xây dựng lại Lam Kinh do Thái uý Trịnh Khả chỉ huy. Từ Mậu Ngọ (1438) đến Mậu Tý (1468), 3 lần khơi đào các kênh trong xứ Thanh Hoá. Năm Bính Tý, tháng 4 (1516), Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực, lập vua Lê Chiêu Tông rước về Tây Kinh.

14/Thời Lê Mạc (1516 - 1788)

Họ Mạc cướp ngôi vua Lê ở Thăng Long. Quan Ðiện tiền tướng quân là Nguyễn Kim - người Hà Trung lập căn cứ ở Thanh Hoá chống lại họ Mạc. Năm 1533 (Quí Tỵ), ông này đưa được Lê Ninh (con vua Chiêu Tông) lên ngôi tức Lê Trang Tông đánh chiếm Tây Kinh (1545) thắng lợi. Ðến năm 1545 (ất Tỵ), Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm lên thay, đánh nhau nhiều trận lớn với họ Mạc ở Thanh Hoá, 17 lần quân Mạc đều thua.

Từ năm 1533 đến 1592, triều đình nhà Lê ở Thanh Hoá, quản lý đất nước từ Thanh Hoá trở vào, đóng đô ở Yên Trường (nay thuộc Yên Ðịnh) mở nhiều khoa thi, chọn người hiền tài tham gia chính quyền. Năm 1593, Trịnh Tùng - con trai Trịnh Kiểm, kế tục cha tiêu diệt họ Mạc, đưa vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long, lập phủ chúa, Ðàng Ngoài do vua Lê - Chúa Trịnh trị vì từ năm 1599. Trong thời đó, năm 1588, Nguyễn Hoàng (con trai của Nguyễn Kim) vào trấn thủ xứ Thuận Hoá, mở đầu sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở Ðàng trong. Năm 1738, Lê Duy Mật (con vua Lê Dụ Tông Duy Ðường) khởi nghĩa chống Chúa Trịnh, địa bàn hoạt động rộng khắp Tây Nam, Tây, Tây Bắc Thanh Hoá và vùng Tây Bắc lẫn Tây Bắc Bộ. Năm 1770, Duy Mật bị con rể phản bội phải thua và tự sát với vợ con, chấm dứt 32 năm chiến đấu. Từ năm 1557 đến 1786, Thanh Hoá bị 10 trận bão lụt lớn xen đại hạn, 15 lần đói to chết nhiều người và 16 cuộc chiến giữa quân Trịnh - Mạc, những tai hoạ âý không hề có ở thời Lê sơ.

15/Thời Tây Sơn

Những năm quân Tây Sơn tiến công ra Bắc, quân dân Thanh Hoá do Lê Trung Nghĩa (tức Quận Mãn) chỉ huy chống lại rất dữ dội, Lê Trung Nghĩa tử trận ở Tĩnh Gia.

Quân đội Tây Sơn phá huỷ hoàn toàn Lam Kinh và kinh đô An Trường biểu tượng của các vua Lê, và còn phá huỷ nhiều chùa chiền miếu mạo khác. Năm 1790, con vua Quang Trung là Quang Bàn được cử làm trấn thủ Thanh Hoá. Năm 1792, thì tách ra 2 phủ Trường An và Thiên Quan của Thanh Hoa ngoại thành trấn Thanh Bình (tức Ninh Bình ngày nay).

16/Thời nhà Nguyễn (1802 - 1945)

Thanh Hoá là đất tổ của nhà Nguyễn, cho nên sau kinh thành Huế, Thanh Hoá đặc biệt được chú trọng. Nhà Nguyễn coi viên quan tổng đốc quản trị Thanh Hoá ngang với chức thượng thư trong triều đình và phải là một vị hoàng thân mới được làm tổng đốc tỉnh Thanh Hoá.

Ðặc biệt, triều đình ra lệnh không được đào bới khai mỏ gì ở Thanh Hoá sợ rằng xúc phạm đến oai linh của xứ sở. Nhà Nguyễn xây lăng tổ khai sáng ở Triệu Tường (Hà Trung), thành Triệu Tường lớn thứ 2 sau thành Thanh Hoá, chu vi 182 trượng (1 trượng = 4m), xây dựng lại Lam Kinh để tỏ lòng kính ngưỡng nhà Lê, dựng đền thờ các vua Lê ở Kiều Ðại (TP Thanh Hoá), hằng năm cắt cử các quan lại thay mặt nhà vua cúng tế và tổ chức phòng thủ ở Thanh Hoá rất hùng mạnh gồm một hệ thống 11 đồn binh có quân chính qui trấn giữ 7 bảo súng (pháo đài), 1 đồn thuỷ với 44 khẩu đại bác (súng thần công) mỗi đợt tuyển quân lấy của Thanh Hoá hơn 7.000 người. Ngày 25/11/1885, quân xâm lược Pháp lần đầu tiên tiến công Thanh Hoá. Trước đó, ngày 5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi tuyên bố chọn Thanh Hoá làm thủ phủ kháng chiến, nên tinh thần Cần Vương của quân dân Thanh Hoá rất sôi sục. Vùng rừng núi Thanh Hoá được xây dựng những sơn phòng tích trữ tiền của, lương thảo để chuẩn bị đánh giặc. Ba tháng sau (12/3/1886), nghĩa quân Cần Vương đã tiến đánh quân Pháp đóng ở thành Thanh Hoá. Mùa hè năm 1886, nghĩa quân lập bộ chỉ huy kháng chiến toàn Thanh Hoá do Tống Duy Tân đứng đầu và lập chiến khu ở Ba Ðình (Nga Sơn). Từ 18/12/1887, chiến sự dữ dội nhất giữa quân Việt Nam và Pháp đã nổ ra ở Ba Ðình. Quân Pháp phải tập trung trên địa bàn một số xã ở đây lượng binh lính lớn nhất so với toàn quốc (6.000 người trong một trận) để chiến đấu và bị thiệt hại nặng nề. Cuối cùng vì không được tiếp ứng như kế hoạch dự kiến, nghĩa quân do Ðinh Công Tráng chỉ huy đã rút lui an toàn khỏi các chiến luỹ. Ngày nay quảng trường trọng đại nhất của đất nước mang tên chiến khu này, đó là quảng trường Ba Ðình lịch sử ở thủ đô Hà Nội. Các cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp ở Thanh Hoá đến giữa năm 1895 mới chấm dứt cùng với hàng ước của nhà Nguyễn. Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung Việt Nam vẫn nằm trong nền độc lập hạn chế của nhà Nguyễn không bị Pháp cai trị trực tiếp. Thực tế chính quyền thuộc địa Pháp chỉ cai quản địa phận thị xã Thanh Hoá được thành lập ngày 12/7/1899 ở khu đất phía Ðông thành Thanh Hoá mà thôi. Năm 1918, chế độ thi cử tuyển hiền tài, kiểu Nho giáo ở Thanh Hoá mới bãi bỏ. Thanh Hoá bắt đầu hình thành xã hội phong kiến thuộc địa hiện đại hoá.

Từ 1802, khi bắt đầu vương triều Nguyễn đến khi sụp đổ hoàn toàn năm 1945, chế độ này đã trải qua 13 triều vua: Gia Long (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị 1841-1847), Tự Đức (1848-1883), Dục Đức (1883, trong 3 ngày), Hiệp Hòa (1883, trong 4 tháng), Kiến Phúc (1883-1884), Hàm Nghi (1884-1885), Đồng Khánh (1885-1888), Thành Thái (1889-1907), Duy Tân (1907-1916), Khải Định (1916-1925), Bảo Đại (1925-1945). Trong các triều vua đó, chỉ có 4 đời vua đầu tiên là chế độ phong kiến độc lập.

17/Thời hiện đại

Các năm 1926 - 1927, các tổ chức cách mạng đầu tiên ở Thanh Hoá ra đời. Ngày 25/6/1930, chi bộ Ðảng Cộng sản đầu tiên thành lập ở làng Hàm Hạ (thuộc xã Ðông Tiến, Ðông Sơn), và ngày 29/7/1930, đã thành lập Ðảng bộ tỉnh, Bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên là đồng chí Lê Thế Long.

Tháng 9/1942, Tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hoá thành lập. Ngày 24/7/1945, nhân dân huyện Hoằng Hoá giành chính quyền huyện thắng lợi. Ngày 19/8/1945, nhân dân thành phố Thanh Hoá và một số huyện tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi. 4 ngày sau, cách mạng thành công trên toàn tỉnh. Ngày 23/8/1945, chính quyền cách mạng tỉnh Thanh Hoá ra mắt đồng bào ở thành phố Thanh Hoá. Ngày 2/9/1945, Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cùng với cả nước, lịch sử Thanh Hoá bước vào thời kỳ phát triển mới. Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hoá đã ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam . Thanh Hoá là nơi phát tích của các vương triều: Tiền Lê (Lê Hoàn), Hồ (Hồ Qúi Ly-gốc Nghệ An, con nuôi của người Thanh Hoá), Hậu Lê (Lê Lợi), chúa Trịnh (Trịnh Kiểm), chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng), triều Nguyễn (Nguyễn Ánh-Gia Long). Trong sự nghiệp cách mạng ngày nay, người dân xứ Thanh cũng góp phần xứng đáng đối với cả nước để xây dựng quê hương mình nhanh chóng trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh.

*Sự kiện kết nghĩa với tỉnh ngoài

(theo tinh thần tất cả vì miền Nam ruột thịt)

Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước và xây dựng miền Bắc XHCN:

Ngày 12/03/1960, tỉnh Thanh Hóa kết nghĩa với tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng

Ngày 12/02/1961, thị xã Thanh Hóa kết nghĩa với thị xã Hội An.

  TÓM LẠI LỊCH SỬ VIỆT NAM HẦU HẾT ĐỀU LÀ
                                         NGƯỜI THANH HOÁ QUÊ CHOA CẢ PHẢI KHÔNG?


MỜI XEM THÊM
:

THỐNG KÊ DANH NHÂN TRUYỀN THUYẾT, DANH NHÂN VĂN HOÁ-

- LỊCH SỬ VÀ VÕ TƯỚNG NGƯỜI THANH HOÁ QUÊ CHOA

I/Danh nhân truyền thuyết

1/Chúa Chổm

Tên truyền thuyết của vua Lê Anh Tôn (1556 - 1573), đồn rằng ông vua này thuở hàn vi nợ tiền rượu chè kinh khủng nhưng lại đem lại điều may mắn cho những người đi chợ, bán hàng, chúa Chổm người Cầu Bố nay thuộc thành phố Thanh Hoá.

2/Xiển bột

Hậu duệ hài hước của Trạng Quỳnh, sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Thọ Xuân.

3/Liễu Hạnh hay Chúa Liễu

Theo truyện truyền kỳ của Ðoàn Thị Ðiểm, Liễu Hạnh đầu thai vào nhà ông Lê Thái ở Vụ Bản, Nam Ðịnh, lấy chồng có con, hết hạn đầy về trời. Nhưng nàng lại trở lại hạ giới ngao du sơn thuỷ và cứu nhân độ thế.

4/Mai An Tiêm

Thời Hùng Vương, Mai An Tiêm đã cùng vợ con cải thiện đảo hoang nơi bị đầy ải để tồn tại và phát triển, người nhân giống cây dưa hấu đầu tiên ở nước ta. Núi có sự tích Mai An Tiêm hiện ở Nga Thiện - Nga Sơn.

5/An Dương Vương

 Vua nước Âu Lạc, mất ở Nghi Sơn, nơi ông theo thần Kim Qui xuống biển.

6/Mỵ Châu - Trọng Thuỷ

Con gái và con rể của An Dương Vuơng. Mỵ Châu chết ở núi Ngọc úc. Trọng Thuỷ chết ở một cái giếng ở dưới chân núi Ngọc úc. Giếng này nhờ đó mang tên Ngọc Tiễn (rửa ngọc). Tất cả đều ở vùng Nghi Sơn - Hải Thượng (Tĩnh Gia-TH)

7/Từ Thức

Người đời nhà Trần, quê ở Hà Trung, đã lên tiên giới ở do một tiên cô là Giáng Hương chỉ dẫn. Ðộng tiên nơi Từ Thức đi vào nay ở xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn

8/Chân Nhân (núi Nưa), Hồ Công (Vĩnh Lộc)

 Chân Nhân (núi Nưa), Hồ Công (Vĩnh Lộc) là những đại diện cho đạo tu tiên có nhiều phép thuật, hiện di tích còn ở núi Nưa (Triệu Sơn-TH), động Hồ Công (Vĩnh Lộc-TH)

9/Trạng Quỳnh

Ông tổ hài hước diễu cợt thần quyền, vương quyền và thói ỷ thế nước lớn áp chế nước nhỏ thời vua Lê chúa Trịnh, do nhân dân thêu dệt ra từ một nhân vật có thật là Nguyễn Quỳnh ở Hoằng Hoá TH.

II/Danh nhân văn hoá-lịch sử

1/Lê Thị Hoa (TK I)

Quê ở xã Nga Thiện (Nga Sơn-TH), là một nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng. Bà đã cùng 4 người con tham gia khởi nghĩa và đã lập được nhiều công tích.

2/Bà Triệu (226 - 248)

Quê ở vùng núi Quân Yên, xã Ðịnh Công (Yên Ðịnh-TH). Năm 20 tuổi, cùng anh là Triệu Quốc Ðạt dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Ngô. Khi Triệu Quốc Ðạt mất, nghĩa quân tôn bà làm thủ lĩnhvà bà tiếp tục kháng chiến. Cuộc khởi nghĩa đã lan ra Giao Chỉ và vào tận Cửu Ðức, Nhật Nam và làm rung động cả Trung Quốc.

3/Lương Ðắc Bằng (1472 - ?)

Người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hoá-TH. Lúc bé đã nổi tiếng thần đồng, năm 27 (hoặc 28) tuổi đỗ hội nguyên, thi đình đỗ nhất giáp tiến sĩ, tên thứ 2 (tức bảng nhãn). Ông làm quan đến thượng thư Bộ lại, được tham dự triều chính, tước Ðôn Trung Bá. Ông còn là nhà giáo mẫu mực, là thầy dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đào tạo nhiều nhân tài học thức cho xứ Thanh và đất nước.

4/Hoàng Ðình ái (1527 - 1607)

Quê ở Biện Thượng huyện Vĩnh Lộc, có công lao lớn trong cuộc trung hưng nhà Lê: bắt sống đại tướng Nguyễn Quyện, lấy lại Ðông Kinh.

5/Phạm Bành (1825 - 1887)

Quê ở làng Trương Xá, xã Hoà Lộc (Hậu Lộc-TH), đỗ cử nhân năm 1864, công Ðinh Công Tráng xây dựng căn cứ và là một trong những lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Ba Ðình.

6/Nguyễn Hữu Dật (1604 - 1681)

Quê ở Gia Miêu, xã Hà Long huyện Hà Trung-TH, là một trong những trụ cột của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên). Ðược giao làm bố chánh Quảng Bình. Ông có tài về chiến lược quân sự và văn thơ. Mất được truy tặng Chiêm quận công.

7/Nguyễn Chích (1382 - 1448)

Quê ở Ðông Ninh, Ðông Sơn. Ông xây dựng và lãnh đạo căn cứ Hoàng Nghiêu chống giặc Minh, khi Lê Lợi khởi nghĩa, ông đem nghĩa quân Hoàng Nghiêu theo. Ông là một tướng lĩnh tài ba, đã đề xướng kế hoạch đánh vào Nghệ An thắng lợi, làm thay đổi tình thế nghĩa quân, mở đầu cho thắng lợi liên tiếp và thắng lợi cuối cùng của nghĩa quân Lam Sơn.

8/Lưu Ðình Chất (1566 - 1627)

Người làng Quì Chử, Hoằng Hoá, là con công thần Lâm quận công Lưu Ðình Thưởng. Năm 42 tuổi ông mới thi đỗ nhị giáp tiến sỹ, mùa Hè, Quí Mùi (1623), Trịnh Xuân gây biến ông giúp Thanh Vương (Trịnh Tráng) dẹp loạn. Vì có công và tài giỏi nên vào phủ làm tham tụng, tiến lên thượng thư bộ hộ, thiếu bảo, tước Phúc quận công. Năm Ðinh Mão (1627) ông mất, thọ 62 tuổi, được truy tặng thiếu sư.

 9/Hồ Nguyên Trừng

Con trai Hồ Quí Ly, là nhà sáng chế kỹ thuật quân sự tài giỏi. Cuộc kháng chiến chống Minh thất bại, cha con ông bị bắt đưa về Trung Quốc, ở đây ông chế được nhiều loại đại bác. Làm quan đến Công bộ thượng thư. Ông còn viết sách, làm thơ với tác phẩm tiêu biểu như "Nam ông mộng lục", tỏ rõ lòng nhớ quê hương đất nước của mình.

10/Phạm Vấn (?- 1435)

Quê ở Nguyên Xá (Ðông Sơn). Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ năm 1416, có công lao trong các trận Bồ Mộng, Bồ Đằng, giải phóng thành Nghệ An... Ông là một trụ cột của triều đình vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, với ngôi tể tướng. Mất, truy tặng Thái phó, năm 1484 truy phong Trấn quận công.

11/Ðinh Củng Viên (?- 1294)

Quê ở huyện Ðông Sơn, là một nhà ngoại giao tài giỏi dưới đời Trần Thánh Tông (1258 -1278), khi mất được phong tặng chức Thái phó

12/Hoàng Bật Ðạt (1842 - 1887)

Là một trong những người chỉ huy tài giỏi, kiên cường của nghĩa quân Ba Ðình trong phong trào Cần Vương chống Pháp

13/Trịnh Thị Ngọc Trúc (?)

 Là con gái Trịnh Tráng, là chính cung hoàng hậu của vua Lê Thần Tông (1619 - 1643). Người ta cho rằng bà là tác giả bộ từ điển Hán - Nôm cổ nhất của nước ta "Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa"

14/Trịnh Duy Thuân (? - 1542)

 Người sách Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), là cháu công thần An Quốc công Trịnh Khắc Phục. được phong Lỵ Quốc công, trấn giữ Thanh Hoá (1522) khi Mạc Ðăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527), ông là người bảo vệ che chở hoàng tử Lê Duy Ninh và cùng với chiêu huân công Nguyễn Kim sắm sửa binh lương, chiêu tập hào kiệt mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê, việc chưa thành, ông mất năm 1542.

15/Cầm Bá Thước (1853 - 1895)

Quê ở Trịnh Vạn, Thường Xuân, Thanh Hoá. Năm 1895, phong trào Cần Vương của nhân dân Thanh Hoá phát triển mạnh mẽ, ông lãnh đạo nhân dân lập căn cứ Trịnh Vạn tổ chức chống Pháp. Ông được Tôn Thất Thuyết phong cho chức Tán tướng quân vụ, và tiến hành các trận đánh đồn Po Lẹ, đồn Cửa Đặt... gây cho Pháp nhiều thiệt hại. Bị sa vào tay giặc, ông không khai nửa lời, hy sinh anh dũng.

16/Nguyễn Mậu Tuyên (1518-1599)

Người làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), dòng dõi công thần (cháu Thúc quốc công Nguyễn Nhữ Lãm). Ông học sâu, hiểu rộng, làm quan đến tể tướng, mẫu mực khuôn phép cho trăm quan. Làm quan tới Thiếu phó Quỳnh quận công. Mất truy tặng Thiếu sư

17/Nguyễn Thu (1799 - 1855)

Còn có tên là Nguyễn Bão, quê xã Nông Trường (Triệu Sơn), đậu cử nhân năm 1821, làm án sát và tham dự biên soạn "Thực lục tiền biên", sau thăng Thị lang Hộ bộ. Ông đă để lại 17 tác phẩm lịch sử, triết học, thơ văn như Lê Quí ký sự, Việt Thi tục biên,...

18/Trịnh Tùng (1546 - 1623)

Người kế tục sự nghiệp của cha là Trịnh Kiểm và hoàn thành sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ông là Chúa thứ 2 dòng chúa Trịnh, ở ngôi chúa 54 năm và thiết lập nên thể chế nhà nước mới: vua-chúa ở Việt Nam

19/Nguyễn Mộng Tuân (TK XV)

Quê ở xã Ðông Anh (Ðông Sơn-TH). Năm 1400, đậu thái học sinh và tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều công lớn. Dưới thời vua Lê Nhân Tông, ông được cử đi đánh quân Chiêm Thành. Nguyễn Mộng Tuân còn là nhà thơ với các tác phẩm Cúc Pha thi tập, Chí Linh sơn phú,..

20/Trịnh Tuê (còn gọi là Trịnh Huê) ( 1704 - ?)

Quê ở Biện Thượng, nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc (trú quán ở xã Bất Quần, nay là Quảng Thịnh, Quảng Xương). Ông đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn (1736) đời Lê ý Tông. Ðây là người được phong trạng nguyên cuối cùng của nước ta. Ông từng giữ chức Tham Tụng, Thượng thư bộ Hình, Tế tửu (hiệu trưởng) Quốc tử giám. Khi mất được tặng Hữu thị lang

21/Ðào Duy Từ (1572 - 1634)

Quê làng Hoa Trai, xã Nguyên Bình (Tĩnh Gia). Ông là một trong những vị khai quốc công thần nhà Nguyễn, một nhà quân sự, ngoại giao, văn hoá tài giỏi. Ông đã có công giúp nhà Nguyễn mở mang kinh tế, giữ yên lãnh thổ, được phong tước Lộc Khê hầu và thờ trong Thái Miếu, ông là tác giả của tác phẩm Hổ trướng khu cơ, Ngoạ Long cương Vãn, Tư Dung vãn...

22/Lê Bật Tứ (1562 - 1627)

Quê ở xã Tân Ninh (Triệu Sơn). Năm 1598, đậu tiến sĩ. Năm 1619, được phong chức thượng thư bộ binh, rồi Tham tụng, ông còn là một nhà ngoại giao tài giỏi, một vị quan chính trực, nhiều lần khuyên chúa Trịnh trị tội bọn gian thần

23/Nguyễn Ðôn Tiết (1836 - ?)

Quê ở xã Hoằng Ðức (Hoằng Hoá) đậu phó bảng năm 1879. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần vương, ông đă mộ quân phối hợp với nghĩa quân Hoàng Bật Ðạt tấn công đồn Pháp ở Bút Sơn. Sa vào tay giặc (1886), ông bị đầy đi tù ở Lao Bảo và hi sinh ở đấy

24/Lê Thánh Tông (1442 - 1497)

Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhân Tuất (1442) huý là Tư Thành, là con thứ tư vua Lê Thái Tông và Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao; là cháu nội vua Lê Thái Tổ, mất ngày 30 tháng 12 năm Ðinh Tỵ ( 1497). Năm 1460, ông lên ngôi vua trị vì được 38 năm với hai niên hiệu: Quang Thuận (1460 - 1469) và Hồng Ðức (1470 - 1497). Ông là nhà cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam . Bộ luật thành văn đầu của nước ta, được soạn dưới thời ông. Ông là người sáng lập hội Tao Ðàn, để lại nhiều tập thơ, 1 tập truyện ký và rất nhiều bài viết đặc sắc trong các tập Hồng Ðức thi tập, Thánh Tông di cảo...

25/Lê Trạc Tú (?)

Người làng Thượng Cốc, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), ông nội là Tán Thiện, chú là Tán Tương cùng đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1499), ông đỗ Ðệ nhất giáp chế khoa, khoa Ðinh Sửu (1577), khi làm Thượng thư bộ lại và Tể tướng ông cất nhắc người hiền tài, ông sống ngay thẳng, trong sạch, trong nhà không có của dư.

26/Lê Tắc (TK XIV)

 Quê ở Ðông Sơn, theo Trần ích Tắc hàng giặc Nguyên và làm quan Phụng nghị đại phu ở Hán Dương (Trung Quốc). ở Trung Quốc, ông đă hoàn thành bộ An Nam chí lược gồm 20 cuốn nói về lịch sử Việt Nam từ thượng cổ đến đời Trần

27/Tống Duy Tân (1837 - 1892)

Ông quê ở xã Vĩnh Tân (Vĩnh Lộc). Ông đậu tiến sĩ năm 1875, làm tri huyện Vĩnh Tường, án sát Sơn Tây, chánh sứ sơn phòng Quảng Hoá. Năm 1886, ông cùng con là Tống Nhữ Mai lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Ông cùng Phạm Bành, Hoàng Bật Ðạt, Trần Xuân Soạn... lãnh đạo nghĩa quân Ba Ðình, ông đã bị giặc Pháp bắt tại hang Niên Kỷ (Bá Thước) và hi sinh tại thị xã Thanh Hoá năm 1892

28/Trần Hạng (1372 - 1399)

Quê ở xã Vĩnh Thành (Vĩnh Lộc), đậu Thái học sinh và có công trong cuộc kháng chiến chống quân Chiêm Thành của quân dân nhà Trần

29/Cao Ðiển (1853 - 1896)

Quê ở làng Trinh Sơn, xã Hoằng Giang, Hoằng Hoá. Ðược Tôn Thất Thuyết cử chỉ huy trận tấn công vào sứ quán và đồn binh Pháp ở Huế. Sau đó về Thanh Hoá cùng Tống Duy Tân xây dựng căn cứ Hùng Lĩnh (Vĩnh Lộc) chống Pháp. Trên đường ra Bắc liên lạc với nghĩa quân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, ông bị Pháp bắt tại thị xã Bắc Giang và xử chém tại thị xã Thanh Hoá.

30/Ðại Thặng Ðăng (Pháp danh) (TK VIII)

 Người Thanh Hoá, có tên Phạn là Mahayana Pridipa, uyên thâm phật học, đến Trung Quốc, ấn Ðộ nghiên cứu và truyền đạo, chú giải kinh phật. Ông mất tại chùa Niết Bàn (ấn Ðộ), thọ 60 tuổi.

31/Nguyễn Hiệu (1664 - 1735)

Là người làng Lan Khê, Nông trưởng, Triệu Sơn năm 27 tuổi đỗ hội nguyên, thi đỗ đồng tiến sĩ. Ông là người tài giỏi, trung hậu và ngay thẳng nên được trọng dụng, làm quan đến thượng thư rồi tể tướng. Khi mất (1735) được triều đình truy tặng thái bảo, đại tư đồ, gia phong làm phúc thần.

32/Lê Hy (1646 - 1702)

 Quê ở xã Ðông Khê, Ðông Sơn. Năm 1664 đỗ tiến sĩ. Tài năng của ông được các chúa Trịnh tin dùng, cử đi sứ Trung Quốc được phong chức thượng thư bộ binh rồi thăng Tham tụng (Tể tướng) tước Lai sơn bá. Ông là nhà viết sử nổi tiếng với tác phẩm Bản kỷ tục biên do ông chủ biên.

33/Nguyễn Hữu Hào (1647 - 1713)

Quê ở làng Gia Miêu, Hà Long, Hà Trung. Có công lớn với chúa Nguyễn trong các cuộc giao tranh với chúa Trịnh, được phong chức cai cơ, chưởng cơ rồi chức trấn thủ Quảng Bình..., ông còn sáng tác truyện thơ nôm Song tinh bất dạ lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Khi mất truy tặng Ðôn hậu công thần trấn phủ.

34/Lê Hoàn (941 - 1005)

Quê xã Xuân Lập, Thọ Xuân, từ một người lính bình thường, ông đã lập được nhiều chiến công, được Đinh Bộ Lĩnh giao cho làm Thập đạo tướng quân tổng chỉ huy quân đội. Năm 980, trước sự xâm lược của quân Tống, ông được quân sĩ và triều đình Hoa Lư tôn làm Hoàng đế. Ông đã tổ chức quân dân Ðại Việt hoàn thành cuộc kháng chiến chống Tống. Ông là nhà ngoại giao tài giỏi, có công lớn trong mở mang kinh tế, phát triển nông nghiệp, giữ yên bờ cõi đất nước

35/Lê Phụng Hiểu (? - ?)

Là người hương Băng Sơn, Châu Ái (nay là xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hoá). Ông khỏe mạnh hơn người, võ nghệ cao cường, Lý Thái Tổ dùng làm vũ vệ tướng quân. Khi Thái Tổ mất, các vương gây biến, ông đánh dẹp, tôn Thái Tông lên ngôi, giữ yên triều Lý. Ðược phong Ðô thống thượng tướng quân, tước hầu. Ông còn có công lao lớn trong việc dẹp giặc Chiêm Thành giữ yên bờ cõi phía Nam. Khi chết được phong làm phúc thần

36/Lê Văn Hưu (1230 - 1322)

Quê ở xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá. Năm 1247, thi đỗ bảng nhăn. Năm 1272, làm hàn lâm viện học sĩ kiêm quốc sử viện quán tu và hoàn thành bộ sử Ðại Việt sử ký gồm 30 quyển. Ông không chỉ là nhà viết sử lỗi lạc đầu tiên của nước nhà mà còn là nhà quân sự với chức thượng thư bộ binh kiêm chưởng sử, tước Nhân uyên hầu

37/Nguyễn Hoàng (1524 - 1613)

Là con trai thứ hai của Hưng Quốc công - Nguyễn Kim, vào trấn thủ Thuận Quảng, mở đầu cho sự nghiệp của các chúa Nguyễn với vương triều Nguyễn.

38/Nguyễn Hoàn (1713 - 1791)

Quê ở làng Lan Khê, xã Nông Trường (Triệu Sơn). Năm 1743, đậu tiến sĩ, thăng chức lại bộ thượng thư. Năm 1777 được thăng chức thái phó, quốc lão... Không những là một vị quan to trong triều, ông còn biên khảo những tác phẩm lịch sử như Quốc sử tục biên, Ðại Việt đăng khoa lục...cùng với một số tác giả khác

39/Lương Hữu Khánh (TK XVI)

Quê ở làng Hội Triều, nay là xã Hoằng Phong, Hoằng Hoá. Ông đậu cử nhân năm 12 tuổi, đậu thứ 2 thi hội, không thi đình dưới triều Mạc Ðăng Doanh. Ông có công trong việc khôi phục nhà Lê, được thăng tới thượng thư bộ binh, tước Đạt quận công. Ông đă để lại các tác phẩm như Quan sử, Tân quan văn kê phú...

40/Trịnh Khả (1399 - 1451)

Người làng Kim Bôi xã Vĩnh Hoà, Vĩnh Lộc. Ông là một trong 18 người có mặt trong hội thề Lũng Nhai năm Bính Thân (1416). Khi Lê Lợi vây thành Nghệ An, ông cùng Lê Văn Linh được cử làm tướng văn, tướng võ. Cùng với Lê Triện, Ðinh Lễ đánh tan 5 vạn quân của Vương Thông ở Ninh Kiều, chặn đứng 2 vạn quân của Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa. Ông được phong tới chức Nhập nội thái uý, bình chương quân quốc trọng sự, thượng trụ quốc, được ban kim ngư trang kim phù, tước Quốc thượng hầu. Tháng 9 năm thứ 9 (1451), đời vua Lê Nhân Tông, ông cùng con là Trịnh Bá Quát bị hại, vì có kẻ gièm pha với Thái hậu là cha con ông làm phản. Năm thứ 11 (1553), Lê Nhân Tông coi việc triều chính khôi phục lại quan tước cho ông. Ðời Thánh tông truy phong Hiển khánh vương.

41/Hà Tông Huân (1697 - 1790)

Người làng Kim Thành, huyện Yên Ðịnh, năm 28 tuổi đỗ bảng nhãn. Ông là người thông minh, tài trí được trọng dụng, ra vào phủ chúa bàn việc quân quốc cơ yếu, làm đồng tham tụng rồi nhập chính tham tụng, kiêm việc ở Quốc tử giám. Khi về hưu vẫn được vời ra làm bậc ngũ lão, được gia thăng thiếu bảo, tước Huy quận công, khi mất được tặng hàm thái phó.

42/Lê Ðình Kiên (1620 - 1704)

Quê làng Thiết Ðinh, xã Ðịnh Tường (Yên Ðịnh-TH). Ông có công trong việc xây dựng phố Hiến (Hưng Yên) thành một trung tâm buôn bán lớn của đất nước. Ông là nhà ngoại giao, ngoại thương tài năng, góp phần quan trọng vào việc mở mang đất nước

43/Nguyễn Kim (? - 1545)

Là người Gia Miêu, huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc trung hưng nhà Lê. Sự nghiệp chưa thành, ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc, mất năm 1545. Ông đă sáng suốt nhìn nhận và giao quyền lực lại cho con rể là Trịnh Kiểm trước khi mất. Ông là người mở nghiệp cho dòng chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.

44/Lê Khôi (?- 1446)

Người Lam Sơn, huyện Thuỵ Nguyên (Thọ Xuân ngày nay), là cháu gọi Lê Lợi bằng chú ruột và là một trong những người đầu tiên đứng dưới cờ nghĩa Lam Sơn. Ông lập được nhiều công lớn: đánh thắng trận Khả Lưu, hạ thành Xương Giang...; bình Chiêm mở mang bờ cõi, dẹp nội loạn Bế Khắc Thiệu, Nông Ðắc Thái, nhiều lần đánh thắng Ai Lao, giữ vững biên ải quốc gia. Ông có nhiều kế sách trị bình, lấy đức và chính làm đầu, dân được bình yên. Ông là người có công to, đức lớn, tài cao, nên các triều vua Lê (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông) đều tin dùng, cho tham dự việc triều chính. Mất truy tặng Thái uý Tam quốc công.

45/Trịnh Kiểm (1503 - 1570)

Quê làng Sóc Sơn, Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc. Ông là người có công lớn trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ông là người mưu lược đã cùng tướng sĩ đánh lui 5 đợt tấn công của nhà Mạc, bảo vệ vững chắc Thanh Hoá. Ông cũng đă hết sức chăm lo triều chính, lập chế độ thuế khoá, khuyến khích nghề nông, mở rộng thi cử để chọn nhân tŕi... Ông là ông tổ của dòng chúa Trịnh.

46/Nhữ Bá Sĩ (1787 - 1867)

Người làng Cát Xuyên (Hoằng Cát, Hoằng Hoá), đỗ cử nhân năm 1821, xin cáo quan về quê dạy học, sau đó ông mưu việc chống Pháp, việc chưa thành thì mất. Ông là người có học vấn uyên thâm, viết sách về giáo dục, văn hoá, lịch sử... tiêu biểu nhất là tác phẩm Việt sử tam bách vịnh, Thanh Hoá tỉnh chí.

47/Trần Xuân Soạn (1849 - 1923)

Quê ở làng Thọ Hạc, TP Thanh Hoá, do chiến công làm tới Ðề đốc năm 1885, ông được phái kháng chiến trong triều đình Huế giao chức đề đốc quân vụ cùng Tôn Thất Thuyết tổ chức chống Pháp. Khi về Thanh Hoá, ông cùng các lãnh tụ nghĩa quân lập căn cứ Ba Đình, Mã Cao... và được giao nhiệm vụ đóng quân ở Thạch Thành hỗ trợ cho Ba Ðình. Ông mất tại Long Châu (Trung Quốc).

48/Nguyễn Chích (1382-1448):

Danh tướng, khai quốc công thần thời Hậu Lê, quê Thanh Hoá. Xuất thân từ cảnh nghèo khổ nhưng vốn mạnh mẽ, linh hoạt, nồng nàn yêu nước, ông chiêu tập hàng ngàn người trong vùng, xây đồn đắp luỹ làm căn cứ kháng chiến chống giặc Minh. Sau đó, đem quân phò giúp Lê Lợi cho đến khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng năm 1427. Tận tụy phục vụ 3 đời vua Lê (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông), ông xứng danh đại thần với chức Tổng quản, lừng lẫy với những chiến công đánh quân Minh phía Bắc, giặc Chiêm Thành phương Nam và dẹp yên nhiều cuộc phản loạn nội bộ.

49/Lê Tư Thành (1442-1497): Vị vua xuất sắc nhất thời Hậu Lê, hiệu Thánh Tông, quê Thanh Hoá. Thông tuệ, phong nhã, tài đức vẹn toàn, được các cận thần đưa lên ngôi năm 18 tuổi. Với những cải cách toàn diện và phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giai đoạn ông cầm quyền (1460-1497) được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Ông còn là nhà thơ lớn, lập ra hội thơ Tao Đàn danh tiếng và để lại nhiều tác phẩm giá trị: Hồng Đức quốc âm thi tập, Cổ tân bách vịnh, Văn minh cổ suý, Xuân vân thi tập…

50/Nguyễn Phúc Nguyên: Sinh năm Quý Hợi 1563, quê gốc Thanh Hóa, chúa thứ hai nhà Nguyễn. Thông minh, năng động, từng trải, nhiệt tình giúp cha khởi nghiệp và năm 1624 kế vị ngôi chúa. Nhân từ, cẩn thận lại mềm mỏng, khéo léo, ông thu hút nhiều người tài và được dân chúng mến yêu gọi là chúa Phật, chúa Sãi. Nhờ ông mà bờ cõi phương Nam được mở rộng, thế lực họ Nguyễn lớn mạnh và đối trọng được với chúa Trịnh ngoài Bắc, góp phần tạo dựng Vương triều Nguyễn sau này

III/Võ tướng người Thanh Hoá Quê choa

Từ cổ chí kim, Thanh Hoá có cả thảy 172 vị tướng với nhiều tên tuổi hiển hách như: Lê Thị Hoa, Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Phụng Hiểu, Trần Bình Trọng, Trần Khát Chân, Lê Lợi, Đinh Liệt,................cho đến các tướng lĩnh quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, các bạn blog tự tìm hiểu thêm.

Tôi chỉ nêu cụ thể 15 danh tướng đã tìm hiểu được:

1/HOÀNG ĐÌNH ÁI (1527-1607)

       Ông là người huyện Vĩnh Phúc (nay là huyệnVĩnh Lộc, Thanh Hoá ), là con nhà cậu của Lương Quốc Công Trịnh Kiểm. Ông là người có học thức, thông binh pháp, trong thời gian nhà Lê Trung Hưng ở Thanh Hoá chống Mạc, lập nhiều công lớn, được phong Quảng Tây Hầu.

      Năm 1557, ông được phong Đô đốc chỉ huy sứ Vệ Cẩm y. Năm 1558, ông được phong tước Vinh Quận Công, lúc ấy ông mới 32 tuổi.

      Năm 1570, Lượng Quốc Công Trịnh Kiểm mất, Trịnh Cối mưu nổi loạn đầu hàng nhà Mạc, ông cùng với các tướng Hà Thọ Lộc, Nguyễn Hữu Lưu dẹp tan cuộc biến loạn đó. Lợi dụng tình hình rối ren đó, Mạc Kính Điển kéo quân vào đánh. Ông được cử cùng với Đặng Huấn đem quân ra đường bên hữu, đến đâu giặc đều  tan vỡ cả, bình định được các huyện Quảng Xương, Nông Cống, Ngọc Sơn.

     Năm 1573, đời Lê Thế Tông ông được phong Thái Phó. Cũng trong năm này, quân Mạc do Mạc Kính Điển chỉ huy lại vào đánh phá, ông dự chiến phá tan được ở Cẩm Thuỷ, Đường Sơn.

      Năm 1581, tướng Mạc Đôn Nhượng thống lĩnh các đạo quân kéo vào đánh phá, chúng vượt đường biển đến huyện Quảng Xương, đóng quân ở núi Đường Ngang. Ông được cử thống lĩnh các tướng đem quân chống giữ. Ông họp các tướng chia làm ba đạo, bảo cùng dẫn quân đều tiến, còn mình tự đốc đại quân, ra hiệu lệnh tiến quân đánh nhau với quân Mạc một trận lớn. Quan quân nhuệ khí rất mạnh, quân Mạc đại bại, Mạc Đôn Nhượng phải thu tàn binh trốn về Kinh ấp. Sau trận đó, ông được phong Thái Uý (1582 )

      Năm 1591 tình hình đã có nhiều biến chuyển, quân đội đã mạnh nên Trịnh Tùng chủ trương tiến quân ra Bắc, ông được cử chỉ huy đạo quân thứ hai là Dinh hữu khu, đánh tan quân Mạc ở Phấn Thượng (Sơn Tây), bắt sống được tương giặc là Nguyễn Quyện, tướng giặc là Bùi Văn Khuê xin hàng. Cuối năm 1592 ông lại đem quân phá tan quân Mạc Kính Chỉ ở Thanh Lâm. Đại quân Mạc bị tiêu diệt.

      Năm 1593 khi diêt xong nhà Mạc, lấy lại được kinh đô, lúc bàn công ban thưởng ông được gia phong Hữu tướng, Thái uý, tước Vinh Quốc Công.

      Mấy năm sau đuổi hẳn tàn binh nhà Mạc lên Cao Bằng, ông được phong làm Thái Tể.

      Năm 1599, Lê Kính Tông lên ngôi, ông được gia phong làm Đồng bình chương sự, cho tham dự việc triều chính. Ông mất năm 1607, thọ 81 tuổi, được truy phong Mậu Nghĩa Công, ban tên thuỵ là Hậu Đức, cho khắc bia ''thần đạo'' để ghi công.

2/LÊ VĂN AN (? - 1437)

      Danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông quê ở làng Mục Sơn (nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá), tham dự Hội thề Lũng Nhai (1416). Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra (1418) ông đã chỉ huy quân Thiết Đột, đánh trên trăm trận lớn nhỏ, rất dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Ông đã tham gia một số trận đánh quan trọng như: trận Khả Lưu, trận Tân Bình-Thuận Hoá (1424); vây hãm và dụ hàng giặc ở thành Nghệ An (1425). Năm 1427, ông cùng với tướng Lê Lý (tức Nguyễn Lý) được lệnh đem 3 vạn quân hỗ trợ cho tướng Lê Sát ở Chi Lăng - Xương Giang. Ông đã lập công lớn trong trận đánh Xương Giang (11- 1427).

    Sau ngày toàn thắng, với những công lao nói trên ông được phong Nhập nội tư mã, hàm Suy trung Bảo chính công thần, tước Đình Thượng Hầu.

     Năm 1434, nhân có biến loạn ở Lạng Sơn, ông được cử chức Tư mã Bắc đạo, đem quân đi đánh dẹp. Lập công, tuy được thăng chức Nhập nội Đại tư mã, Đô đốc Tổng quản Bắc đạo nhưng vẫn bị chê trách (vì đã bắt bớ tràn lan, không làm yên lòng dân).

     Năm 1437 ông mất, được truy tặng Tư Không, ban cho tên thuỵ là Trung Hiến.

3/NGUYỄN ÁNH (1762-1819)

Vua đầu tiên, sáng lập triều đại nhà Nguyễn, là cháu của chúa Định - Nguyễn Phúc Thuần.

      Năm 1777, sau khi Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn giết, con cháu chúa Nguyễn phải trốn tránh để khỏi bị sát hại Nguyễn Ánh là một người quả cảm, có chí lớn. Ông đã tập hợp lục lượng để chống Tây Sơn khôi phục lại cơ nghiệp của nhà chúa. Năm1780, Nguyễn Ánh lên ngôi vương ở Gia Định, tiếp tục chống quân Tây Sơn. Sau nhiều năm thất bại phải chốn tránh, hai lần chốn ra đảo Phú Quốc, ông đã cầu viện sự giúp đỡ của ngoại bang mượn năm vạn quân Xiêm sang nhưng đã bị Nguyễn Huệ đánh tan trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút (1875); cho con là Hoàng Tử Cảnh sang Pháp để cầu viện trợ và kí hiệp ước ngày 28/11/1787, nhưng hiệp ước này đã không được thực hiện.

    Năm 1787, nhân khi anh em Tây Sơn  bất hòa ,xung đột, tranh quyền đoạt vị, Nguyễn Ánh đã đem quân đánh chiếm lại được Gia Định. Khi lực lượng đã mạnh, đến năm 1801, Nguyễn Ánh đã thu phục lại được thành Phú Xuân và năm sau đã chiếm được kinh đô Thăng Long, lật đổ nhà Tây Sơn, làm chủ cả đất nước lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long. Đổi quốc hiệu là Việt Nam (1804)

    Sau khi lên ngôi ông đã ra lệnh trả thù nhà Tây Sơn một cách tàn bạo. Để đưa đất nước vào thế ổn định, Gia Long đã đặt quan hệ ngoại giao với nhà Thanh, liên hệ với Xiêm La, Chân Lạc, Ai Lao : chú trọng quy định pháp luật, năm 1815 bộ "Quốc triều hình luật" (còn gọi là "luật Gia Long") được ban hành gồm 22 quyển với 398 điều; cho tổ chức lại nhà nước từ trung ương đến địa phương, lập sổ hộ tịch để dễ kiểm soát, lệnh cho các làng, xã trong toàn quốc phải lập sổ địa bạ, định thuế khóa,...

    Đồng thời ông cũng có nhiều hành động nhằm chấn hưng văn hóa giáo dục. Từ năm 1802, Nguyễn Ánh đã ra lệnh soạn các bộ sử : "Chính biên", "tiền biên", "Cương mục". Năm 1806, sai biên soạn bộ "Nhất thống địa dư chí" gồm 10 quyển, cho lập các văn miếu ở địa phương, phát triển Nho học, mở khoa thi Hương.

    Năm 1819, ông mất, thọ 59 tuổi sau khi đổi ngôi cả chúa và vua tổng cộng 39 năm.

4/PHẠM BÀNH (1827-1887)

    Ông quê ở làng Tương Xá (nay thuộc xã Hoà Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá), đậu cử nhân khoa Giáp Tý (1864), làm quan đến chức án sát tỉnh Nghệ An, nổi tiếng thanh liêm và biết quan tâm đến đời sống nhân dân.

    Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông bỏ quan về quê cùng với Hoàng Bật Đạt mộ quân khởi nghĩa. Giữa năm 1886 ông được cử cùng với Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng và một số tướng lĩnh khác xây dựng căn cứ Ba Đình nhằm bảo vệ cửa ngõ miền Trung và làm bàn đạp toả đánh địch ở đồng bằng. Căn cứ Ba Đình thuộc địa phận huyện Nga Sơn (Thanh Hoá). Sở dĩ gọi là Ba Đình vì nơi đây gồm 3 làng: Mĩ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh ở liền nhau, mỗi làng có một ngôi đình, đứng ở làng này sẽ nhìn thấy đình ở hai làng bên và có một ngôi nghè chung, Lập căn cứ Ba Đình nghĩa quân có thể kiểm soát và khống chế đường số 1 (là con đường đi yết hầu của địch từ Bắc vào Nam), hơn thế nữa địa thế nơi đây rất thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ phòng ngự kiên cố và từ đó nghĩa quân có thể toả ra ngăn chặn những hoạt động của địch ở khu vực giữa Ninh Bình và Thanh Hoá.

    Sau những thất bại nặng nề ở Ba Đình, thực dân Pháp chủ trương tẩp trung đủ mọi binh chủng, có pháo binh yểm trợ đã tiến hành bao vây và mở nhiều đợt tấn công mới hạ nổi được Ba Đình.

    Mặc dù tuổi già sức yếu (lúc này ông đã 60 tuổi) nhưng Phạm Bành luôn có mặt ở trận địa, nơi nguy hiểm nhất để động viên và khích lệ các nghĩa binh chiến đấu.

    Ba Đình thất thủ, ông đưa nghĩa quân rút về căn cứ dự phòng ở Mã Cao (Yên Định) ngay đêm 20-2-1887, rồi lánh về quê. Nhưng sau để cứu mẹ già và con là Phạm Tiêu bị giặc bắt làm con tin, ông đã ra đầu thú và uống thuốc độc tự tử ngay sau khi mẹ và con được thả ngày 18 - 3 năm Đinh Hợi (tức ngày 11 - 4 - 1887) để tỏ rõ khí tiết của mình.

5/NGUYỄN BẶC (924 - 980)

     Danh tướng của Đinh Bộ Lĩnh. Ông quê ở Gia Miêu (nay là xã Hà Phong, huyện Hà Trung, Thanh Hoá). Xét trong gia phả, ông là tổ tiên của Nguyễn Kim và dòng họ của vua nhà Nguyễn khởi đầu là Gia Long (Nguyễn ánh). Ông theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân từ buổi đấu, thường được cử chỉ huy một đạo quân lớn đánh vào sào huyệt các sứ quân. Nhà Đinh thành lập, ông được phong Định Quốc Cồng (971). Năm 979 vua Đinh cùng con là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám hại, ông truy bắt được, chém chết. Sau đó, ông cùng với Lê Hoàn, Đinh Điền đưa con nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn lên ngôi vua. Do vua nối ngôi còn nhỏ (6 tuổi), Lê Hoàn được cử làm Nhiếp chính. Ông nghi ngờ Lê Hoàn có ý muốn cướp ngôi nên đã cùng với Đinh Điền, Phạm Hạp dấy quân, tiến công vào kinh thành. Quân của Lê Hoàn nhờ chuẩn bị trước đã đánh bại cuộc tiến công. Ông bị bắt và bị xử tử.

6/LƯƠNG ĐẮC BẰNG (1472 - ?)

    Ông quê ở làng Hội Triều, huyện Hoằng Hoá, đỗ Bảng nhãn khoa Kỷ Mùi (1499) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến Tả thị lang bộ Lại dưới triều Lê Tương Dực. Năm 1510, ông dâng ''kế sách trị bình'' 14 điều lên vua yêu cầu sửa sang chính trị. Nhà vua khen ngợi nhưng không thi hành. Sau thăng lên Thượng thư bộ Lại kiêm Đông các đại học sĩ, tước Đôn Trung Bá. Ông xin nghỉ việc lui về ở ẩn. Ông là thân sinh của Lương Hữu Khánh và Lương Khiêm Hanh, tất cả đều nổi tiếng thần đồng từ bé.
         Có tài liệu nói Lương Đắc Bằng tinh thông thuật số, truyến lại cho học trò là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng hiện nay, ngoài bản ''kế sách trị bình'', ông không để lại tác phẩm nào khác.

7/ĐỖ BÍ (Thế kỉ XV)

    Ông quê ở thôn Cung Hoàng (nay thuộc huyện Nông Cống, Thanh Hoá). Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những buỗi đầu.

    Tháng 4 năm Mậu Tuất (1418), quân Minh vây đánh, bộ chỉ huy bị vây hãm ở núi Chí Linh hơn 3 tháng trời, ông luôn đi sát để bảo vệ Lê Lợi.

    Ông là một vị tướng có tài. Năm 1424, ông được cử tham gia chỉ huy trận Khả Lưu, chặn đứng cuộc hành quân của giặc, không cho chúng đánh chiếm lại Trà Lân- một vị trí hết sức quan trọng án ngữ mạch giao thông phía tây Nghệ An. Trận này ta thắng lớn, làm thay đổi hẳn tình hình theo chiều hướng có lợi cho Lam Sơn.
   Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn quyết định tiến quân ra Bắc, ông được cử cùng với các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Lý Triện chỉ huy đạo quân thứ nhất gồm 3.000 quân và một thớt voi, có nhiệm vụ uy hiếp mặt Nam thành Đông Quan. Khi vừa tiến ra phía Nam thành Đông Quan, đạo quân này đã lập được ba chiến công vang dội: thắng trận Ninh Kiều (9-1426), trận Nhân Mục (9-1426), trận Xa Lộc (10-1426). Ông đã vinh dự được chỉ huy trực tiếp hai trận Ninh Kiều và Nhân Mục.

     Tháng 11 năm 1426, nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang cứu nguy, đóng ở Đông Quan hòng làm thay đổi tương quan lực lượng. Mặc dù vậy, ông và các tướng chỉ huy cũng hạ quyết tâm chủ động đánh giặc, trận phục kích Tốt Động- Chúc Động thắng lợi đã thể hiện điều đó, buộc Vương Thông phải rút về cố thủ trong thành Đông Quan. Từ đây nghĩa quân vây chặt Đông Quan. Ngày 7 tháng 2 năm Đinh Mùi (tức ngày 4-3-1427), Vương Thông bất ngờ tấn công vào khu vực đóng quân của ông và Lý Triện ở Qủa Động. Trận này, Lý Triện đã anh dũng hy sinh, còn ông thì bị bắt, mãi đến khi Vương Thông đầu hàng mới được trao trả.
     Năm 1428, sau thắng lợi hoàn toàn, lúc luận công ban thưởng, ông được ban quốc tính, tước Huyện hầu (là 1 trong số 14 người được ban tước này).
     Trong suốt 20 năm làm quan trong triều, ông vẫn luôn liêm khiết và được tín nhiệm. Năm 1448, lúc vua Lê Nhân Tông cùng đông đả bá quan văn võ về bái yết Lam Kinh, ông và Nguyễn Thận vinh dự được ở lại coi giữ kinh thành Thăng Long. Sau ông mất vào năm nào, không thấy sử chép.

8/BÙI BỊ (Thế kỉ XV)

     Ông quê ở Hào Lương, huyện Lương Giang (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá). Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu. Năm 1418, ông cùng với Trịnh Khả bơi theo thuyền giặc, bí mật giành lại hài cốt của tổ tiên Lê Lợi khi giặc Minh hèn hạ trả thù bằng cách quật mồ mả

     Khi giặc ồ ạt tiến công vào Lam Sơn, bắt được gia quyến của Lê Lợi, nghĩa quân phải rút về Chí Linh. Sau đó nghĩa quân khiêu chiến, phục binh ở Mường Một, giặc thua to. Trong một loạt trận đánh ở Mường Một, Mường Nanh, Nga Lạc, Mỹ Canh thì trận Mỹ Canh là trận tương đối lớn. Ta bắt được tướng giặc là Nguyễn Sao và giết được hơn một ngàn tên. Trong trận này, ông đã lập công lớn.

    Tháng 4 năm 1427, viện binh của giặcdo Lý An chỉ huy từ Tây Đô vào cứu nguy cho thành Nghệ An. Thấychỗ sơ hở của giặc, Lê Lợi cử Đinh Lễ, Bùi Bị, Lê Sát, Lý Triện, Lưu Nhân Chú đem 2 ngàn quân bất ngờ tiến công thẳng ra Tây Đô. Với cuộc hành quân kiên quyết, táo bạo và cấp tốc, ông và các tướng đã giải phóng hầu hết đất Thanh Hoá, buộc giặc phải co về cố thủ trong thành Tây Đô. Từ đây, miền đất rộng lớn và liên hoàn từ Thanh Hoá trở vào Nam đã thuộc về Lam Sơn.
     Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi cử một vạn quân tiến ra Bắc, chia làm ba đạo khác nhau. Ông có vinh dự được cùng với các tướng Lưu Nhân Chú, Lê Ninh chỉ huy đạo quân thứ hai tiến ra vùng Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên để giải phóng vùng hạ lưu sông Hồng và chặn địch từ Nghệ An, Tây Đô tháo chạy ra. Nhiệm vụ đầu tiên ta đã hoàn thành còn nhiệm vụ chặn địch không hoàn thành, hai vạn quân địch vẫn chạy ra được Đông Quan.

      Sau trận Tốt Động-Chúc Động, bộ chỉ huy nghĩa quân chuyển đại bản doanh ra Bắc, đóng tại Tây Phù Liệt (Hà Nội) để uy hiếp thành Đông Quan. Ông và Trần Nguyên Hãn được lệnh đem hơn một trăm chiến thuyền, đánh mạnh vào khu vực Hát Môn. Vương Thông hốt hoảng phải co về cố thủ trong thành Đông Quan.
      Cuối năm 1427, khi Vương Thông đầu hàng, ta tổ chức Hội thề Đông Quan, ông được vinh dự là một trong 13 tướng cùng Lê Lợi tham dự.

     Năm 1428, triều Lê định công ban thưởng, ông được ban quốc tính họ Lê, tước Huyện hầu. Sau không rõ ông mất vào năm nào.

9/PHẠM XUÂN BÍCH (1784-1833)

     Ông quê ở xã Định Tiến, huyện Yên Định, Thanh Hoá, đậu cử nhân khoa Tân Tỵ (1821) đời Minh Mạng. Ông đã từng làm Huấn đạo tỉnh Nghệ An, tri huyện Hưng Hoá, tri phủ Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), sau được vời về kinh đô Huế làm Lang trung bộ Công, rồi Tả thị lang bộ Lại. Năm 1831, tình hình Nam Bộ có nhiều biến loạn, quân Cao Miên thường sang cướp phá, ông được cử làm Hiệp trấn tỉnh Hà Tiên, sau thăng lên Tuần phủ. Năm 1833, quân Cao Miên vào cướp phá, ông cố giữ thành để chống cự, nhưng không có tiếp viện nên thành bị hạ, ông bị sa vào tay giặc. Quân giặc dụ hàng nhưng ông không chịu khuất phục và bị chúng giết hại. Sau đó, quân triều đình đã đánh tan quân giặc.

     Ông được vua Minh Mạng truy tặng Trung phụng Đại phu, hàm Nhị phẩm, được thờ ở đền Trung Liệt tại Huế. Năm 1836, triều đình cho rước hài cốt của ông về táng ở Tràng Lang, Định Tiến tại cánh đồng Đồi Quang.

10/ĐINH BỒ (?-1427)

     Danh tướng cụôc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông quê ở Thuỷ Cối (nay thuộc xã Minh Tiến, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hoá), là em Đinh Lễ, anh Đinh Liệt, là cháu bên ngoại của Lê Lợi. Lúc đầu ông được phân công phụ trách việc quân lương. Sau đó, ông được cử chỉ huy đội quân Thiết Đột. Đội quân Thiết Đột do ông chỉ huy rất giỏi phục kích nên đã từng thắng nhiều trận như: trận Lạc Thuỷ (1418); trận Nga Lạc (1419); trận Thi Lang (1420), trận này đội quân của ông đã tiêu diệt được hơn một ngàn tên địch, Lý Bân và Phương Chính đã thoát chêt trong trận này.

     Khi tiến quân vào Nghệ An,ông đã lập nhiều công trong trận hạ đồn Đa Căng, trận Trà Lân, trận Khả Lưu. Vì vậy ông được phong chức Thượng tướng, hàm Thiếu bảo. Tháng 7 năm ất tỵ (1425), ông được cử chỉ huy một ngàn quân cùng với tướng Doãn Nỗ, Lê Định tiến vào giải phóng Tân Bình-Thuận Hoá để mở rộng địa bàn về phía Nam. Cùng với sự phối hợp của thuỷ quân, vùng Tân Bình-Thuận Hoá được giải phóng. Ông được cử ở lại làm trấn thủ nơi này.

      Cuộc kháng chiến đang chuẩn bị bước vào giai đoạn quyết liệt nhất thì vết thương của ông trong trận Hồ Xá lại tái phát, rất nhiều lương y đã cố giắng chạy chữa nhưng không được. Ông mất vào ngày 15 thàng 7 năm Đinh Mùi (1427). Nghe tin dữ, Lê Lợi đã sai người mang sắc phong quốc tính, tước Thái bảo và áo gấm đỏ vào khâm liệng.

      Năm 1428, khi Lê Looơị lên ngôi đã gia phong cho ông tước Uy dũng Đại vương, Trung đẳng Phúc thần và sai lập đền thờ ở Thuận Hoá.

11/NGUYỄN HỮU CẢNH (KÍNH) (1650-1700)

     Danh tướng của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, người có công thành lập các dinh Trấn Biên (Đồng Nai), Phiên Trấn (Gia Định). Ông là con của Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật. Ông là người Gia Miêu, huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung, Thanh Hoá). Năm 1692, ông làm Tổng binh đánh dẹp cuộc nổi dậy của Bà Tranh và lập trấn Thuận Thành (thuộc Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay), sau đó lại dẹp cuộc nổi dậy của A Ban câu kết với ốc Nha Thát. Nhờ đó ông được cử làm trấn thủ dinh Bình Khang (vùng Khánh Hoà-Bình Thuận). Năm 1698, ông được chúa Nguyễn cử làm Thống suất chưởng cơ kinh lược vùng Gia Định (đồng bằng sông Cửu Long). Hơn một năm sau, ông đã tổ chức được các đơn vị hành chính, xây dựng chính quyền các dinh, huyện, xã và chiêu tập dân nghèo khai hoang định cư lập làng xóm. Sau khi ông mất, chúa Nguyễn phong tặng là Hiệp trấn công thần, đặc tiến Chưởng cơ dinh Tướng quân, Lễ Tài hầu, an táng tại Cù Lao Phố (Biên Hoà, Đồng Nai). Nhiều làng, ấp ở Gia Định thờ ông làm thành hoàng.

12/ĐINH LỄ (?-1427)

    Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, người Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hoá, Việt Nam. Gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình nói rằng ông là dòng dõi của Nam Việt vương      Đinh Liễn con vua Đinh Tiên Hoàng. Đinh Lễ là cháu gọi Lê Lợi bằng cậu. Ông là người dũng cảm, nhiều mưu lược, võ nghệ hơn người, khi còn trẻ thường làm cận vệ cho Lê Lợi. Những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn ông theo Lê Lợi chiến đấu vùng núi chí Linh trải qua nhiều gian khổ.

    Năm 1424, quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An, đánh nhau to với quân Minh ở Khả Lưu. Đinh Lễ cùng Lê Sát xông lên phía trước, các tướng sĩ thấy vậy cùng tiến theo, đánh bại quân Minh, đuổi Trần Trí, Sơn Thọ, bắt được nhiều tù binh. Sau trận đó ông được Lê Lợi phong chức Tư không.

     Năm 1425, quân Lam Sơn vây Lý An, Phương Chính ở Nghệ An, Đinh Lễ được sai đi tuần ở Diễn châu. Ông đặt phục binh ngoài thành, đón đánh tướng Minh là Trương Hùng vận 300 thuyền lương từ Đông Quan (Hà Nội) tới. Hùng bỏ chạy, Đinh Lễ cướp được thuyền lương, thừa thế đuổi đánh quân Minh đến tận Tây Đô (Thanh Hoá).

     Lê Lợi sai Lê Triện, Lê Sát tiếp ứng cho ông, đánh tan quân Minh buộc địch rút vào thành. Đinh Lễ chiêu dụ dân cư Tây Đô, chọn người khoẻ mạnh đầu quân vây thành.
  Tháng 8 năm 1426, sau khi làm chủ từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.

    Lê Triện tiến đến gần Đông Quan đánh bại TrầnTrí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan (Thăng Long, Hà Nội).

    Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Vua Minh lại sai Vương Thông mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Đinh Lễ, Nguyễn Xí.

    Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân bắt được thám tử của Vương Thông, hai tướng biết Thông định chia đường, hẹn nhau khi pháo nổ thì quân mặt trước mặt sau cùng đánh úp Lê Triện. Ông và Nguyễn Xí bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động, rồi đốt pháo giả làm hiệu cho quân Minh tiến vào. Quân Vương Thông mắc mưu rơi vào ổ phục kích, bị đánh thua to. Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân Minh bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.

    Lê Lợi được tin thắng trận liền tiến đại quân ra bắc, vây thành Đông Quan. Đinh Lễ được lệnh cùng Nguyễn Xí mang quân vây phía nam thành.

    Tháng 2 năm 1427, tướng Minh là Phương Chính đánh úp Lê Triện ở Từ Liêm, Triện bị tử trận. Tháng 3 Vương Thông đánh trại quân Lam Sơn ở Tây Phù Liệt. Tướng Lê Nguyễn cố thủ rồi cầu viện binh. Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí được lệnh mang 500 quân thiết đột tiếp viện, đánh đuổi quân Minh đến My Động. Hậu quân Lam Sơn không theo kịp, Vương Thông thấy vậy bèn quay lại đánh, hai tướng cưỡi voi bị sa xuống đầm lầy, bị quân Minh bắt mang về thành. Đinh Lễ không chịu hàng nên bị địch giết. Lê Lợi nghe tin ông mất rất thương tiếc.

    Năm 1428, khi Lê Lợi lên ngôi vua truy tặng ông làm Nhập nội kiểm hiệu tư đồ. Năm 1484, Lê Thánh Tông gia phong làm thái sư Bân quốc công, về sau tấn phong Hiển Khánh vương.

    Em Đinh Lễ là Đinh Liệt cũng là một công thần khai quốc nhà Hậu Lê. Cả hai anh em ông đều được đặt tên phố ở trung tâm Hà Nội ngày nay.

13/ĐINH LIỆT (?-1471)

    Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, người Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá, Việt Nam.

     Gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình nói rằng ông là dòng dõi của Nam Việt vương Đinh Liễn con vua Đinh Tiên Hoàng.  

   Đinh Liệt cùng anh ruột là Đinh Lễ là cháu gọi Lê Thái Tổ bằng cậu. Ông khi còn trẻ thường đi theo cận vệ cho Lê Lợi.

    Những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn, ông theo Lê Lợi chiến đấu vùng núi chí Linh trải qua nhiều gian khổ.

    Năm 1424, quân Lam Sơn chiếm được thành Trà Lân, sắp đánh thành Nghệ An. Các tướng Minh mang quân thuỷ bộ cùng đến. Lê Lợi chia cho Đinh Liệt 1000 quân sai đi theo đường tắt chiếm trước huyện Đỗ Gia (nay là huyện Hương Sơn). Lê Lợi nhử địch vào ổ phục kích để Đinh Liệt đánh tập hậu, quân Minh thua to.

    Năm 1427, quân Lam Sơn vây Đông Quan (Hà Nội), anh ông là tướng Đinh Lễ bị tử trận. Lê Lợi bèn phong ông làm Nhập nội thiếu uý Á hầu.

    Cuối năm 1427, Liễu Thăng mang viện binh sang, ông được lệnh cùng Lê Sát mang quân lên Chi Lăng, góp sức diệt địch, chém được Liễu Thăng, đánh tan đạo viện binh.

    Đầu năm 1428 ông được xếp vào chức thủ quân thiết đột. Trong số những công thần theo Lê Lợi từ hội thề Lũng Nhai thì Đinh Liệt được xếp hàng đầu, phong làm Suy trung Tán trị hiệp mưu bảo chính công thần Vinh lộc đại phu tả kim ngô đại tướng quân, tước Thượng tri tự.

    Năm 1429, khi khắc biển công thần, Đinh Liệt được phong làm Đình Thượng hầu.

    Năm 1432, ông được phong làm Nhập nội tư mã, tham dự triều chính.

    Tháng 5 năm 1434 đời Lê Thái Tông có quân Chiêm Thành vào cướp phá, ông được lệnh lĩnh các quân Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá đánh địch. Quân Lê đi đến Hoá Châu, vua Chiêm vội rút về.

    Năm 1444 đời Lê Nhân Tông, vua còn nhỏ, có người vu cáo ông, thái hậu Nguyễn Thị Anh cầm quyền nhiếp chính sai giam cả nhà ông dưới hầm. Nhờ có người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan xin hộ, đến tháng 6 năm 1448 ông mới được tha ra, nhưng vợ con vẫn bị giam. Đến tháng năm 1450 gia đình ông mới được thả.

    Trong niên hiệu Diên Ninh của Lê Nhân Tông (1454-1459), ông được giữ chức thái bảo.

    Năm 1459, anh vua Nhân Tông là Lê Nghi Dân giết vua cướp ngôi. Ông cùng Nguyễn Xí, Lê Lăng cầm đầu các tướng làm binh biến lật đổ Nghi Dân đưa hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông. Tháng 6 năm 1460 ông được phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Bình chương quân quốc trọng sự, Nhập nội thái phó Á quận hầu. Trong năm đó ông liên tiếp được gia phong.

    Tháng 12 năm 1460, ông cùng Lê Lăng đi đánh tù trưởng họ Cầm làm loạn, được thăng lên chức thái sư phụ chính.

    Năm 1465, Nguyễn Xí mất, Đinh Liệt làm quan đầu triều, từ đó thường quyết định nhiều việc lớn của triều đình, được vua và các quan lại rất tôn trọng.

    Năm 1470, Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ông làm chức Chinh lỗ tướng quân, cùng Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) làm tiên phong đi trước, đánh chiếm kinh thành Đồ Bàn, bắt vua Chiêm là Trà Toàn.

    Năm 1471, ông mất, được truy phong là Trung Mục vương. Ông là một trong những công thần khai quốc sống lâu nhất sau khi nhà Hậu Lê thành lập, sống tới tận thời Hồng Đức. Con cháu Đinh Liệt sau tiếp tục nối đời làm quan cho nhà Hậu Lê và thời Lê-Trịnh.

    Theo gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình, Đinh Liệt còn để lại một số bài thơ nói về Vụ án Lệ Chi Viên đương thời. Ông cùng anh là Đinh Lễ đều được đặt tên phố ở trung tâm Hà Nội ngày nay.

14/LÊ THÀNH (?-?)

Vị tướng tài phò vua Lê Lợi và được phong tới chức Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Tổng Quản Thượng Tướng Quân. Cụ Lê Thành quê ở xã Lam Sơn, huyện Thiệu Hóa, Tỉnh Thanh Hóa, họ Đỗ nhưng vì có công lớn với đất nước nên được Vua sủng ái cho ghép Họ Vua để con cháu sau này mang họ Lê Đỗ. Trong cuộc chiến chống quân Ngô, cuối cùng Cụ bại trận vong tại Thuận Hóa. Bà vợ cả có tên là Nguyễn Thị Cả thay chồng đem quân đuổi giặc nhưng không kịp đành tuẩn tiết. Bà cả không có con. Bà thứ có tên là Nguyễn Thị Phái, quê ở ấp Đình Hương, nổi danh về nhan sắc tuyệt vời đã cùng Con - Cháu dựng nên thôn Định Hòa ngày nay. Nghè Đình Hương và Phủ Mẫu ở chân núi Đình Hương cách thôn Định Hòa gần 1 km là nơi thờ cúng hai Bà, nhưng tiếc thay, do chiến tranh tàn phá đã bị xóa hết dấu tích. Là vị Thành Hoàng của thôn Định Hòa, bàn thờ cụ Lê Thành trước đây đặt tại ngôi đình cũ đã được chuyển về Phủ Thờ gần đấy từ năm 1994. Cuốn thế phả đầu tiên của họ Lê Đỗ được ghi chép bằng chữ Hán từ đời thứ nhất đến đời thứ 15. Tới năm 1943, Thế Phả được ghi thêm bằng chữ Quốc Ngữ và tới năm 1983 được bổ sung bằng tiếng Việt hoàn toàn. Từ đời thứ 13, một số chi nhánh đã tự ý đổi qua họ khác như Lê Văn, Lê Đình, Đỗ Công, Đỗ Trọng,... Vì vậy, kể từ đời thứ 16 trở về sau, trong gia phả họ Lê Đỗ chỉ còn ghi chép con cháu Cụ Lê Đỗ Gốc (thuộc đời thứ 11) và Cụ Gốc được coi như Cụ Tổ của dòng họ Lê Đỗ sau này. Mộ Cụ Tổ đã được cải táng về Nghĩa Trang của Họ Lê Đỗ từ năm 1993. Ngày Giỗ Tổ là ngày mùng 1 tháng 5 âm lịch.

15/THƯỢNG TƯỚNG TRẦN KHÁT CHÂN

   Ông thuộc dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, một danh tướng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông ở thế kỷ 13. Cũng theo sử cũ, Trần Bình Trọng thuộc dòng dõi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, người sáng lập nhà Tiền Lê thế kỷ 10. Như thế, Trần Khát Chân gốc họ Lê ở Châu Ái. Văn bia xã Tương Mai ghi năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) cho biết ông sinh ngày Tân Sửu, tháng Chạp, năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370).

    Năm Kỷ Tỵ (1389), quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hóa, Hồ Quý Ly đem quân đi chống cự. Bị thua, Quý Ly trốn về Thăng Long. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông bèn sai Trần Khát Chân làm tướng đem quân đi chặn đánh giặc đang theo đường sông Hồng tiến về Thăng Long. Ông "vâng mệnh, khảng khái rỏ nước mắt lạy tạ rồi ra đi". Thượng hoàng cảm động cũng khóc, lấy nước mắt tiễn đưa.

    Quân Đại Việt đến Hoàng Giang thì gặp địch. Ông liệu nơi ấy không thể đánh nổi nên rút lui về phục binh ở ngã ba sông Hải Triều và sông Nhị Hà. Ngày 23 tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), thuyền địch đi qua đấy, ông tập trung hỏa pháo bắn vào thuyền vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga. Bồng Nga chết tại trận, quân Chiêm tan tác như rắn mất đầu, vội rút về nước không dám gây sự nữa. Chiến công này đã cứu Thăng Long khỏi tai họa bị tàn phá. Ông được phong làm Long Tiệp Bổng thần Nội vệ Thượng tướng, tước Vũ tiết quan Nội hầu và được ban thái ấp ở vùng Kẻ Mơ, phía nam kinh thành Thăng Long.

    Năm 1399, thấy Hồ Quý Ly chuyên quyền, giết vua Trần Thuận Tông, ông cùng một số vương hầu nhà Trần mưu sát Hồ Quý Ly trong hội thề ở núi Đốn Sơn (xã Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc). Việc bị bại lộ, hơn 730 người bị giết. Người đời truyền rằng khi sắp bị chém, Trần Khát Chân gào thét ba tiếng. Chết qua ba ngày sắc mặt vẫn như còn sống.
Tại nơi ông bị hành hình, sau có đền thờ ở làng Phương Nhai và ở sườn núi Đốn Sơn. Ba tổng Cao Mật, Bỉnh Bút, Nam Cai có tới 29 làng cúng tế. ở Thăng Long, dân vùng Kẻ Mơ cũng lập đền thờ, tạc tượng đá, dựng bia ghi nhớ công đức của ông. Hiện nay, ở Hà Nội có đường phố mang tên Trần Khát Chân.

Tham khảo thêm: DÒNG THƠ XỨ THANH

   Xứ Thanh, vùng đất địa linh nhân kiệt, vùng đất tối cổ, nơi phát tích phần lớn các vương triều Việt Nam. Ắt là nơi hội tụ nhân tài của cả nước, từ thời Bà Triệu, Dương Đình Nghệ, Lê Đại Hành đến Lê Thái Tổ và Trịnh – Nguyễn sau này. Xứ Thanh cũng trở thành đối tượng thẩm mỹ của các hồn thơ dân tộc. Cảm quan xứ Thanh, trong cái hùng vĩ bao la hội tụ hồn thiêng sông núi, với Lam Kinh, Hàm Rồng, Ba Dội, Thần Phù, Lạch Bạng… Tìm đến xứ Thanh, xứ sở thanh bình, khoảng trong trẻo của tâm hôn, con người giản dị, mộc mạc, tình quê đậm đà êm dịu những nỗi niềm trăn trở. Xứ Thanh, vùng quê văn hóa có sắc thái riêng.

    Cho nên xuyên suốt lịch sử Văn học dân tộc có dòng thơ xứ Thanh, giọng thơ xứ Thanh, góp phần phong phú cho thơ ca dân tộc và những nét rất riêng của một miền thơ. Cố công đi tìm ta sẽ thấy dáng vẻ tâm hồn xứ Thanh qua thơ xứ Thanh. Văn hóa xứ Thanh là một trong những yếu tố cơ bản chi phối điệu thơ xứ Thanh.

    Từ hào khí Bà triệu, hào khí Lam Sơn, hào khí Cần Vương đánh Pháp, đến hào khí cách mạng vô sản, cha ông ta đã xây dựng những viên đá tảng cho nền thơ xứ Thanh và thơ ca dân tộc. Cũng cần thấy rằng xứ Thanh là một trong những vùng đất với tư cách là đối tượng thẩm mỹ, có vị trí quan trọng trong sự trưởng thành của hồn thơ cách mạng Tố Hữu, là cái duyên buổi đầu với cách mạng của nhà thơ Xuân Diệu hòa tâm hồn vào vùng đất xứ Thanh…

    Với những bông hoa đầu mùa, những tác phẩm thơ thành công trong cách mạng tháng 8 và buổi đầu kháng chiến chống Pháp, điều thú vị là sự xuất hiện phần lớn những cây bút xứ Thanh như: Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Thôi Hữu, Minh Hiệu, Hữu Loan, Hà Khang đủ điều kiện để khẳng định vị trí xứ Thanh – Cái nôi buổi đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Và thời kháng chiến chống Mỹ, trên văn đàn thơ Việt Nam lại trào lên những thành tựu của thơ ca người Thanh Hóa như Vương Anh, Nguyễn Duy, Mã Giang Lân, Lê Đình Cánh, Văn Đắc… Mới đây tìm ra Cầm Giang với những bài thơ nổi tiếng trong nền thơ Việt Nam : Nhớ vợ (bút danh Cầm Vĩnh Uy), Em Tắm (bút danh Bạc Văn Ùi), Núi Mường Hung – Dòng sông Mã, người con gái Châu Yên, Mộ bên đường… Ông tên thật là Lê Gia Hợp (1932 -1989), quê ở làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

    Mảnh đất xứ Thanh, mảnh đất của sử thi và thế sự, con người xứ Thanh chân chất, hiền hòa, sống nghĩa tình, trọng thủy chung, có cả chút phóng túng ngang tàng trong mạch ngầm trăn trở, hướng về cội nguồn trong tâm thức, tâm linh.

    Vùng quê và con người Thanh Hóa, thấm đượm trong thơ xứ Thanh ở chỗ này, chỗ kia mỗi bài thơ của tác giả xứ Thanh. Xu hướng giữ gìn bản sắc dân tộc, cảm quan của các nhà thơ đương đại xứ Thanh trong quá trình biểu hiện tâm hồn, còn thể hiện cả chất liệu văn hóa xứ Thanh trong thơ. Ta gặp giọng điệu của sử thi Đẻ đất Đẻ nước mà ngây ngất thi sĩ trong thơ Vương Anh. Trăn trở hào hùng mà tình tứ trong thơ Huy Trụ. Cái ào ạt mà sâu lắng của người cửa sông trong thơ Nguyễn Ngọc Quế, Lã Hoan. Lối thơ duyên dáng nhẹ nhàng sâu kín thấm đẫm niềm thương của Đăng Sơn, Đào Phụng. Mai Ngọc Thanh “Lặng lẽ xanh” với lỗi thơ tạo hình gây ấn tượng mạnh, cách nói cách nghĩ độc đáo. Lời bình dị mà tứ sâu trong thơ Đinh Ngọc Diệp. Văn Đắc giữa hai bờ hư thực với câu thơ phóng túng ào ạt. Mạnh Lê rung lên cảm xúc trong chiều sâu văn hóa từ ẩn ức tâm linh. Lê Hai trăn trở đời thường. Phạm Khang ngất ngây đi tìm giọng điệu thơ mới lạ riêng cho mình. Nguyễn Minh Khiêm tung phá tìm thể nghiệm mới. Quế Anh, tứ và lời táo bạo. Nguyễn Trọng Liên trầm sau hai thời điểm quá khứ và thực tại với số phận con người. Lê Đình Bằng với trữ tình thế sự. Lê Văn Sự với giọng thơ êm ả đồng quê. Lâm Bằng tắm hồn trong Cỏ đón từng “Giọt nắng” cho đời. Cao Sơn Hải thả bút, hồn bay cao với mọi miền quê đất nước để rồi về với Mùa xuân bản mường và Người đàn bà vùng cao, nhìn quê hương sâu sắc hơn. Và cả đội ngũ người làm thơ dân tộc thiểu số có nhiều tìm tòi trong tiếp biến văn hóa dân tộc mình như: Bùi Nhị Lê, Bùi Tiên, Vi Lập Công, Cầm Bá Lai, Bùi Kim Quy, Bùi Chí Hăng, Cao Hồng Minh… Ta yêu cái thơ ngây êm ả mà sâu sắc trong dòng thơ viết về đề tài thiếu nhi trong thơ Đỗ Xuân Thanh, Nguyễn Ngọc Quế, Mai Ngọc Uyển. Nguyễn Cảnh Hưng tỏ ra tài hoa và mạnh bạo với dòng thơ thế sự trào phúng. Phạm Cú cần mẫn trong dòng thơ lý luận đạo đức. Và thơ của các nữ sĩ xứ Thanh, vốn thơ mang nhiều nữ tính, nên thơ nữ đầy ắp chất thơ. Ta gặp thơ Kim Quy trăn trở hoài niệm, thơ Vũ Thị Khương mang tứ gọn, lời thơ dụi dàng duyên dáng. Nguyễn Thị Nhung với điệu nói mộc mạc xứ Thanh. Và còn nhiều gương mặt thơ nữa đang có xu hướng tự khẳng định mình. Hỗ trợ cho các nhà thơ trên đất Thanh còn có biết bao nhà thơ quê Thanh ở mọi miền tổ quốc có nhiều đóng góp cho thơ hiện đại Việt Nam như: Lữ Giang, Cầm Giang, Hồ DZếnh, Lê Đại Thanh, Nguyễn Bao, Định Hải, Xuân Sách, Lê Đình Cánh, Lê Văn Vọng, Trần Vũ Mai, Nguyễn Duy, Mã Giang Lân, Anh Chi, Trịnh Thanh Sơn, Phạm Đình Ân, Mai Văn Hai, Trịnh Anh Đạt, Lê Minh Hoài, Nguyễn Hoa, Lê Thị Kim, Lê Tuấn Lộc… Có thể nói trên mảnh đất xứ Thanh đang nở rộ đội ngũ thơ đi tìm sáng tạo mới.

    Trên đất nước của thơ ca này, làm thơ cực dễ, ai cũng làm được thơ ca. Nhưng làm được thơ hay cực khó, mà thơ hay mới đúng được, thế nào là thơ hay đó là điều còn nhiều bàn cãi. Chỉ có thể nói một cách chung chung là thơ hay là phải có sức sống trong thời gian, nhiều người nhớ, nhiều người thuộc (có thể quên cả tác giả và tên bài thơ). Nhà thơ Trần Mạnh Hảo có quan niệm Thơ nói cho cùng sống bằng câu chữ ít khi sống bằng bài. Một câu thơ thơ hay thường là hình ảnh biểu tượng gây ấn tượng với nhiều ý nghĩa, vừa sâu sắc vừa thâm trầm, vừa bay bổng tài hoa. Một câu thơ dù thông minh uyên bác đến đâu mà thiếu hồn vía, thiếu cảm xúc thì vẫn chưa thể là câu thơ hay được. Nếu thế thì thơ Thanh Hóa có số lượng câu thơ hay không nhỏ so với các vùng thơ của cả nước. NGUỒN: Thạch Thành.  

sau (50)
  • Báo cáo

    hanchechat 17:55 06-10-2009

    Tôi rất trân trọng khi được đọc những tình cảm, tấm lòng dành cho xứ Thanh của bác. Vì bản thân quê em cũng ở đây bác ạ. Xin gửi tặng bác vài tấm ảnh

    Mắm tôm Nga Bạch, huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hoá

    [IMG]http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/mamtomNgaSon.jpg[/IMG]

    Mắm moi(mắm chua)

    [IMG]http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/mamchua.jpg[/IMG]

    Cà pháo, mắm tôm

    [IMG]http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/caphaomamtom.jpg[/IMG]

    Là bạn thân của riềng mẻ, thịt chó

    [IMG]http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/thitchomamtom.jpg[/IMG]

     

    Báo cáo

    chuongluu18:16 06-10-2009

    Cám ơn Cháu đã đọc bài viết và quan tâm đến xứ Thanh Quê mình. Mời cháu ăm món thịt cày nấu một nồi và mắm tôm Nga Sơn Quê hương của Mai An Tiêm

    Mắm tôm Nga Bạch, huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hoá

    chưa vắt chanh

    sau khi vắt chanh

    Mắm moi(mắm chua)

    Cà pháo, mắm tôm

    Là bạn thân của riềng mẻ, thịt chó


  • Báo cáo

    hanchechat 17:51 06-10-2009

    Tôi rất trân trọng khi được đọc những tình cảm, tấm lòng dành cho xứ Thanh của bác. Vì bản thân quê em cũng ở đây bác ạ. Xin gửi tặng bác vài tấm ảnh

    Mắm tôm Nga Bạch, huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hoá

    [IMG]http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/mamtomNgaSon.jpg[/IMG]

    Mắm moi(mắm chua)

    [IMG]http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/mamchua.jpg[/IMG]

    Cà pháo, mắm tôm

    [IMG]http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/caphaomamtom.jpg[/IMG]

    Là bạn thân của riềng mẻ, thịt chó

    [IMG]http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/thitchomamtom.jpg[/IMG]

     

     

    Báo cáo

    chuongluu18:03 06-10-2009

    http://i667.photobucket.com/albums/vv39/mautimhoasimth1/thitchomamtom.jpg
  • Báo cáo

    Manh Cuong 13:59 18-09-2009

    Có bài cháu mới đăng, về tuyên bố của các nhà khoa học của viện IDS phản đối về quyết định 97 của Thủ tướng. Mời chú ghé thăm và bình luận nhé.
  • Báo cáo

    cherry7220 10:26 18-09-2009

    ôi bác ở xuân hòa àh? cháu cũng là dân thanh hóa đó bác. cháu đang học ở trong nam và...nhiều khi nhớ quê kinh khủng luôn bác ạh. thế bây giờ bác ở đâu vậy ạh?

    chúc bác một ngày mới vui vẻ nhé

    Báo cáo

    chuongluu10:36 18-09-2009

    Bác ở Thành Nhà Hồ
    Hồi nhỏ bác đang ngồi trên cổng thành đấy

  • Báo cáo

    doilabekho 20:08 17-09-2009

    cảm ơn Bác đã ghé thăm, em cũng là thành viên của quê ta đó, về quê anh xã mùa hè thích nhất là món canh cua đồng nấu rau đay Bác ạh. chúc anh vui vẻ
    Báo cáo

    chuongluu10:42 18-09-2009

    Cám ơn cháu đã ghé thăm tệ xá của quê choa, xin mời xơi bát canh cua rau đây đặc sản quê choa nha

  • Báo cáo

    Xuân Hoà 12:23 13-09-2009

    Bài thơ đó là của nhà thơ Nguyễn Duy ( cũng là nguời Thanh Hoá) làm.Cháu có sưu tầm nhiều bài thơ về xứ Thanh lắm,hôm nào rảnh rỗi chảu sẽ đăng lên.
    Báo cáo

    chuongluu10:40 18-09-2009


     

  • Báo cáo

    Xuân Hoà 17:03 11-09-2009

    cái cổng kia chắc là ở làng Trung rồi,bây giờ ở quê mình mới xây nhiều cái cổng làng đẹp lắm bác ạ
    http://img.tamtay.vn/files/photo2/2009/7/7/9/184994/4a52afd2_3f955832_15.jpg

    giới thiệu với bác kênh thông tin của huyện mình http://thoxuan.good.to/
    Báo cáo

    chuongluu08:39 12-09-2009

    Cám ơn cháu có bài thơ hay

    Rau Má
    Mới nghe em chớ vội cười
    Cây rau má - “Sâm“ của người xứ Thanh*
    Miền quê bão lụt nắng hanh
    Vươn lên để sống chỉ nhành má thôi
    Cứ xanh rười rượi với đời
    Cứ chia sẻ tất cho người cháo rau !
    Dù ai lận đận nơi đâu
    Dù ai sống giữa nhà lầu xe hơi
    Riêng vị rau má, em ơi
    Vẫn còn ngai ngái trong người xứ Thanh
    Bao giờ em về quê anh
    Mà xem dấu vết Kinh thành xa xưa
    Vĩ nhân và các đời Vua
    Cũng từ rau má, ốc cua nên người !
    Mới nghe em chớ vội cười.


  • Báo cáo

    Buu Dinh 10:09 10-09-2009

    Cám ơn bài viết có giá trị và rất công phu của bạn.
    Báo cáo

    chuongluu15:55 10-09-2009

    Cám ơn Buu Dinh ssã ghé thăm và để lại lời bình
    Chúc bạn luôn vui, mời bạn đặc sản xứ thanh nha:

  • Báo cáo

    Xuân Hoà 10:14 08-09-2009

    Ơ thế chú là người cùng làng với cháu ạ.Biết tin này cháu vui lắm,quê mình nhiều người giỏi thật
    À chú ơi triều Tiền Lê kéo dài được có 29 năm từ năm 980 đến năm 1009,trải qua 3 đời vua,trong đó vua Lê Trung Tông làm vua được có 3 ngày,triều nhà Hồ cũng chỉ trị vì được 7 năm.1400 -1407.
    Vua Lê Hiến Tông và vua Tương Dực được một công thần người Thanh Hóa là Lương Đắc Bằng phò trợ nhưng mỗi ông chỉ nắm quyền được 7 và 6 năm thôi.Ông ấy đã dâng vua Tương Dực Trị bình thập tứ sách nhưng Tương Dực chỉ khen ngợi nhưng không thi hành,sau này buồn chán nên Lương Đắc Bằng cũng cáo quan về quê dạy học...



    Báo cáo

    chuongluu08:31 09-09-2009

    Bác ở làng này nè

  • Báo cáo

    Táo Xanh 11:19 07-09-2009

    Bác ơi, cháu cảm ơn bác đã cho cháu hiểu biết hơn, tự hào hơn, yêu hơn mảnh đất Thanh Hóa. Cháu sinh ra ở Nga Sơn ạ. Cháu xin phép được copy ít kiến thức về quê mình để chia sẻ với các bạn cháu bác nhé. Chúc bác mọi điều tốt lành ạ!
    Báo cáo

    chuongluu21:24 07-09-2009

    Cám ơn cháu đã ghé thăm quê choa, đồng hương mừ cứ tự nhiên thui

  • Báo cáo

    mithuatviet 14:19 04-09-2009

    Em thấy họ chế ra như thế cũng vui đây chứ? Có sao đâu bác?
    Báo cáo

    chuongluu21:25 07-09-2009


    Vừa đừa vừa thật ấy mà "Không có lửa làm sao có khói" người Thanh Hoá hay nói câu này
  • Báo cáo

    mithuatviet 14:19 04-09-2009

    Em thấy họ chế ra như thế cũng vui đây chứ? Có sao đâu bác?
    Báo cáo

    chuongluu21:26 07-09-2009

  • Báo cáo

    Tháng Tư 10:41 04-09-2009

    Ta yêu tổ quốc Việt Nam bao nhiêu,
    Càng tự hào nhiều vì mình Quê Thanh Hóa.
    Với em chỉ cần câu này là nói hết được tất cả rồi, từ hào vì mình là người xứ Thanh anh nhỉ?
    Báo cáo

    chuongluu21:28 07-09-2009

    Quê choa Thanh Hoa đẹp tuyệt vời
    Có dòng sông Mã lặng lờ trôi
    Có luỹ tre xanh bao làng xóm
    Có cánh chim câu liệng giữa trời


  • Báo cáo

    chibimaru 12:00 03-09-2009

    cháu chào bác! bác cũng quê ở Thanh hoá ạh? blog của Bác có nhiều người vào comment quá.hi.Thanh Hoá mình đất rộng người đông, đi đâu cũng được trùng phùng .Cháu quê ở Nga Sơn,quê của Mai An Tiêm nên có dưa hấu vừa ngon vừa bổ, xưa vẫn có câu: Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
    Báo cáo

    chuongluu21:32 07-09-2009

    4070711075738.gif chieu image by tuanwanderer

  • hì vô tình đọc đc và bik chú là ng thanh hoá................chúc chsu một ngày vui vẻ ạ.
    Báo cáo

    chuongluu21:33 07-09-2009

    MỜI CHÁU UỐNG TẠM LY ĐẶC SẢN QUÊ NHÀ CHO ĐỠ NHỚ NHA

  • Báo cáo

    anngoc1954 07:57 03-09-2009

    Chúc bạn ngày mới yên bình;
    Thưở học tại trường Cán bộ Tòa án Hà Nội (1982-1984), trong lớp có các bạn quê Thanh Hóa, chúng tôi hay trêu trọc ăn rau má phá đường tàu, nhưng chúng tôi cười đùa vui vẽ, các bạn sống rất chân tình, mỗi tháng các bạn về quê đem lên lọai thuốc lá đầu lọc do Thanh Hóa sản xuất tên Bông Sen? ( vì không hút thuốc nên không nhớ tên ),
    Báo cáo

    chuongluu21:46 07-09-2009

  • Nước ta đâu cũng anh hùng

    dân ta đâu cũng vô cùng chăm - ngoan

     

     hì hì...

    Báo cáo

    chuongluu21:42 07-09-2009

  • Thấy THANH HÓA QUÊ CHOA là bu vào đây.

    Chào bác, nhà cháu cùng quê với Chúa Chổm, cụ thể hơn là nơi bà Triệu Thị Trinh lập căn cứ, Tiên ông Chân Nhân và quê ông Lê Bật Tứ. Nhà cháu ở Tân Ninh, Triệu Sơn, mừng quá đọc được entry này để hiểu và biết hơn về nơi mình sinh ra.

    Cảm ơn bác rất nhiều!

    Báo cáo

    chuongluu21:36 07-09-2009


    Đường Tân Ninh khó đi quá ha-Chúc bạ một ngày vui
  • Báo cáo

    Xuân Hoà 17:43 02-09-2009

    Về việc có nên chia tách tỉnh Thanh Hóa không,cháu đã viết ở đây.Nếu có sai sót mang bác góp ý hộ nhé
    http://vn.myblog.yahoo.com/xuanhoa_tx/article?mid=514&prev=-1&next=511
    Báo cáo

    chuongluu21:41 07-09-2009

    Chỉ có người TH làm vua mới được lâu, hoặc người xứ khác phảit được dân TH giúp mới được lâu, còn ngược lại không phải là dân TH hoặc không được dân TH giúp thì làm vua ngắn lắm (hình như điểm lại trong lịch sử không có ngoại lệ nào)
    Chúc Cháu một ngày vui và học tập tốt.

    Nhà chú ngày xưa ở Xuân Hoà-TX
  • Bai viet cong phu va y nghia lam
    Moi ng se hieu them ve TH
    chia se nhung gi con kho khan
    Ngoi ca nhung gi da tien bo
    Ngay quoc khanh chuc gia dinh vui ve va hp
    Báo cáo

    chuongluu09:06 07-09-2009

        Tại hội nghị tổng kết của tỉnh Thanh Hóa về công tác phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 10 tháng 6 năm 1954, đoàn dân công Thị Xã Thanh Hóa được biểu dương "Đơn vị khá về xây dựng các đoàn xe đạp thồ và các xe điển hình có năng suất cao", được nhận cờ "thi đua khá nhất" của Hồ Chủ tịch tặng. Công sức của quân dân thị trấn đặc biệt Thanh Hóa đã góp cùng quân dân cả nước, cả tỉnh làm nên chiến công chói lọi. Đập tan cụm cứ điểm Điện Biên Phủ, một cụm cứ điểm mà giặc Pháp thường hay huyênh hoang là pháo đài bất khả xâm phạm.

        Năm 1957, trong dịp vào thăm Thanh Hóa, Hồ Chủ tịch đã biểu dương: "Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã góp 12 vạn dân công vận chuyển tải lương thực cho bộ đội. Bây giờ tiếng nói Việt Nam đi đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đi đến đó, tiếng Điện Biên Phủ đi đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó"

  • Báo cáo

    Xuân Hoà 16:46 01-09-2009

    Bác đã nghe tin đồn Thanh Hóa sắp bị tách tỉnh chưa?
    Báo cáo

    chuongluu17:27 01-09-2009

    Có nghe, chia hay không là thuộc thẩm quyền của Quốc Hội và Nhà nước, nhưng theo tui nghĩ một đơn vị hành chính phải có địa giới hành chính phù hợp (điều kiện tự nhiện, sông, suối, khí hậu, văn hoá, lịch sử, phong tục, tập quán,...) nếu không tôn trọng các điều kiện trên thì hiệu quả quản lý sẽ rất kém, thậm chí chia ra rồi lại phải sát nhập lại thôi. Hà Sơn Bình, Bình Trị Thiên, Hà Nam Ninh, Gia Lai-KonTum, Đắc lắc là một ví dụ. Thậm chí ngay tên đặt cho mọt tỉnh cũng phải xem xét rất cẩn thận. Thời Pháp người ta đã nghiên cứ rất kỹ điều này. Cũng giống như người ta chia VN ra 3 miền để thu thuế NN theo đầu sào cho dễ, đồng thời qui định 1 sào của mỗi miền là bao nhiêu m2 là phù hợp cốt sao thuế của một đơn vị sào là như nhau (MB 3 vụ sào 360 m2, MT 2 vụ sào 500m2, MN và TN 1 vụ sào 1000m2). Chào thân ái nhé? Cám ơn đã ghé thăm./.
  • Báo cáo

    Xuân Hoà 09:05 28-08-2009


  • Là người lớn lên ở TH đọc bài này càng tự hào. Cám ơn bác nha.

    P/s em vốn là dân sử, nhưng cơm, áo, gạo, tiền làm mụ mẫm hết cái đầu nhà em rồi.

    Báo cáo

    chuongluu16:49 27-08-2009

    Đèo Ba dội – Bỉm Sơn-Di tích Quốc gia

                                        

    Nữ sĩ Hồ xuân Hương đã từng qua đây và đã để lại bài thơ không ai là không nhớ, không thuộc:

    Một đèo, một đèo lại một đèo

    Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

    Cửa son đỏ loét tùm hum nóc

    Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

    Cám ơn bạn đã ghé thăm quê choa và tham gia BL

  • Báo cáo

    thuyquehuong 14:49 24-08-2009

    Yêu Thanh Hóa lâu quá anh ơi
    Đồng hương có ở khắp nơi
    Thôi làm một bữa nhậu vui chơi
    Rồi đi nơi khác nghỉ ngơi anh à

    Báo cáo

    chuongluu16:38 27-08-2009

    Thành phố quê Tôi đẹp tuyệt vời

    Hướng Đông cầu “Cốc”, núi “Nhồi” hướng Tây

    Cầu “Lèn” hướng Bắc một cây

    Hướng Nam núi “Chẹt” chắn ngay lối vào

    Phát triển theo hướng nào đây ?

    Chắc theo “Từ Thức” lên mây chín tầng.

    Người dân thành phố bâng khuâng

    Quyết tìm ra hướng-nhưng không lên trời.

  • Báo cáo

    haiduong6683 10:39 24-08-2009

    Bác Chương Lưu là nhà sử học ạ? Không biết bác có dạy ở trường KHXH&NV không? Vì nếu có, đọc entry của bác thấy hấp dẫn, sinh viên được nhờ. Nếu ko thì tiếc quá! Xin lỗi các thầy, nhưng mà các thầy dạy sử, em thấy loằng ngoằng không hiểu. Giá mà có cách nào đó dạy sử đi vào long người, ko áp đặt như thế này, em đăng ký thi đại học lại. Vì họ sử như vầy gắn liền với văn hóa, mà văn hóa là nến tảng của mọi xã hội.
    Đọc tất cả comment thấy bác Chương feedback nhiệt tình. Mong bác Chương cho cháu được biết một số thông tin về bác. Nhất là số điện thoại thì cảm ơn bác lắm!!
    Báo cáo

    chuongluu12:52 24-08-2009

    Con gái TH Phát huy truyền thống Triệu Thị Trinh (có lẽ là truyền thống mẫu hệ-Âu Cơ) nên không có thói quen và động cơ lấy chồng: "Tìm một bờ vai để dựa" mà chỉ cốt tìm được người để cùng chung lưng, đấu cật và chia sẻ mà thôi, bởi vậy "nịnh đực" rất kém. Con trai Thanh Hoá thường chung tình với vợ và hầu như không bỏ vợ như các tỉnh khác (bởi vì vợ quá tốt không thể bỏ được) nhưng lại hay lấy thêm vợ (bởi gái thanh Hoá hiểu biết hơn nên dễ tha thứ hơn các gái các tỉnh khác) có lẽ tuân theo qui luật "con người ta càng hiểu biết bao nhiêu thì sự thông cảm và đức vị tha càng lớn lên theo bấy nhiêu" và bề dày lịch sử do sống ở đất nhiều vua (phong kiến nặng đã đi vào tiềm thức của từng dòng họ) nên việc ba thê, bảy thiếp nghe cũng quen rồi chăng?. Con gái TH chê người khác nhưng bênh vực chồng và tự hào về con, tuy không giỏi nhưng rất tôn trọng lễ giáo phong kiến (tam tòng, tứ đức, ngũ thường, công, dung, ngôn, hạnh, gia chánh, nữ công, thêu thùa, vá may,...)  

    Cám ơn cháu đã ghé thăm và bình luận-Chúc ngày đầu tuần vui vẻ và yêu thêm lịch sử nước nhà và ghi nhớ câu “chỉ có quyền thừa nhận lịch sử, không có quyền phê phán lịch sử, bởi vì dù muốn hay không, đẹp hay xấu thì nó cũng đã xảy ra rồi”


    Món Phi-đặc sản xứ Thanh
  • Báo cáo

    hagiang96 09:09 24-08-2009

    Một entry công phu về quê hương Thanh Hoá. Quê tôi, khu ba cũng rất gần TH, nhưng đọc bài của anh mới hiểu thêm nhiều về miền quê với tôi mang nhiều duyên nợ. Rất cảm phục tình yêu quê hương của tác giả. Nếu không phiền phức, lính tôi hân hạnh làm quen cùng giao lưu chia sẻ.
    Báo cáo

    chuongluu13:29 24-08-2009

        Dân ca ở mỗi một vùng miền đều phản ánh cuộc sống lao động vất vả hay nhàn hạ, thảnh thơi của mỗi một miền quê VN. Dân ca “Quan họ” (Còn duyên là duyên ngồi gốc cây đa,..) vùng Kinh Bắc nhẹ nhàng, thướt tha, uyển chuyển phản ảnh đời sống an nhàn của cư dân vùng lễ hội, Dân ca “Chèo” nghe ý ửi, ê a, dài dòng, lắt léo pha chút tục tĩu phản ánh cuộc sống của cư dân vùng đầm lầy, chiêm trũng (cá, tôm, cua, ốc, ếch, đồng áng, lặt vặt nhỏ nhen nhưng muôn hình, vạn trạng, lấm lem bùn đất...) một nắng, hai sương. Dân ca “Hò sông Mã” Dô tá, dô huầy, ới dô khoan ta dô khoan” phản ánh công việc nặng nhọc của cư dân miền sơn cước thượng nguồn. Dân ca Hò sông Lam và khu 4 của Bọ cũng vậy “tình tang noong tang tinh, tinh tang nọong tang tình, phen này ta phải làm thôi,...” thể hiện cuộc sống khó khăn và luôn phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt của vùng nắng hanh, gió Lào nóng hổi...Tuy nhiên về mặt bản chất “vất vả” thì giọng ca xứ Nghệ và xứ Thanh “cơ bản” giống nhau (hò chứ không hát như các tỉnh khác, vất vả nên mời hò- ý nói là phải dùng hết sức mới trình bày được cảm xúc của mình) nhưng mặt “chủ yếu” lại khác nhau một trời, một vực, đó là Dân ca Thanh hoá dùng động từ trước, tính từ sau (làm trước, nói và ca ngợi sau) tá, huầy trước rồi sau đó mới khoan. Chắc là do thói quen cậy thế (đất vua) nên qui định tính quyết đoán đến duy ý chí này chăng?  Dân ca Từ Nghệ An trở vào thì ngược lại dùng tính từ trước, động từ sau (nói, ca ngợi trước, làm sau) “tình tang” trước, phen này quyết sẽ làm... “sau” có lẽ do thói quen làm thần nên phải nịnh và lượng ý bề trên trước sau đó mới dám làm, qui định và chi phối hành vi này chăng?. Bình thường thì không ai suy nghĩ gì nhiều nhưng phân tích kỹ thì thấy khác nhau cơ bản như vậy đấy.

    -Cám ơn bạn đã ghé thăm và đọc bài viết Quê choa

    -Chúc bạn ngày đầu tuần vui vẻ


    Hình của tui đi bè luồng và hò trên Sông Mã ngày ấy.
  • Báo cáo

    Hà Hoa 16:01 23-08-2009

    Anh lý giải vần đề hoàn toàn rất xa lạ.Anh nói rằng chị ấy coi em như bạn nhưng em lại coi chị ấy như bè là không đúng sự thật.Là bạn thì mới đón tiếp chu đáo chứ nếu là bè thì em đâu phải mất công đi chợ,tiếp đón chu đáo tốn tiền làm gì?Làm sao lại cho vay tiền khi chị ấy cần ạ?Chị ấy cố tình chơi bẩn,lợi dụng em thì đúng hơn.Em rất sẵn lòng giúp đỡ người khác và mến khách nhưng em ghét người khác lợi dụng mình.Sau một thời gian,chị ấy không trả lại em số tiền đã mượn.Em đòi,chị ấy trả và mặt đỏ bừng vì xấu hổ.

    Báo cáo

    chuongluu18:26 23-08-2009

    Làm sao anh có thể biết được quan hệ cụ thể của em và Chị ta, anh chỉ dám bàn đến những cái chung nhất của người Quê choa thôi, còn những trường hợp cá biệt thì nơi nào mà chẳng có người như thế này, thế kia......Chắc em cũng bị khủng hoảng lòng tin vào một người bạn nên mới chia sẻ như vậy. Cám ơn em đã tham gia bình luận và chia sẻ-Chúc một ngày chủ nhật thật vui: Tặng em bờ rào hoa hồng để trồng đón khách ở cổng nhà mình nha:
    hong.jpg image by conhan1978
  • Báo cáo

    Hoạn Thư 11:30 23-08-2009

    Cảm ơn anh đã tặng bài Hò Sông Mã. HT cũng biết chút ít về Thanh Hóa nữa.
    Hiện nay, ở Thanh Hóa (tại Sâm Sơn) đang diễn ra Hội thi GVDG TCCN lần thứ VIII. Trường HT cũng có 3  GV đi dự. HT đã hỗ trợ cho họ một file báo cáo giới thiệu về Đồng Tháp và Trường của mình với nhiều hình ảnh và lời bình ...

    Báo cáo

    chuongluu11:55 23-08-2009

    Mời bạn ghé thăm Sầm Sơn Thanh Hoá

    Ăn đặc sản SS

  • Bài viết hay quá ...chắc phải đi du lịch môt phen mới được...
    Báo cáo

    chuongluu12:07 23-08-2009

    Mời bạn đến thăm thành nhà hồ quê choa, thuộc địa phận xã Vĩnh Tiến, huyệ Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá (cách TP Thanh Hoá 45km)

    Xem thêm mục quản cáo trong blog này
  • Báo cáo

    Hà Hoa 00:47 23-08-2009

    Anh thẳng thắn quá.Không những ngợi khen Thanh Hóa mà còn cho em biết nhiều điểm xấu của người Thanh Hóa nữa.Anh lý giải những thắc mắc của em rất cặn kẽ nên em hiểu rõ hơn rồi.Nhưng mà,nói thật với anh em vẫn buồn về một chuyện xảy ra với em.Cách đây 2 năm,em có quen với một chị cũng quê Thanh Hóa tên là Giang.Thỉnh thoảng chị ấy ra Hà Nội chơi hoặc đi công việc thường nghỉ ngơi ở nhà em.Một lần chị ấy ra nhà em chơi,không hiểu sao chị kẹt tiền.Em cho chị mượn số tiền nhỏ nhưng mà mãi chị không trả lại em,em cũng ngại nên không hỏi.Vài tháng sau,chị gọi điện báo là chiều tối hôm nay chị ra Hà Nội chơi.Em đi chợ nấu cơm tiếp đón chị và người yêu chu đáo,tối mời đi cafe.Sáng hôm sau,tụi em đi ăn sáng và cafe.Em hơi ngạc nhiên là tất cả những lần đó,chị và người yêu mặc kệ em trả tiền mà không ý kiến gì cả.Em và bạn bè em thường thì hôm nay em trả tiền,ngày mai người khác sẽ trả chứ không bao giờ để một người trả tiền(trừ trường hợp là bạn thân thì người nhiều tiền hơn sẽ trả)chứ còn ngoại giao mà như vậy thì xấu hổ lắm.Hơn nữa em lại là phụ nữ mà người yêu chị ấy không thấy ngại nhỉ?Từ đó,em thực sự thất vọng và %A

    Báo cáo

    chuongluu03:42 23-08-2009

    Phụ nữ TH được giáo dục rất kỹ về làm ơn và trả ơn (họ hiểu vấn đề này theo quan niệm của cụ Đồ Chiểu "Làm ơn há dễ mong người trả ơn" Có nghĩa là người làm ơn không mong và cũng không yêu cầu người nhận ơn mình phải trả ơn một cách sòng phẳng, vì họ nghĩ người nhận ơn luôn kém hơn và không bao giờ có thể trả nổi. Biết vậy nhưng tại sao họ vẫn gia ơn vì họ nghĩ rằng Trời, Phật hoặc những người hơn họ trong cuộc đời này sẽ trả thay cho người kia (có nghĩa là họ cũng được những người đó gia ơn hặc làm ơn lại hệt như họ đã làm vậy). Nói tóm lại họ nghĩ làm ơn thì không đòi, mà đã có ý đòi thì không làm, làm ơn mà mong trả là làm ơn có ý đồ. Họ quan niệm về bạn bè cũng rất khác các tỉnh khác Họ thích "Nhiều bạn, ít bè" còn tỉnh khác thì thích "nhiều bè, ít bạn" nên anh thấy việc của Cô bạn của em có lẽ rơi vào trường hợp hiểu nhầm giữa 2 người thôi (chị đó coi em là bạn, nhưng em coi chị đó là bè), người TH rất thô lỗ, thật thà, nhưng cũng rất cả tin, tội nghiệp....lẽ ra anh không trả lời câu hỏi của em đâu, vì nó sẽ làm mất tính chất đại diện của bài viết, muốn hiểu thêm em vào đây sẽ xem được cơ bản trả lời của anh về vấn đề này:
    http://vn.myblog.yahoo.com/hoang-thanhtrang/article?mid=158
    Chào em
  • Báo cáo

    Hoạn Thư 22:01 22-08-2009

    Hoạn Thư phải nhiều lần qua lại ngôi nhà hoa hồng này để có thể lĩnh hội  những điều anh muốn nói trong câu chuyện dài xuyên mấy thế kỷ.
    Chỉ có thể là anh Chương Lưu.

    Báo cáo

    chuongluu22:16 22-08-2009

    Cám ơn Hoạn thư đã ghé thăm và BL. Để biết thêm và TH, tặng Hoạn Thư bài dân ca hò sông Mã của dân quê choa nhé:

    Hò Sông Mã

    Ai về Thanh Hóa
    Dô tả dô tà
    Thanh hóa anh hùng
    Sáng ngời hò khoan
    ế dô khoan là hò khoan
    Miền quên Lê Lợi
    ế dô khoan là dô khoan
    Đã lừng sử sách
    Dô tả dô tà
    ế dô khoan là hò khoan

    Cho gửi cho nhắn
    Dô tả dô tà
    Cho nhắn lời mừng
    Sáng ngời hò khoan
    ế dô khoan là hò khoan
    Mừng tin thắng trận
    ế dô khoan là dô khoan
    Nức lòng quân dân
    Dô tả dô tà
    ế dô khoan là hò khoan

    Muôn người tay súng
    Dô tả dô tà
    Tay súng sẵn sàng
    Sáng ngời hò khoan
    ế dô khoan là hò khoan
    Càng hăng đánh giặc
    ế dô khoan là dô khoan
    Chứ ta càng sản xuất thắng
    Dô tả dô tà
    ế dô khoan là hò khoan

    Phen này giặc Mỹ
    Dô tả dô tà
    Giặc Mỹ tơi bời
    Sáng ngời hò khoan
    ế dô khoan là hò khoan
    Dù cho chúng xuống biển
    ế dô khoan là dô khoan
    Chứ lên trời cũng tan thây
    Dô tả dô tà
    ế dô khoan là hò khoan
    ế dô khoan là dô huầy

  • Báo cáo

    Muadongtrang 15:27 22-08-2009

    Anh có cách trả lời và lí giải mọi chuyện rất tuyệt. em khâm phục anh lắm đấy ạ. hi!

    Báo cáo

    chuongluu22:24 22-08-2009

    Thanh Hoá nợ nhà nước (năm 1985) 3,7 tỷ nhưng TH cũng cống hiến cho nhà nước rất nhiều:

          Năm 1969, Tỉnh TH đã huấn luyện 15.000 dân quân tự vệ  biết dùng súng bộ binh bắn máy bay (trong đó đa số là thanh niên). Trong trận đánh ngày 15/9/1969, đánh máy bay Mỹ từ hạm đội 7 ngoài biển đánh phá từ Hòn Nẹ đến Cửa Lạch trường, ĐVTN Hậu Lộc, Hoằng Hoá đã dũng cảm chiến đấu cùng quân dân ta bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Trong trận đó: 12 cô gái thôn Hoàng, xã Hoà Lộc (Hậu Lộc) do Tô Thị Đạo chỉ huy đã cùng đơn vị chiến đấu ngoan cường với giặc trời. Hai cô gái Nguyễn Thị Vy (17 Tuổi), Lê Thị Thảo (20 tuổi) đã vượt sóng ra khơi dưới làn bom đạn địch làm nhiệm vụ cứu thương binh, tiếp đạn cho tàu hải quân chiến đấu. Rồi bến phà Ghép, dốc Bò lăn là những “toạ độ lửa” quyết liệt, nơi quân thù dội mưa bom, bão đạn hòng chặn đường tiếp tế cho miền Nam. Trên đất lửa Quảng Bình, Quảng Trị biết bao người con thân yêu của quê hương đã ngã xuống cho mạch máu giao thông đưa hàng ra tiền tuyến được nối liền. Dẫu phải đổ máu hy sinh nhưng  bom đạn quân thù đâu khuất phục được ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, tinh thần quả cảm vô song của TNXP Thanh Hoá đã anh dũng chiến đấu lập nên nhiều chiến công góp phần quan trọng làm nên đại thắng mùa xuân 1975; làm nên bản anh hùng ca của tuổi thanh xuân Thanh Hóa trên đường tới chiến trường ngày ấy. Tại miền Tây Thanh hoá, TNXP xây dựng Sân bay Sao vàng (Thọ xuân) trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; Trong quá trình lao động mặc dầu tuổi trẻ trên công trường xây dựng phải chịu đựng hàng vạn tấn bom, đạn các loại của máy bay Mỹ suốt ngày đêm ném xuống sân bay và các khu lân cận. Nhưng Đoàn TN quyết hy sinh sức lực, trí tuệ và cả phần xương máu để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng sân bay Sao vàng. Đoàn hứa "quyết tử cho sân bay Sao vàng quyết sinh", đã phấn đấu suốt ngày đêm liên tục lao động quên mình và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trước thời hạn một năm".vv..

  • Đây là lời bình riêng
    Đây là câu trả lời riêng
  • Đây là lời bình riêng
    Đây là câu trả lời riêng
  • Báo cáo

    Hà Hoa 09:53 22-08-2009

    Chào anh!Em không biết nhiều về Thanh Hóa nhưng qua bài viết của anh thì Thanh Hóa là mảnh đất đẹp giầu truyền thống lịch sử.Nói chung là mọi điều thật tuyệt vời.

    Em có một thắc mắc mà không có lời giải.Ví dụ như thỉnh thoảng ngồi xem mấy anh ở cơ quan chơi bài với nhau nếu có anh nào chơi xấu thì mọi người đều mắng"á à,cậu chơi bài kiểu Thanh Hóa hả?"Hoặc là nếu nhà ai có việc gì cần tìm người lao động làm giúp thì lại bảo"anh chạy ra chợ người tìm cho em mấy anh Thanh Hóa vào đây!"Thêm một câu chuyện nữa:anh bạn em đang chát,có một nick lạ vào chát cùng,nick cô bé là"emgaisuthanh"(em gái sứ Thanh)nói chuyện được một hồi,anh bạn biết cô bé người Thanh Hóa,anh ấy cáo lỗi bận và không nói chuyện nữa.Tại sao mọi người thường ác cảm với người Thanh Hóa vậy hả anh?Em thắc mắc mãi mà không có lời giải nè.Xin lỗi,vì có thể em làm anh và một số người không vui!

    Báo cáo

    chuongluu11:33 22-08-2009

    Trước hết em hãy đọc kỹ 62 comment của các blogger bình về Bài viết và trả lời của anh sẽ hiểu thêm phần nào về những thắc mắc của em. Tấm huân chương mặt phải của nó bao giờ cũng lấp lánh, lấp lánh không phải vì nó lấp lánh mà lấp lánh bởi vì mặt trái của nó rất sần sùi. Cơ bản người Thanh hoá tính tốt rất nhiều, nhưng điểm nhược (nhất là những điểm chủ yếu) cũng không ít. Người thah hoá (đất vua, chúa) nên có tính hiếu thắng và khinh người, chời cờ chơi bài thì chỉ muốn thắng hoặc hoà, không bao giờ chịu thua, và dùng mọi thủ đoạn để thắng, nếu không được sẽ xoá bàn cờ. Người Thanh Hoá không khen ai bao giờ chỉ có chê, mặc dù bản thân mình không bằng ai (do bản chất đất vua), sống đố kỵ, ghen ghét hẹp hòi, hy tranh cãi để giành phần tắng nếu thua hay dùng vũ lục (do sống ở miền sơn cước (mạch cường) nên tính khí nóng nảy, lỗ mãng. Do Thanh Hoá đông dân nhất so với các tỉnh (gần 4triệu người), đất đai cằn cỗi, nên làm ở quê thường không đủ ăn, phải đi làm thuê, người ta thích thuê dân thanh hoá bởi vì rẻ, nhiệt tình với công việc (nói năng kém nên làm việc chân tay hiệu quả hơn). Gái thanh hoá nổi tiếng đảm đang, mùa đông chồng ở nhà bế con, sưởi ấm, gái Thanh hoá vẫn đi cày bình thường và hầu như làm hết phần việc nặng nhọc trong gia đình...làm nhiều nên nói năng sấc xược, người ta hay nói gái xứ thanh “con gái chưa chồng, đặt vòng tránh đẻ”; “Gái Thanh hoá khoá viro” là nói theo kiểu “không ăn được thì đạp đổ đấy thôi” dĩ nhiên gái Thanh hoá không biết nịnh trai nên con trai tỉnh khác ít có cảm tình, còn đọc trên báo, đài, nhà hàng khác sạn tỷ lệ gái Thanh làm nghề mại dâm rất ít so với các tỉnh khác do xứ thanh là nguồn gốc của phong kiến Việt Nam nên con gái xứ Thanh làm nghề này không được quê hương và dòng họ chấp nhận, trừ trường hợp đi ra khỏi quê hương.

  • Báo cáo

    Hoa vàng 23:08 21-08-2009

    Báo cáo

    chuongluu13:10 22-08-2009

    CHÍN ĐỜI CHÚA MƯỜI BA ĐỜI VUA NGUYỄN CỦA DÂN QUÊ CHOA (1558-1945)

     

        Nếu không kể thời gian trị vì ngắn ngủi của nhà Tây Sơn (1788-1801) thì từ khi Đoan quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá(1558) cho đến ngày vua Bảo Đại thoái vị (tháng 8-1945)dòng họ Nguyễn đã cai trị miền Nam (1558-1776) và trị vì ngôi báu (1802-1945) non 4 thế kỉ với 9 đời chúa và 13 đời vua!. Trong 9 đời chúa nhiều vị có công đức độ nhưng cũng có vị bất tài đưa nhân dân đến tình cảnh lầm than.Trong 13 đời vua có người góp công thống nhất đất nước có người có công xây dựng đất nước có ông ra công cứu nước có ông cam tâm bán nước và cũng có ông làm bù nhìn cho thực dân Pháp!Nhưng xét một cách tổng quát thì không ai có thể phủ nhận thành tựu mà nhà Nguyễn đã mang lại  cho quốc gia dân tộc:

    1.Mở mang đất nước từ Thuận Quảng tới tận mũi Cà Mau

    2.Duy trì những thành tựu của nhà Tây Sơn tiến hành công cuộc thống nhất đất nước,thành lập nước Việt Nam hoàn chỉnh cho tới ngày nay!

    3.Xây dựng Kinh đô Huế với thành quách,đền miếu uy nghi,tráng lệ thể hiện rõ bản sắc Việt Nam để ngày nay được công nhận là di sản văn hoá nhân loại

    Cám ơn Hoa Vàng đã ghé thăm, chúc bạn ngày nghỉ cuối tuần có nhiều niềm vui nhất

  • Báo cáo

    Ướt Mi 16:01 21-08-2009

    Quê của mình đẹp quá bác hê. Nhưng la7u lắm rùi Ướt Mi không về thăm.

    Bài viết của bác hơi dài . em chư đọc kỷ. Cứ commt như thế là tạm thời Bác nhé !

    Báo cáo

    chuongluu13:12 22-08-2009

    13 đời vua nhà Nguyễn

    1/Gia Long Thế Tổ Cao Hoàng Ðế (1762-1820)  

    2/Minh Mạng Thánh Tổ Nhân Hoàng Ðế (1791-1840)

    3/Thiệu Trị Hiến Tổ Chương Hoàng Ðế (1807-1847)   

    4/Tự Ðức Dực Tông Anh Hoàng Ðế (1829 -1883)

    5/Dục Ðức Công Tông Huệ Hoàng Ðế (1853-1883)

    6/Hiệp Hoà (1847-1883)

    7/Kiến Phúc Giảng Tông Nghị Hoàng Ðế (1869-1884)

    8/Hàm Nghi (1871-1943)

    9/Ðồng Khánh Cảnh Tông Thuần Hoàng Ðế (1864-1889)

    10/Thành Thái Hoài Trạch Công Hoàng Ðế (1879-1954)

    11/Duy Tân (1900-1945)

    12/Khải Ðịnh Hoằng Tông Tuyên Hoàng Ðế (1885-1933)

    13/Bảo Ðại (1913-1997)

    http://lichsuvn.info/index.php/Tu-lieu/-13-doi-vua-nha-Nguyen.html

    Cám ơn cháu đã ghé thăm và BL

  • Báo cáo

    Người Ban mê 11:29 21-08-2009

    Thật đáng tự hào về quê mình bác nhỉ.
    Báo cáo

    chuongluu20:09 21-08-2009

    Danh sách 13 đời chúa Trịnh (chính thức 8 đời hưng thịnh)

    Làng Đa bút-Xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá

     Cám ơn bạn đã ghé thăm và BL

    Chúa

    Vương hiệu

    Ở ngôi

    1/Trịnh Kiểm

    Thế Minh Khang Thái vương

    1545-1570

    2/Trịnh Cối

    Không

    1570

    3/Trịnh Tùng

    Thành Tổ Triết vương

    1570-1623

    4/Trịnh Tráng

    Văn Tổ Nghị vương

    1623-1652

    5/Trịnh Tạc

    Hoằng Tổ Dương vương

    1653-1682

    6/Trịnh Căn

    Chiêu Tổ Khang vương

    1682-1709

    7/Trịnh Cương

    Hy Tổ Nhân vương

    1709-1729

    8/Trịnh Giang

    Dụ Tổ Thuận vương

    1729-1740

    9/ Trịnh Doanh

    Nghị Tổ Ân vương

    1740-1767

    10/Trịnh Sâm

    Thánh Tổ Thịnh vương

    1767-1782

    11/Trịnh Cán

    Điện Đô vương

    9-10/1782

    12/Trịnh Khải (Tông)

    Đoan Nam vương

    10/1782-1786

    13/Trịnh Bồng

    Án Đô vương

    9/1786-9/1787

  • Bài viết công phụ quá ... các bài bình cũng mang nhiều tình cảm chân thành.

    Nhìn chung Entry này là tuyệt. KTQ thấy rất hay!

    Chào!

    Báo cáo

    chuongluu00:13 21-08-2009

    Cám ơn KTQ đã ghé thăm, đọc xong bài Quê choa và BL.
     

        Tôi chẳng thể nào quên những sớm mai hồng

        Người gánh dừa Quảng Xương rao mời trái ngọt

        Bà bán canh hến rao tiếng rao, tiếng rao lảnh lót

        Hến sông Chu, sông Mã  đều ngon

        Mùa xuân về, chùm táo chín Mật Sơn

        Gọi chúng tôi về hái quả

                                                         Lữ Giang

    Mời ăn tạm đặc sản canh Hế sông Mã quê choa

  • Báo cáo

    vinhthinhloc 16:27 20-08-2009

     Đồng ý với bạn Thanh Hoá những năm gần đây đã có nhiều đổi thay, nhưng Thanh Hoá sẽ đổi thay nhanh hơn nếu biết bỏ đi những thói quen xấu mà chính mỗi bản thân chúng ta không nhận ra, hoặc đã nhận ra nhưng do thói quen cũng rất khó sửa chữa, đó là (xấc sược, tự phụ, chà đạp, ghen ghét, đố kỵ,..thói quen “cậy thế” của người đất Vua. Rất vui vì bạn đã ghé thăm và Tâm sự -Chúc một ngày có nhiều niềm vui. - Chào Chuongluu!

    Nghe bạn "tâm sự" về Thanh Hoá cứ như là ...Hoa kiều nói về...Trung Quốc vậy! Người ở ...nước ngoài có lẽ nhìn về "Tổ quốc" rõ hơn (và nói dễ hơn) chăng?!Nhưng hiệu quả thì cũng có lẽ ... hơi khó!!

    Nếu năm 1990 Chuongluu đã từng là trưởng phòng KH-KT Xí nghiệp đá ốp lát Vĩnh Minh (Phạm Huy Quất Giám đốc )! Thì hình như chúng ta đã gặp nhau (thậm chí đã ngồi uống rượu cùng ở quán trên làng Bồng-quê Huy Trụ!!!) !Hồi đó -1988-1999) Moa công tác tại Ban an toàn Lao động-Sở Lao động TBXH Thanh Hoá, đi cùng với Mai Quang Lộc(bạn của A.Quất)-sau này làm trưởng ban - lên kiểm tra công tác an toàn lao động của xí nghiệp!..Hai ba năm trước Moa cùng A. Lộc còn đến thăm A.Quất(ở trên Nhồi)... Nhưng giờ không rõ ở đâu....

    Báo cáo

    chuongluu00:35 21-08-2009

    Cám ơn đã ghé thăm và BL. Nếu bạn biết số dd của Anh Quất cho tôi xin nhé, vì cũng lâu lắm rồi không gặp lại anh ấy (kể từ 1992 anh ấy bỏ vào Qui Nhơn và hình như bỏ luôn vợ)
    Đây là cảnh chất thải của xí nghiệp đá ốp lát Vĩnh Minh
    Chúc Bạn luôn vui. Ở Vĩnh Thịnh tôi có biết Thầy Hanh, anh Kiên, thằng Phi (cháu thầy Hướng). Nếu gặp cho tôi gửi lời chào nha. Chắc bạn đang công tác ở tp Thanh Hoá. Tôi nhớ Vĩnh Thịnh có đặc sản Ôc biêu, mắm tép..Cũng có thể tôi đã nhậu cùng bạn nhưng do quá lâu rồi và tôi cũng đi quá nhiều nơi nên cũng không nhớ rõ. Cám ơn đã chia sẻ
  • Đây là lời bình riêng
    Đây là câu trả lời riêng
  • Báo cáo

    Cá Gỗ 10:11 20-08-2009

    Em thấy câu "nhưng Thanh Hoá sẽ đổi thay nhanh hơn nếu biết bỏ đi những thói quen xấu mà chính mỗi bản thân chúng ta không nhận ra, hoặc đã nhận ra nhưng do thói quen cũng rất khó sửa chữa, đó là (xấc sược, tự phụ, chà đạp, ghen ghét, đố kỵ,..thói quen “cậy thế” của người đất Vua" này của Bác thì không chỉ áp dụng cho riêng Thanh hóa đâu bác nờ, hu hu, chí lý, chí lý, hu hu hu hu.
    Báo cáo

    chuongluu11:20 20-08-2009

    Thói quen, lề lối, tập quán tốt sẽ được công nhận và trở thành "phong tục" cần lưu giữ và phát huy. Ngược lại sẽ bị coi là "Hủ tục" cần bài xích và loại bỏ. Cái còn lại trong khi những cái khác lần lượt bị mất đi gọi là "Văn hoá"
    Cám ơn Bạn đã ghé nhà nhiều lần và tham gia Bình luận cho bài viết Quê choa. Tặng bạn bài thơ nói về huyện quê choa sát kề dân cá gỗ nha:
    TĨNH GIA
                          Thơ:Tố Hữu

    Chiều thu về lại Tĩnh Gia
    Đêm rằm sáng quá như là chiêm bao!
    Qua đây, lại nhớ năm nào
    Xé trời đạn lửa, bom đào, đất rung
    Đường ra mặt trận, miền Trung
    Quân dân ta vẫn trùng trùng tiến lên...

    Bây giờ đất lặng trời yên
    Vàng đồng lúa chín, lạc chen xanh đồi
    Ngọt ngào tôm cá biển khơi
    Phố làng ngói mới, mặt người thanh tân
    Vui sao tiếng hát tuổi xuân
    Trăng thu vằng vặc, trong ngần Tĩnh Gia.
                                 (20-10-1986)

  • Báo cáo

    Thôn nữ 08:35 20-08-2009

    Bài viết của bác hay lắm ạ. rất công phu hoành tráng.
    Báo cáo

    chuongluu11:29 20-08-2009

    ........................Mạnh Lê
    Dô tả, dô tà cầu ta vẫn vững
    Mặt trời đỏ au như mặt trống đồng
    Nước vẫn trong xanh uốn bờ đá dựng
    Dô tả, dô tà ai đẩy giùm anh
    Thuyền anh đang xuôi đừng ai đẩy ngược
    Yêu mê nói đùa ghét ưa nói thật
    Răng, rứa, mô tê… cũng vào dân ca
    Thương nhau cửa biển, cưới nhau trên ngàn
    Lá rách lá lành, thuyền sao lái vậy
    Dô tả, dô tà một đoạn đường sông
    Sóng gió ngả nghiêng như triều, như thác
    Cám ơn KL đã ghé thăm và BL-Chúc một ngày có nhiều niềm vui-Mời bạn ăn tạm tô canh rau má để nhớ những ngày gian khổ của người Quê choa:

  • Báo cáo

    vinhthinhloc 22:04 19-08-2009

    Chào Chuong luu! Không ngờ còn có người yêu quê đến vậy! Nhưng cách nhìn có vẻ hơi cũ! Thanh Hoá đã /đang/sẽ có nhiều đổi khác..."Không ai có thể tắm 2 lần trên một dòng sông"!
    Báo cáo

    chuongluu23:12 19-08-2009

    “Không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”

    Về nghĩa đen:

    Vì khúc sông chảy mỗi giây mỗi khác mà người tắm trên nó cũng vậy. Nước sông của 1 giây sau đã khác với nước sông bạn tắm 1 giây trước.

    Về ghĩa bóng:

    Đời sống luôn biến đổi không ngừng, con người cũng không phải là ngoại lệ.

    Về nghĩa khôi hài: Không thễ tắm hai lần cùng một nơi, không thễ yêu hai lần cùng một người, không thể đánh giá bản chất con người của một vùng, một miền theo quan điểm định kiến, bát biến  mà phải nhìn nhận đánh giá theo theo quan điểm phát triển, một người không thể có 2 quê.   

         Câu này của triết gia Hy Lạp cổ đại Heraclite nói vào năm 500 trước Công Nguyên, đây là nguyên văn: "Mọi vật đều sẽ thay đổi, con người không thể tắm hai lần trên một dòng sông". Câu này còn cũ hơn lịch sử của Dân Quê choa đúng không vinhthinhloc ? Dùng câu này để nhìn nhận, đánh giá sự phát triển của một tỉnh thành, sự thay đổi về bản tính mang tính lịch sử của con người ở một vùng, miền tôi e không hợp cho lắm. Đồng ý với bạn Thanh Hoá những năm gần đây đã có nhiều đổi thay, nhưng Thanh Hoá sẽ đổi thay nhanh hơn nếu biết bỏ đi những thói quen xấu mà chính mỗi bản thân chúng ta không nhận ra, hoặc đã nhận ra nhưng do thói quen cũng rất khó sửa chữa, đó là (xấc sược, tự phụ, chà đạp, ghen ghét, đố kỵ,..thói quen “cậy thế” của người đất Vua. Rất vui vì bạn đã ghé thăm và Tâm sự -Chúc một ngày có nhiều niềm vui.

  • Báo cáo

    tina 10:16 19-08-2009

    Báo cáo

    chuongluu12:43 19-08-2009

    Cám ơn đã ghé thăm và để lại dấu vết-Tặng bạn bài thơ quê choa:

    CẦU BỐ (Cái cầu con con)

                                        ST

    Ai qua Thanh Hoá về Quảng Xá
    men rượu là hương vị của làng tôi
    nhắc cầu Bố chắc nhiều người còn nhớ
    đình nhà Lê rêu phủ đã bao đời

    Nhà tôi đó không cổng và không cửa
    ai ghé qua cứ việc hút thuốc lào
    cha tôi chạm rất nhiều cửa sổ
    gió nồm nam cứ thoải mái ra vào

    Đường làng tôi tiếng xe thồ lọc xọc
    chiếc xe thồ từng đẩy tới Điện Biên
    ngược dòng sông Mạ lên Tây Bắc
    ai xuôi về cũng sốt kinh niên

    Những năm bom đạn như reo mạ
    lại chiếc xe thồ đi về nam
    cha tôi qua cầu Bùng cầu Ghép
    tôi nhìn theo chớp lửa nhập nhoàng

    Cỏ đã mọc ai còn thấy nữa
    vết xe thồ vẹt đỉnh Trường Sơn
    ai thấy nữa ông già đầu bạc xoá
    đẩy xe thồ ngang dọc lũng Tà Cơn

    Cha tôi đó, dân làng tôi vậy đó
    xả hết mình khi nước gặp tai ương
    rồi thanh thản trở về với ruộng
    sống lặng yên như cây cỏ trong vườn
    Cha tôi đó, suốt đời thồ nặng
    trĩu cả hai vai việc nước việc nhà
    bom rồi bão mấy lần nhà sập
    lụi cụi tuổi già, con cháu đi xa...

    Ngày họp mặt cha già như trẻ lại
    bếp rượu giữa nhà và bạn bè vây quanh
    con đường chiến tranh còn ngoằn ngoèo trong ruột
    càng thêm say hương rượu nếp thanh bình


  • Đây là lời bình riêng
    Đây là câu trả lời riêng
  • Báo cáo

    Sông Mùa Thu 22:36 18-08-2009

    chẳng bao giờ đọc entry LC mà  kg rớt con mắt ra .

    TUI ĐỌC HAI BÀI THƠ THẤY VUI VUI NHẸ NHÀNG THÍCH THÍCH..

     

    Báo cáo

    chuongluu23:07 18-08-2009

    Cám ơn Sông Mùa Thu đã ghé thăm quê choa và BL
    http://a367.yahoofs.com/lifestory/6ALOT7__DOT__eBQKFGh1C__DOT__Qdk8NwgyBsTtHhb_3/blog/20090616100415528.jpg?lb_____DLyy2oyhl
    Xin mời ăn tạm đặc sản quê choa nhé
    http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thanhnhan/20081103/141.jpg
  • Báo cáo

    KnguyenL 19:12 18-08-2009

    Buổi tối vui vẻ nhé a.
    Báo cáo

    chuongluu19:59 18-08-2009

    HẬU LỘC
                                       THƠ:TỐ HỮU

    Ghé thăm Hậu Lộc, chợ Dầu
    Rẽ qua Hanh Cát, Hanh Cù làng xưa
    Rừng phi lao dịu nắng trưa
    Xoã xanh mái tóc, hàng dừa đưa duyên
    Biển vui sóng dỡn mạn thuyền
    Mát chân lối cát, chẳng quen ngõ về
    Ngày xưa, mái rạ phên tre

    Mà nay nhà bạn bốn bề gạch xây
    Vườn xưa, dứa dại, gai mây
    Mà nay na, mít, trái cây trĩu cành
    Cháu con rúi rít vây quanh
    Nhìn ông khách lạ... Chú Lành khác đâu ?
    Bạn rằng: dù bạc mái đầu
    Thuỷ chung nghĩa nặng tình sâu vẫn là...
    Ôm hôn hai má bạn già
    Ra về ấm mãi lòng ta với đời.

  • Báo cáo

    minhanh 17:51 18-08-2009

    Bác đi mô mà vắng nhà rồi! Thôi em viền đây! Hihi... Đúng TH không anh?
    Chiều và tối vui anh nhé!
    Báo cáo

    chuongluu19:25 18-08-2009


    TĨNH GIA

                          Thơ:Tố Hữu

    Chiều thu về lại Tĩnh Gia
    Đêm rằm sáng quá như là chiêm bao!
    Qua đây, lại nhớ năm nào
    Xé trời đạn lửa, bom đào, đất rung
    Đường ra mặt trận, miền Trung
    Quân dân ta vẫn trùng trùng tiến lên...

    Bây giờ đất lặng trời yên
    Vàng đồng lúa chín, lạc chen xanh đồi
    Ngọt ngào tôm cá biển khơi
    Phố làng ngói mới, mặt người thanh tân
    Vui sao tiếng hát tuổi xuân
    Trăng thu vằng vặc, trong ngần Tĩnh Gia.
                                 (20-10-1986)
    IMG0005A.jpg image by thnguyen12345
  • Đây là lời bình riêng
    Đây là câu trả lời riêng
sau (50)
  • Thư mục: Thư các loại |
    Đăng ngày: 14:16 07-09-2009
    Thư gửi vợ chưa cưới   "Có thể vợ mình ngày xưa cũng có một người yêu Người ấy gọi vợ mình là người yêu cũ..."       &n...
    Lời bình (25) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: Thơ Toán-Lý Hoá |
    Đăng ngày: 19:50 06-09-2009
    Thơ tình Lý-Hóa                      Sưu tầm Khi tôi nói em đừ...
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: Thơ Toán-Lý Hoá |
    Đăng ngày: 19:48 06-09-2009
    Thơ tình môn Vật lý Nếu anh là dòng điện I vôn Em sẽ là quả bóng đèn cần điện Và mẹ em biến trở của dây dòng Trời sinh ra để cản đường dòng điện Và bố em cầu d...
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: Thơ Toán-Lý Hoá |
    Đăng ngày: 19:45 06-09-2009
    BÀI THƠ TÌNH VÔ CỰC  (TOÁN 10) Anh đau đớn nhìn em qua quỹ tích Tình em nào cố định ở nơi đâu Anh tìm em khắp diện tích địa cầu Nhưng căn số đời anh đành cô độc ...
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)

Hình ảnh trong blog

Sửa Đóng

Thống kê

Sửa Đóng

Thống kê

  • Khách hôm qua: 54
  • Tổng số khách: 7575
  • lượt xem hôm nay: 56
  • Tổng lượt xem: 28158
  • Bài viết: 142
  • Hình ảnh: 470
  • Lời bình : 2735

Tìm

Sửa Đóng

Tìm


Mô-đun 5

Sửa Đóng

Thời tiết hôm nay

Mô-đun 6

Sửa Đóng

Chào cờ

Mô-đun 4

Sửa Đóng

MP3.ZING.VN

Mô-đun 8

Sửa Đóng

Lượt người xem

Mô-đun 1

Sửa Đóng

Đang truy cập

Mô-đun 10

Sửa Đóng

Xem hoa Quỳnh nở

Bài mới nhất

Sửa Đóng

Thư mục riêng

Sửa Đóng

Lịch

Sửa Đóng
S M T W T F S
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30  

Cập nhật ngày

Sửa Đóng

Cập nhật ngày

Cách đây 19 phút

Bình luận nhanh

Đóng

Bình luận nhanh

  1. TỶ PHÚ ĐÔ LA

    TỶ PHÚ ĐÔ LA

    Kiếm tiền từ máy tính của bạn. Bạn muốn kiến tiền... - 11:48 25-11-2009
  2. mihmih

    mihmih

    CHÚC NGỦ NGON ANH NHÉ ! - 00:44 23-11-2009
  3. motloaihoa74

    motloaihoa74

    motloaihoa74 xin cảm ơn luuchuong rất nhiều!!! - 23:49 22-11-2009
  4. www.nhincuoi.com

    www.nhincuoi.com

    - 18:14 22-11-2009
  5. (^.^) Quà Tặng CS (^.^)

    (^.^) Quà Tặng CS (^.^)

    http://quatangcs.info Ghé qua diễn dàn Quà Tặng Cuộc Sống, diễn... - 13:45 22-11-2009

Blog về tôi

Sửa Đóng

Blog về tôi

Blog tôi thích

Sửa Đóng

Blog tôi thích

  • MÌNH ZÔ SÀI GÒN

    06:47 12-11-2009

    MÌNH ZÔ SÀI GÒN MÀ KHÔNG AI BIẾT ChỊ gái cả tháng nay bệnh. Bệnh nan giải. Mình gầy rộc đi theo chị gái.......

  • Góc khuất của Tâm Không có bài nào đã đăng.

  • BIỂN 2008

    11:19 26-11-2009

    Lặng nghe sóng reoRơi về tiếng hô kéo lưới hạt huyền từ ngực bình minhLăn về giọt mồ hôi m......

  • Ngày Đông

    22:03 17-11-2009

      Đông về đầy trước ngõ Thu giờ  đã mờ  xa! Lá thưa rơi gi......

Mô-đun 2

Sửa Đóng

Đồng Hồ

Mô-đun 7

Sửa Đóng

Mời bạn uống trà và để lại lời bình

Đà Nẵng - DNG Upload - Hệ Thống Chia Sẻ Trực Tuyến tại Đà Nẵng và Miền trung

Mô-đun 9

Sửa Đóng

Bể cá cảnh

luuchuong_gl1957

 

R H
G S
B V

#