<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[luuchuong_gl1957]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957]]></link>
        <description><![CDATA[Sống trong đời cần có một tấm lòng, không làm gì cả mà để cho gió cuốn đi]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2009/11/29 17:38:16</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[Sông Mê Kông đang bị các công trình thuỷ điện xâm hại]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=4978]]></link>
            <description><![CDATA[Hình ảnh những con đập thuỷ điện đã và đang được xây dựng ở thượng nguồn sông MekongThượng nguồn sông Mê KongĐập thuỷ điện Tiểu Loan cao 292m, dung tích 15 tỷ m3 nước, công suất 4.200 Megawatt,Đập thủy điện Tiểu Loan&nbsp;cao 292 mét. Ảnh 
internetĐoạn sông được chặn dòng xây dựng đập Tiểu LoanĐập thủy điện Tiểu Loan&nbsp;cao 292 mét. Ảnh 
internetHình ảnh con sông bị các công trình thuỷ điện chặn dòng-Internet Đập thuỷ điện Mạn Loan&nbsp;Đập Đại Chiếu 



&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Theo TS.
Tô Văn Trường Ban
chủ nhiệm chương trình KC08/06-10 (Nguồn Hội đập lớn Việt Nam) 



 Trên
công luận gần đây cả trong và ngoài nước có nhiều thông tin báo động&nbsp; lo lắng về việc các nước thượng lưu sông Mê Công,
đặc biệt là Trung Quốc đã và đang xúc tiến việc xây dựng 1 loạt các đập thủy
điện sẽ tác động lớn đến các nước ở hạ lưu. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sông
Mekong là một trong mười con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên
Tây Tạng có chiều dài hơn 4.800 km, diện tích lưu vực 795.000 km2,
lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm khoảng 15.000 m3/s và tổng
lượng dòng chảy hàng năm 475 tỷ&nbsp; m3
tại châu thổ, chảy qua lãnh thổ của 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái
Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.  


 
  
  SỰ PHÂN BỐ DÒNG CHẢY TRONG LƯU VỰC SÔNG MEKONG 
  
 
 
  
  Nước 
  
  
  Tỷ lệ diện tích lưu vực (%) 
  
  
  Tỷ lệ dòng chảy đóng góp (%) 
  
 
 
  
  Trung Quốc 
  
  
  21 
  
  
  16 
  
 
 
  
  Myanmar 
  
  
  3 
  
  
  2 
  
 
 
  
  Lào 
  
  
  25 
  
  
  35 
  
 
 
  
  Thái Lan 
  
  
  22 
  
  
  18 
  
 
 
  
  Campuchia 
  
  
  20 
  
  
  18 
  
 
 
  
  Việt Nam 
  
  
  9 
  
  
  11 
  
 


Đây
là nơi sinh sống của trên 65 triệu người và có nguồn tài nguyên phong phú, đa
dạng, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế của các nước ven sông. Lưu vực sông
Mê Công có tiềm năng thuỷ điện rất lớn và phát triển thuỷ điện ở khu vực này có
khả năng sẽ tăng lên đáng kể trong những thập kỷ tới. 

Trên
công luận gần đây cả trong và ngoài nước có nhiều thông tin báo động&nbsp; lo lắng về việc các nước thượng lưu sông Mê Công,
đặc biệt là Trung Quốc đã và đang xúc tiến việc xây dựng 1 loạt các đập thủy
điện sẽ tác động lớn đến các nước ở hạ lưu. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sông
Mekong là một trong mười con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên
Tây Tạng có chiều dài hơn 4.800 km, diện tích lưu vực 795.000 km2,
lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm khoảng 15.000 m3/s và tổng
lượng dòng chảy hàng năm 475 tỷ&nbsp; m3
tại châu thổ, chảy qua lãnh thổ của 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái
Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.  



Sông
Lancang (thượng nguồn Mê Công) trên địa phận tỉnh Vân Nam của Trung Quốc
có tiềm năng thuỷ điện rất lớn. Quy hoạch bậc thang thuỷ điện trong lưu vực sông
Lancang được bắt đầu tiến hành từ những năm 1980, có 25 bậc thang trên dòng chính
với tổng công suất lắp máy là 25.870 MW và 120 trạm thuỷ điện trên các dòng
nhánh với tổng công suất lắp máy là 2.600 MW.&nbsp;
 

Hiện
nay, có 8 công trình thủy điện chính
trên sông Lan Thương (TQ gọi sông Mekong là sông Lan Thương) đã và đang xây dựng gồm: Đập thủy điện Cống Quả Kiều cao
105 m, theo kế hoạch trữ nước vào tháng 6/2011. Đập thủy điện Tiểu Loan (Xiaowan) cao 292 m, công suất 4.200 MW sẽ đưa vào
hoạt động tháng 10/2009. Đây là đập lớn thứ 2 sau đập Tam Hiệp khổng lồ trên&nbsp; sông Dương Tử. Dưới đó là đập Mãn Loan
(Man Wan) cao 132 m, dung tích 920
triệu m3, công suất 1.500 MW&nbsp; hoàn
thành 1993. Đập Đại Triều Sơn (Dachaoshan) cao 118 m, dung tích 940 triệu m3, công suất 1.350 MW hoàn
thành cuối năm 2003. Tiếp đó là đập Cảnh Hồng (Jinghong)&nbsp; cao 108 m, công suất 1.500 MW hoàn thành
2009.&nbsp; Ngoài ra, còn 3 đập khác đang
trong quá trình xây dựng là Nọa Trát Độ (Nouzhadu),&nbsp; đập
Cảm Lâm và đập Mãnh Tống nằm ở đoạn hạ lưu sông Lan Thương. Ngoài ra, Lào có kế
hoạch nghiên cứu xây dựng 23 đập thủy điện, trong đó có đập Ban Koun công suất
lớn nhất khoảng 2000 MW. Thái Lan ngoài 2 con đập Sakamen 1 và 3, đã có kế
hoạch tái khởi động xây dựng các&nbsp; đập
trên sông Mê Công dự kiến công suất 4.000 MW. Phía Campuchia cũng nghiên cứu 2
đập thủy điện là&nbsp; Sambor và Stung Treng
có công suất khoảng 3.600 MW. 

SÔNG MÊKÔNG ĐANG KÊU CỨU  Theobaoquangngai.com.vn/ channel/2031/2009/08/1716568/ (QNĐT)-Mekong Là một
trong&nbsp;những con sông lớn nhất trên thế giới, chảy qua 6 nước, Mekong được
ví như một dòng sông Mẹ. Song dòng sông ấy đang khẩn thiết kêu cứu, bởi những
dự án thuỷ điện quy mô nơi thượng nguồn đang làm đảo lộn quy luật tự nhiên của
dòng sông. 

Mekong- Con sông dài
thứ 12 thế giới: 

Sông Mekong là một trong những con sông
lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái
Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông ở Việt Nam.Tính theo độ dài Mekong là con sông có
chiều dài đứng thứ 12 thế giới &nbsp;(thứ 7 tại Châu Á), còn tính theo lưu
lượng nước đứng thứ 10 trên thế giới (lưu lượng hàng năm đạt khoảng 475 triệu
m³). Lưu lượng trung bình 13.200 m³/s, vào mùa nước lũ có thể lên tới 30.000
m³/s.&nbsp; 

Lưu vực của Mekong rộng khoảng 795.000
km² (theo số liệu của Ủy ban sông Mê Kông) hoặc hơn 810.000 km² (theo số liệu
của Encyclopaedia Britannica 2004), với chiều dài 4.800km. Lưu vực sông Mekong rộng
gần bằng nước Pháp và Đức cộng lại.&nbsp;&nbsp; 

Từ thượng nguồn đến
hạ nguồn: 

Sông Mekong xuất phát từ vùng núi cao
tỉnh Thanh Hải, băng qua Tây Tạng theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam (Trung
Quốc), qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia trước khi vào Việt Nam.
Con sông được xem là tài sản vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho những nước mà
nó chảy qua. 

Người Tây Tạng cho rằng thượng nguồn
sông Mekong chia ra hai nhánh: nhánh tây bắc (Dzanak chu) và nhánh bắc (Dzakar
chu). Nhánh tây bắc được biết đến nhiều hơn, vị thế gần đèo Lungmug với chiều
dài 87,75 km. Nhánh bắc chảy xuống từ rặng núi Guosongmucha. Nhánh này, từ độ
cao 5.224 m - , gồm hai nhánh phụ có chiều dài 91,12 km và 89,76 km. Đầu nguồn
của dòng sông đến nay đã được xác định rõ qua những cuộc thám hiểm gần đây.&nbsp; Năm 1994, một phái đoàn Trung Quốc và
Nhật Bản đã đến nguồn phía Bắc đồng lúc phái đoàn Pháp, do M. Peissel cầm đầu,
đến nguồn mạch phía tây với cùng một mụch đích: chứng minh nguồn mạch chính của
sông Mekong. Sau đó, những cuộc thám hiểm kế tiếp cho đến năm 1999 dưới sự hợp
tác các nước Trung Hoa, Mỹ và Nhật Bản đã chính thức xác minh nguồn mạch sông
Cửu Long thuộc nhánh bắc.&nbsp;&nbsp; 

Gần một nửa chiều dài con sông này chảy
trên lãnh thổ Trung Quốc, ở đó đoạn đầu nguồn nó được gọi là Dza Chu trong
tiếng Tây Tạng tức Trát Khúc và nói chung được gọi là Lan Thương Giang,
&nbsp;có nghĩa là &quot;con sông cuộn sóng&quot;. Trát Khúc hợp lưu với một
nhánh khác tên là Ngang Khúc tạo ra Lan Thương Giang. Phần lớn đoạn sông này có
các hẻm núi sâu, và con sông này rời Trung Quốc khi độ cao chỉ còn khoảng 500 m
so với mực nước biển. 

Sau đó, đoạn sông Mekong dài khoảng 200
km tạo thành biên giới giữa hai nước Myanma và Lào. Tại điểm cuối của biên
giới, con sông này hợp lưu với sông nhánh Ruak tại Tam giác vàng. Điểm này cũng
là điểm phân chia phần thượng và phần hạ của Mekong.&nbsp; 

Sông Mekong sau đó tạo thành biên giới
của Lào và Thái Lan, trước khi dòng chảy chạy vào đất Lào. Nó được người Lào và
người Thái gọi với tên Mènam Khong (Mènam nghĩa là &quot;sông&quot;). Sử Việt
Nam thì gọi là Sông Khung. Ngoài ra một nhánh nhỏ thượng lưu sông Mekong bắt
nguồn từ Điện Biên, đó là sông Pa Thơm do sông Nậm Rốn thung lũng Mường Thanh
và sông Nậm Lúa nhập làm một, khi sang đất Lào nó gặp nhánh sông Mêkông ở
BanChum. &nbsp;Bình minh Mekong - đoạn chảy qua Pakbeng, Lào (Ảnh flickr)&nbsp; 

Khoảng sông ở Lào đặc trưng bởi các hẻm
núi sâu, các dòng chảy xiết và những vũng nước sâu khoảng nửa mét vào mùa khô.
Nó mở rộng ra ở phía nam Luang Prabang, ở đó nó có thể rộng tới 4 km và sâu tới
100 mét. 

Con sông này sau đó lại làm biên giới
của Lào và Thái Lan trong đoạn chảy qua Viêng Chăn, sau đó lại là một đoạn ngắn
chảy trên đất Lào. Ở đoạn này có chi lưu chính hữu ngạn từ Thái Lan đổ vào:
Mènam Mun dài 750 km. Nó bao gồm cả khu vực Si Phan Đôn (bốn ngàn đảo) phía
trên thác Khone gần biên giới Campuchia. Thác nước này dài 15 km, cao 18m khá
hùng vĩ và gần như không thể vượt qua đối với giao thông bằng đường thủy. 

Tại Campuchia, con sông này có tên là
sông Mékông hay Tông-lê Thơm (sông lớn). &nbsp;Ở phía trên Phnôm Penh nó hợp
lưu với Tông-lê Sáp, con sông nhánh chính của nó ở Campuchia. Vào mùa lũ, nước
chảy ngược từ sông Mê Kông vào Tông-lê Sáp. 

Bắt đầu từ Phnôm Pênh, nó chia thành 2
nhánh: bên phải là sông Ba Thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu giang hay sông Hậu)
và bên trái là Mekong (sang Việt Nam gọi là Tiền giang hay sông Tiền), cả hai
đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng
220-250 km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mêkông còn có tên gọi là sông Lớn, sông
Cái, hay sông Cửu Long. 

Con sông nuôi sống
hàng triệu người: 

Nguồn tài nguyên quan trọng và dồi dào
nhất của lưu vực Mekong là nước và đa dạng sinh học. Sự đa dạng sinh học của
các loài động thực vật của lưu vực Mekong chỉ xếp sau lưu vực Amazon ở Nam Mỹ.
Dòng chảy của sông Mekong rất dồi dào nuôi dưỡng vùng đất ngập nước và rừng
rộng lớn, vận chuyển và cung cấp vật liệu xây dựng, thuốc và lượng thực và là
môi trườngsinh sống cho hàng ngàn loài động thực vật.&nbsp; Nguồn thuỷ sản của lưu vực Mekong rất
dồi dào với tổng sản lượng cá đánh bắt hàng năm lên tới 1,45 tỷ đô la Mỹ. Trong
lưu vực Mekong có nhiều khoáng sản như thiếc, đồng, quặng sắt, khí ga tự nhiên,
Kali Cacbonat và đá quí. 

Vùng hạ lưu vực sông Mekong thuộc 4 nước
Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam là quê hương của 60 triệu người với trên 100
dân tộc khác nhau sinh sống làm thành một trong những vùng đa dạng văn hoá nhất
trên thế giới. &nbsp; 

Nông dân trong lưu vực sản xuất một
lượng lúa đủ nuôi sống 300 triệu người trong 1 năm. Khoảng 85% dân số trong lưu
vực làm nông nghiệp và ngư nghiệp. Nông dân trong lưu vực Mekong đã bắt đầu
canh tác ruộng nước từ thế kỷ thứ nhất. Ngày nay, hàng ngàn nông dân đã có cơ
hội canh tác 2 đến 3 vụ trong một năm trên vùng đất do khoảng 12.500 hệ thống
cấp nước tưới.&nbsp; 

Lưu vực sông Mekong là một trong những
vùng có sản lượng cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới. Trong lưu vực có trên
1300 loài cá sinh sống và chế độ dòng chảy dao động theo mùa đã cung cấp môi
trường và thức ăn cho các loài động vật thuỷ sinh của lưu vực. Ước tính người
dân trong lưu vực tiêu thụ khoảng nửa triệu tấn cá một năm. Ngành thuỷ sản
không chỉ mang lại việc làm và thu nhập cho ngư dân mà còn là còn mang lại việc
làm cho hàng ngàn người khác làm các nghề liên quan đến thuỷ sản như sản xuất
thức ăn cho cá, làm lưới và công cụ đánh bắt, sửa chữa tàu thuyền,… 

Ngoài ra, các công trình thuỷ điện trong
lưu vực Mekong sản xuất ra 1600 MW điện cung cấp cho dân sinh kinh tế không chỉ
trong mà còn cả ngoài lưu vực. Theo ước tính trữ lượng thuỷ điện vùng hạ lưu
vực sông Mekong là 30.000 MW đủ cung cấp nhu cầu tiêu thụ điện của vùng trong
thập kỷ tới. Tuy nhiên các hồ chứa, công trình thuỷ điện cũng là một đề tài có
nhiều tranh cãi trong thập kỷ qua và các Chính phủ đang vật lộn với bài toán
cung cấp năng lượng cho phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. 

Những hiểm họa đe doạ
sông Mêkông: 

Ngày 21/5/2009 trong một báo cáo LHQ
nhận định: Việc xây dựng hàng loạt con đập ở Trung Quốc trên đầu nguồn sông
Mekong là hiểm họa lớn nhất đối với tương lai của sông Mekong. Đập thủy điện Tiểu Loan&nbsp;cao 292 mét. Ảnh 
internetHiện Trung Quốc đang xây 8 đập nước
khổng lồ trên dòng chính của sông Lan Thương- tên Trung Quốc của sông Mekong.
Sau khi đưa vào vận hành ba đập thủy điện lớn là Mạn Loan, Cảnh Hồng và Đại
Chiếu Sơn, vào tháng 9 tới đây Trung Quốc &nbsp;sẽ đưa đập thủy điện Tiểu Loan
vào hoạt động. Đập này cao 292 mét, gần bằng tháp Eiffel ở Paris, công suất dự
kiến 4.200 Megawatt, hơn gấp ba lần công suất của ba nhà máy &nbsp;thủy điện
đang vận hành. 

Điều đáng lo ngại hơn cả là dung lượng
cực lớn trong hồ chứa của đập Tiểu Loan &nbsp;lên đến 15 tỉ mét khối nước, gấp
năm lần tổng dung lượng của ba con đập đã hoàn thành trước đó cộng lại. Từ mùa
hè năm nay, đập sẽ bắt đầu thực hiện nhiệm vụ chặn đứng dòng lũ lớn đổ về từ
dãy núi Himalaya và giữ lại lượng nước từ những cơn mưa lớn và tuyết tan trong
hồ chứa dài 105 dặm. Đập sẽ chính thức sản xuất điện vào năm sau và dòng điện
sẽ vươn tới tận những thành phố xa xôi như Thượng Hải cách đó 1.200 dặm về phía
Đông.Đập thuỷ điện Mạn LoanSong song &nbsp;với Tiểu Loan, một con
đập khác lớn hơn cũng đang được Trung Quốc &nbsp;ráo riết thi công là đập
Nuozhadu, với hồ chứa lên tới gần 23 tỉ mét khối nước, dự kiến hoàn thành vào
năm 2014. 

Tổ hợp tám đập này có khả năng giữ lại
một nửa lưu lượng của sông Mekong khi sông rời Trung Quốc và chảy xuôi dòng
xuống Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Trong tương lai, những
đợt lũ hàng năm sẽ được xả thường xuyên khi các turbine đi vào hoạt động. Khi
đó, mực nước trên sông sẽ dâng và hạ theo ý thích bất chợt của các kỹ sư hơn là
tự nhiên. 

Nguy cơ nước sông Mekong bị các đập thủy
điện Trung Quốc &nbsp;ở đầu nguồn hút hết với những hậu quả khôn lường đối với
các nước nằm ở hạ lưu là một trong những vấn đề từng được các nhà nghiên cứu
&nbsp;đề cập nhiều vài năm nay. 

Vào tháng 5-2009, một công trình nghiên
cứu &nbsp;giữa Cơ quan &nbsp;Bảo vệ Môi trường &nbsp;Liên hợp quốc (UNEP) và
Viện Công nghệ &nbsp;học châu Á &nbsp;(AIT) đã cảnh báo kế hoạch &nbsp;xây dựng
tám con đập trên thượng nguồn có thể trở thành mối đe dọa đáng kể cho dòng sông
và nguồn tài nguyên &nbsp;thiên nhiên đến từ sông Mekong, đặc biệt là nguy cơ
đối với Việt Nam &nbsp;và Campuchia. 

Đối với Việt Nam, lưu lượng nước sông
Mekong giảm do ảnh hưởng các đập thủy điện Trung Quốc &nbsp;sẽ làm gia tăng
hiểm họa triều cường tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một phần diện
tích đất đai bị hóa phèn sẽ không trồng trọt được. Cộng thêm với nguy cơ mực
nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu, các diện tích canh tác rộng lớn có thể
sẽ bị ngập lụt, buộc hàng triệu người dân &nbsp;phải di cư.&nbsp; 

Đối với Campuchia, tình hình cũng không
sáng sủa hơn. Mực nước sông Mekong bị giảm sẽ đe dọa đến vựa cá của toàn vùng
là Biển Hồ khiến cho kế sinh nhai của hàng triệu ngư dân bị tổn hại. Tác động
của các đập do Trung Quốc xây sẽ phụ thuộc vào cách vận hành nó. Nhưng theo
quan trắc của những nhà thủy văn phương Tây, những con đập này sẽ làm giảm 1/4
lưu lượng nước ở hạ lưu sông Mekong, đủ để làm giảm một nửa lượng nước lũ ở
Phnom Penh.&nbsp; 



Các nhà thủy văn đang tranh cãi liệu
việc này có đặt dấu chấm hết cho dòng chảy ngược của Tonle Sap hay không. Tuy
nhiên, chắc chắn là nó sẽ làm giảm lượng nước của các khu rừng ngập nước với
nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với ngành thủy sản Mekong. 



Trung Quốc chặn dòng chảy của sông mà
không hề bàn thảo trước với các nước láng giềng. Năm 1995, Việt Nam, Campuchia,
Lào, Thái Lan đã thành lập Ủy ban Sông Mekong như một diễn đàn để bàn luận về
tương lai của dòng sông này. Trung Quốc chưa bao giờ tham gia và cũng chưa bao
giờ đưa việc xây đập ra để bàn bạc với ủy ban này.&nbsp; 

 



Chúng ta rất cần pháp luật quốc tế bảo
vệ những nước khu vực hạ lưu sông. Đây là điều Liên Hiệp Quốc đã nhất trí một
thập kỷ trước nhưng chưa bao giờ thực hiện. Hơn nữa, chúng ta cũng cần sự ủng
hộ của quốc tế để bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái trên những con sông hoang dã
cuối cùng. Hãy bắt đầu từ sông Mekong.  

H.L (tổng hợp) 

 

Cá heo sông Mekong
sắp tuyệt chủngQuỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF)
vừa cho hay loài cá heo nước ngọt Irrawaddy ở sông Mekong có nguy cơ sắp tuyệt
chủng khi số lượng cá thể loài này chỉ còn từ 64 đến 76, theo AFP. Nguyên nhân
dẫn đến mối nguy này được cho là các chất độc được thải trên sông. Trong hơn 50
cá thể chết từ năm 2003, người ta đã tìm thấy dư lượng thuốc trừ sâu, thủy ngân
và các chất ô nhiễm khác trong cơ thể chúng. WWF cũng tin rằng mức độ thủy ngân
cao được tìm thấy trong cơ thể những con cá heo chết có thể xuất phát từ các
hoạt động đào vàng. Cá heo Irrawaddy sinh sống tập trung ở khu vực sông Mekong
đoạn giữa Lào và Campuchia]]></description>
            <pubDate>2009/11/26 14:22:31</pubDate>
            <guid><![CDATA[Sông Mê Kông đang bị các công trình thuỷ điện xâm hại:4978]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Tình ca du mục]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=4970]]></link>
            <description><![CDATA[Tình 
ca du mục (Дорогой длинною - tiếng Nga) là một bài hát do nhạc sĩ Boris 
Fomin (1900-1948) sáng tác với phần lời của nhà thơ Konstantin 
Podrevskii.Giai điệu của bài hát được hàng triệu người Brasil chấp nhận, 
mặc dù phần lớn trong số họ không biết về nguồn gốc bài hát cũng như tên và lời 
bài hát gốc; bài hát đã được người dẫn chương trình Silvio Santos của truyền 
hình Brasil sử dụng trong nhiều năm trong Show de Calouros.Tiếng 
AnhBài hát được Mary Hopkin hát bằng từ bài hát gốc của Nga, tựa đề tiếng 
Anh là Those were the days. Bài hát đã được phát hành vào ngày 30 tháng 8 
năm 1968 như một đĩa đơn, do Paul McCartney sản xuất. Phiên bản này đã dành được 
vị trí số 1 ở trong bảng xếp hạng tại Anh và đứng thứ 2 ở Mỹ.Năm 1994, 
Cara Jones đã hát Those Were the Days trong album đầu tay của cô, album 
Different Skies. Năm 2005, Dolly Parton đã hát Those Were the Days. Parton 
đã thu âm cùng Hopkin. Năm 2006, &quot;Il Folklorista&quot; đã hát Those Were the 
Days.Those were the Days (Eugene Raskin)Once upon a time 
there was a tavern where we used to raise a glass or two. Remember how 
we laughed away the hours, think of all the great things we would 
do.Those were the days, my friend,we thought they&#39;d never end. We&#39;d 
sing and dance forever and a day. We&#39;d live the life we choose,we&#39;d fight 
and never loose, for we were young and sure to have our way.La da da 
da da da da. La da da da da da da.Then the busy years went rushing 
by us,we lost our star emotions on the way. If by chance I&#39;d see you in the 
tavern we&#39;d smile at one another and we&#39;d say:Those were the days, 
my friend,we thought they&#39;d never end. We&#39;d sing and dance forever and a 
day. We&#39;d live the life we choose,we&#39;d fight and never loose, for we 
were young and sure to have our way.La da da da da da da. La da da 
da da da da.Just a night I stood before the tavern, nothing seemed the 
way it used to be. In the glass I saw a strange reflection. Was that 
lonely woman really me?Those were the days, my friend,we thought they&#39;d 
never end. We&#39;d sing and dance forever and a day. We&#39;d live the life we 
choose, we&#39;d fight and never loose, for we were young and sure to have our 
way.La da da da da da da. La da da da da da da.Through the 
door there came familiar laughter, I saw your face and heard you call my 
name. Oh my friend, we&#39;re older but no wiser, for in our hearts the 
dreams are still the same.Those were the days, my friend,we thought 
they&#39;d never end. We&#39;d sing and dance forever and a day. We&#39;d live the 
life we choose, we&#39;d fight and never loose, for we were young and sure to 
have our way.La da da da da da da. La da da da da da 
da.Tiếng PhápBài hát cũng đã được dịch sang tiếng Pháp có tên là Le 
Temps Des Fleurs.LE TEMPS DES FLEURSDans une taverne du 
vieux Londres Où se retrouvaient des etrangers Nos voix criblées de joie 
montaient de l&#39;ombre Et nous écoutions nos coeurs chanter C&#39;était le 
temps des fleurs On ignorait la peur Le lendemain avait un goût de miel 
Ton bras prenait mon bras Ta voix suivait ma voix On était jeune 
Et l&#39;on croyait au ciel La, la, la...Et puis sont venus les 
jours de brume Avec des bruits étranges et des pleurs Combien j&#39;ai passé 
de nuit sans lune A chercher la taverne dans mon coeur Tout comme au 
temps des fleurs Où l&#39;on vivait sans peur Où chaque jour avait un goût 
de miel Ton bras prenait mon bras Ta voix suivait ma voix On était 
jeune Et l&#39;on croyait au ciel La, la, laEt ce soir je suis 
devant la porte De la taverne où tu ne viendras plus Et la chanson que 
la nuit m&#39;apporte Mon coeur déjà ne la connait plus C&#39;était le temps des 
fleurs On ignorait la peur Le lendemain avait un goût de miel Ton 
bras prenait mon bras Ta voix suivait ma voix On était jeune et on 
croyait au ciel La la la...Tiếng ViệtTình ca du mục 
Thảo nguyên bát ngát mênh mông tận chân trời Cỏ cây hoa lá hương 
thơm tỏa ngát đồng Tìm em năm tháng thấy đâu hình bóng người Em thân yêu 
ơi, biết em giờ này nơi đâuNhắn giúp cho ta chim ơi Nhắn giúp cho ta mây 
ơi Thảo nguyên bát ngát đem giấu em ta nơi nao Lần theo dấu vết em đi 
Tìm đâu cho thấy em yêu Tình yêu bốc cháy, trong tim phút giây nào nguôi 
Tháng tháng năm năm trôi qua Bão tuyết mưa rơi sương sa Tình anh vẫn 
xanh như lá cây trong mùa xuânLa la la la...(Lời 2)Dù 
cho năm tháng phôi phai hình bóng nàng Dù thời gian có xóa tan bao ước vọng 
Hàng mi đen láy như nhung vì nắng chiều Trên vai em tôi, vẫn buông dài 
đôi bím tóc ... Nhắn giúp ....Tình ca du mục
&nbsp;&nbsp;&quot; Vì sao thời gian trôi nhanh?- Vì có gió thổi đến ! &quot; 
Những cơn gió rong
chơi quên mất đường về khi năm tháng chạy dần theo năm tháng. Gió cô
đơn làm bạn cùng bầu trời, ngã soài lẩn khuất &nbsp;trong những sắc màu của mây. Gió đi rất nhiều nơi, biết rất nhiều điều và hiểu rất nhiều chuyện.
Và có một lần, gió kể em nghe về những cánh đồng ngun ngút cỏ dại, những thảo nguyên bát ngát &nbsp;mênh
mông tận chân trời. Gió nói với em về giấc mơ của một người con gái có
đôi mắt tím biếc suốt đời chỉ mong được gặp người mình yêu thương. Gió
có nói thoảng qua như rất vội rằng: gió đã gặp anh ở một nơi nào đó xa thật xa..

Trên nền nhạc du
dương, nhẹ nhàng, phiêu du như gió, em đang tưởng tượng ra trước mắt
mình một thảo nguyên ngập nắng, chan hoà tiếng ca, tiếng côn trùng kêu
rả rích sâu thật sâu trong từng múi đất, mùi thơm của cỏ mộc, hoa lá
lan toả khắp cánh đồng mênh mông. Em đang hít hà, em đang tận hưởng
những giây phút nhẹ nhõm, khoan thai của lòng mình.

Bằng những ca từ giàu hình ảnh, thoáng chút &nbsp;lãng, một chút du, bài hát đã gợi nên những rung động đến cồn cào, cháy bỏng của bất cứ người nào đang yêu và đang chờ đợi. Bản tình ca ấy anh đã bao giờ nghe chưa anh ?Một ngày nào đó yêu thương sẽ gặp được yêu thương. Lối chờ hoang vắng sẽ nở rộ loài hoa đinh hương hẹn thề. 
Thảo nguyên kết gió vào mây, gọi cây lá về cùng hương sắc để chứng kiến cuộc hàn huyên của hai giấc mơ. 
Đan tay vào nhau, người yêu nhé, &quot;tình yêu bốc cháy trong tim phút giây nào nguôi&quot;...


Thảo nguyên bát ngát mênh mông tận chân trờiCỏ cây hoa lá hương thơm tỏa ngát đồngTìm em năm tháng thấy đâu hình bóng ngườiEm thân yêu ơi, biết em giờ này nơi đâu
Nhắn giúp cho ta chim ơiNhắn giúp cho ta mây ơiThảo nguyên bát ngát đem giấu em ta nơi naoLần theo dấu vết em điTìm đâu cho thấy em thân yêuTình yêu bốc cháy, trong tim phút giây nào nguôi
Tháng tháng năm năm trôi quaGió tuyết mưa rơi sương saTình anh vẫn xanh như lá cây trong mùa xuânLa la la la...Dù cho năm tháng phôi phai hình bóng nàngDù thời gian có xóa tan bao ước vọngHàng mi đen láy như nhung vì nắng chiềuTrên vai em tôi, vẫn buông dài đôi bím tócTa vẫn đi tìm bóng hình của nhau giữa cuộc đời rộng lớn này. Anh tìm em, em mong anh. Một nửa cuộc đời ngóng vọng một nửa cuộc đời còn lại. 
Dấu chân ai đó để lại còn nguyên mùi nắng mới giữa cánh đồng thảo nguyên mênh mang. 
Dấu chân ai đó vẫn se nồng nỗi khát khao gặp được nhau. Anh đã đi tìm em đúng không? Anh ở đâu mà em chưa tìm ra?
Thảo nguyên bát ngát mênh mông tận chân trời... &quot; Câu hát khe khẽ như từng đợt sóng lòng trong em ! 
Ai đang hát ca bềnh bồng, tóc rối trong gió gửi màu chờ mong? 
Ai đang chờ ai trong khắc khoải? 
Ai đã thấy ai chưa? &quot;
Anh thân yêu ơi, biết anh giờ này nơi đâu ?Nếu là một hoạ sĩ, em sẽ cầm cây cọ và vẽ tất cả những sắc màu của nỗi nhớ và nhờ cơn gió lang thang đưa đi. 
Trong
em là mùi thơm của cỏ tê tê, là tiếng ngựa đêm cuốc bộ xa vọng. Trong
em là tiếng thở mênh mang của những cánh đồng lúa mì, là tiếng anh gọi
tên em ở một nơi xa xăm nào đó. Anh có nghe tiếng em gọi tên anh không?Nhắn giúp cho ta chim ơi, nhắn giúp cho ta mây ơi, rằng ta sẽ đợi người tại cây sồi già ở cuối cánh đồng thảo nguyên. Nhắn giúp cuộc đời ơi để ta và người không bước qua nhau...Đã hơn một lần em ước mình được tắm mình trong &quot;bình minh mưa&quot; dịu dàng và lạnh ngọt . Đã hơn một lần em ước mình là con nắng đi qua cuộc đời dầm dề mưa rơi để mang cho anh chút &nbsp;ấm áp. Và đã không biết bao nhiêu lần em nhớ anh đến đờ đẫn người…Thảo
nguyên màu tím ủ hương mọi loài hoa. Mỗi loài hoa lại được dệt từ những
điều dịu ngọt. Những dịu ngọt lại làm hồng những giấc mơ. Giấc mơ của
em có ánh mắt, nụ cười và bàn tay ấm của anh. Giấc mơ của em có những
hạnh phúc trong trẻo và ngát hương, anh biết &nbsp;không?Thảo nguyên bát ngát đem dấu người em yêu nơi nào? Sao em men theo dấu chân người mãi mà chưa thấy? &nbsp;Anh đang ở đâu? Ta đang ở đâu giữa cuộc đời rộng lớn này?...
Nhắn giúp cho ta chim ơi, nhắn giúp cho ta mây ơi, rằng &nbsp;ta sẽ đợi người tại cây sồi già ở cuối cánh đồng thảo nguyên. 
Nhắn giúp cho ta cỏ ơi vì ta và người đi tìm nhau nơi đâu cũng không đi ra khỏi ranh giới của thảo nguyên này... Lần
theo dấu vết người đi, tìm theo dấu vết anh yêu. Tình yêu bốc cháy
trong tim phút giây nào nguôi. Tim em nồng nàn bỏng cháy những ưu tư. 
Tháng
tháng năm năm trôi qua, bão tuyết mưa rơi sương sa, cuộc đời bão tố thì
tình ta trao người vẫn xanh như lá trong mùa xuân. Em ở đây, người ở
đâu tìm nhau, tìm nhau ...
Đã qua mấy mùa đinh
hương nở hoa rồi mà chúng ta vẫn là những điểm chẳng giao nhau. Thảo
nguyên chưa gửi lời nhắn của em hay anh đang trên đường đi tới chỗ hẹn?
Hay là thế? Cỏ mặt trời rối tóc và níu giữ bước chân em. Dấu chân địa
đàng vẫn ngập tràn mùi thơm củ cỏ mộc. Đâu đó có tiếng hát. Đâu đó có
những tháng ngày xanh xanh. Đâu đó đâu đây...La la la la... Những giai điệu mênh mang, mênh mang như nền trời cao rộng...
Dù
cho năm tháng có trôi qua kéo theo hình bóng người yêu và bao ước mộng
đi vào xa khuất thì niềm hoài vọng và tình yêu thương vẫn không phai mờ
trong tâm trí. 
Dù có
thể kiếp này, mình chẳng gặp được nhau nhưng một nửa này mãi thuộc về
nửa kia vì ta sinh ra là để nồng nàn cho nhau,&nbsp;nhé anh !. &quot;Cái na ná tình yêu trăm nghìn nhưng đích thực tình yêu duy có một&quot; nên ta &quot;không nhặt nhạnh của ai làm một nửa của mình&quot;. Nửa của em ơi, anh đang nơi đâu, nơi đâu?Dù cho năm tháng phôi thai hình bóng nàngDù thời gian có xoá tan đi bao ước vọngHàng mi đen láy như nhung vì nắng chiềuTrên vai em tôi vẫn buông dài đôi bím tócNgười
yêu dấu ơi, bờ mi em vẫn khát khao gặp anh. Trên vai em, hai bím tóc
dài vẫn buông buông trong gió nơi đồng nội bao la. Em vẫn ở đây, đợi
người tới hát khúc tình caAnh cứ đi đi, đừng nhìn vào triền cỏ mênh mang. Cỏ ngút ngàn, anh chẳng thấy bóng em đâu. 
Anh
cũng đừng lãng du như gió. Gió đãng trí lắm, đôi khi chẳng nhớ nổi điều
gì, chỉ biết rỗng mùa hát khúc thênh thang. Anh cứ đi đi, men theo con
đường nhỏ này đến cây sồi già ở cuối thảo nguyên, anh sẽ thấy em thôi!

Anh sẽ thấy em thôi ! &nbsp;và hãy đón em với vòng tay ấm rộng
Biết rằng anh ở một
nơi nào đó xa thật xa, biết rằng nỗi nhớ này cũng rất mơ hồ, mông lung
nhưng em biết trái tim em là có thật và đang đập cho những điều xao
xuyến, chờ mong. Và em biết rằng trái tim anh cũng có thật và anh đang
đi tìm em, tìm em. Chỉ có điều chúng ta chưa tìm ra nhau thôi, phải
không anh?Em đi về phía anh đi về phía mênh môngBằng những ảo ảnh đã hoá thành cuộc sốngHãy đón em với vòng tay ấm rộngVà nụ hôn dài dài đến triệu năm không?Nhắn giúp cho ta chim ơi, nhắn giúp cho ta mây ơi,
rằng ta đang đợi người tại cây sồi già ở cuối cánh đồng này. Nhắn giúp
cho ta cuộc đời ơi để ta và người không bước qua nhau vô tình. Thảo nguyên bát ngát mênh mông tận chân trời, người yêu ta đang nơi nao, nơi nao?

(Nguồn tổng hợp từ Net)
]]></description>
            <pubDate>2009/11/25 19:40:17</pubDate>
            <guid><![CDATA[Tình ca du mục:4970]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Phong tục hôn nhân Việt Nam]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=1807]]></link>
            <description><![CDATA[Phong Tục
Hôn Nhân Việt Nam-Thắm duyên Trầu cau &nbsp; 
I. Hôn-Nhân của Dân Việt 

Theo phong-tục Việt, cái gốc của gia-đình gọi là
hôn-nhân. Có hôn-nhân mới có vợ chồng và con cái. Mục-đích của hôn-nhân là để
duy-trì gia-thống nên việc lập gia-đình là việc quan trọng của đại gia-đình.
Việc lấy vợ lấy chồng gọi là hôn-nhân, cưới xin, hôn-thú, hôn-thư, hay giá-thú.
Trên các giấy tờ chứng-nhận, người Việt thường dùng chữ “giá-thú.” “Giá” là lấy
chồng, “thú” là lấy vợ. Còn hôn-thú chỉ có nghĩa là lấy vợ thôi.  

“Hôn” có nghĩa là bố mẹ nàng dâu, “nhân” có nghĩa
là bố mẹ chàng rể. Nghĩa tổng-quát của từ “hôn-nhân” là cưới xin (marriage).
Theo truyền-thống dân Việt, cha mẹ thường lo cho con đầy-đủ mọi thứ kể cả việc
kén vợ kén chồng cho con. Chính vì thế, việc hỏi vợ và gả chồng là bổn-phận của
cha mẹ như đã trình-bày trong các câu tục-ngữ sau đây: “Trai lớn dựng vợ, gái
lớn gả chồng, cha mẹ đặt đâu ngồi đấy.” Vì muốn gia-đình xứng-hợp, tức là “môn
đăng (đang, đương) hộ đối,” nên đã có trường hợp ngay khi những đứa trẻ còn là
bào-thai trong bung mẹ, đôi bên cha mẹ đã đính-ước với nhau rằng nếu về sau một
bên sinh con trai và một bên sinh con gái thì sẽ gả con cho nhau. Ngoài vấn đề
hai gia đình phải có “môn đăng hộ đối”(gia đình hai bên xứng đáng với nhau),
trai gái còn phải tốt-nghiệp trường cao-đẳng thì mới thành vợ thành chồng vì
“Phi cao-đẳng bất thành phu phụ.” 

Ở Việt-Nam trước đây, con trai mười sáu tuổi và
con gái mười ba tuổi đã bắt đầu có thể lấy vợ lấy chồng vì vào lứa tuổi đó,
trai gái đã hiểu sự đời, bắt đầu có tinh- khí, và biết giao-cấu (to have sexual
intercourse). Chính vì thế mà người Việt ta có câu tục-ngữ là “nữ thập tam, nam
thập lục.” Ở Bắc Mỹ này, trai 21 tuổi và gái 18 thì được quyền tự do lấy nhau.
Nếu gái 16 tuổi và trai 18 tuổi mà muốn lấy nhau thì phải được phép của cha mẹ.
 

Từ ngàn xưa, ở Việt-Nam chúng ta, tuy rằng việc
dựng vợ gả chồng là quyền của cha mẹ, nhưng cha mẹ vẫn hỏi ý-kiến con cái trước
khi quyết-định và việc thuận-tình của con cái ít khi bị cha mẹ cản-trở. Vì cha
mẹ hết lòng thương yêu và lo cho con cái nên con cái đã hết sức vâng lời cha mẹ
và cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Ngày nay, các bậc cha mẹ chỉ đóng vai-trò
cố-vấn và thực-hiện cưới-xin khi con cái đã đến tuổi hiểu biết trong việc kén
chọn nhau. 

Theo truyền-thống dân Việt, việc kén vợ kén chồng
rất quan-trọng. Sau đây là các phong-tục mà những gia-đình người Việt đã từng
áp-dụng để kén vợ kén chồng cho con: lấy vợ xem tông, lấy chồng kén giống, kén
con ông cháu cha, và kén gia đình có luân-lý đạo-đức. Kén vợ cho con, các bậc
cha mẹ chú-trọng đến đức-hạnh hơn là nhan-sắc vì “cái nết đánh chết cái đẹp.”
Thêm vào đó, các bậc cha mẹ còn phải xem trai gái có hợp tuổi với nhau không vì
có hợp tuổi nhau thì mới hòa-thuận, làm ăn mới thịnh-vượng, và sinh con mới tốt
lành. Trai gái không hợp tuổi nhau thì khi lấy nhau sẽ có rất nhiều điều đáng
tiếc như hay gây sự với nhau, làm ăn hay bị thất-bại, con cái bị hư hỏng, và vợ
chồng sẽ bị ly-thân rồi ly-dị. Trong sách tử-vi tướng-số có bốn nhóm tuổi mà
mỗi nhóm gồm có 3 loại tuổi hợp nhau gọi là tam-hợp và có ba nhóm tuổi mà mỗi
nhóm có bốn loại tuổi xung-khắc nhau gọi là tứ-hành-xung.  

Bốn nhóm tuổi tam-hợp gồm có: “Thân, Tý, Thìn”
hợp nhau ; “Tỵ Dậu, Sửu” hợp nhau; “Dần, Ngọ, Tuất” hợp nhau; và “Hợi, Mão Mùi”
hợp nhau.  

Ba nhóm tuổi tứ-hành-xung gốm có: “Tý, Ngọ, Mão,
Dậu” xung-khắc nhau; “Thìn, Tuất, Sửu, Mùi” xung-khắc nhau; và “Dần, Thân, Tỵ,
Hợi” xung-khắc nhau.  

Chính vì thế, các bậc cha mẹ của hai gia-đình bao
giờ cũng phải so đôi tuổi của cặp trai gái trước khi làm lễ đính-hôn, tức là Lễ
Ăn-Hỏi. 

Khi hai bên gia-đình nhà trai nhà gái ở xa nhau
mà muốn hiểu rõ về tình-trạng mỗi gia-đình và tính-nết tài-năng và đức-hạnh của
con trai và con gái, họ phải nhờ người làm mai-mối (Ông Mai Bà Mối) để giúp
việc cưới-xin. Người làm mai-mối thường là người quen cả đôi bên gia-đình hoặc
có liên-hệ gia-đình với một bên. Lời nói của mai-mối rất quan-trọng và có
ảnh-hưởng mãnh-liệt để hai bên gia-đình hiểu rõ nhau hầu tiến tới việc
quyết-định hôn-nhân cho con cái.  

 

II. Tục-Lệ (Customs) về Hôn-Lễ (Marriage, Wedding
Ceremony) của Người Việt 

Ở thời xa xưa, tục-lệ về hôn-lễ của nước Việt ta
rất phức-tạp, tiền-nhân ta đã có đến sáu (6) tiến-trình về hôn-lễ: Lễ Nạp-Thái
(kén chọn), Lễ Vấn-Danh (hỏi tên tuổi và ngày sinh tháng đẻ của cô gái), Lễ
Nạp-Cát (so đôi tuổi được tốt), Lễ Nạp-Tệ (ăn-hỏi), Lễ Thỉnh-Kỳ(xin cưới), và
Lễ Thân-Nghênh hay Nghênh-Hôn (lễ cưới). Tuy-nhiên, từ đầu thế-kỷ thứ 20 (190
đến nay (2004), Nước Việt Tự-Do của chúng ta chỉ có ba tiến-trình về hôn-lễ như
sau: Lễ Chạm- Ngõ, Lễ An-Hỏi, Lễ Cưới. Khi đã làm Lễ Cưới ở nhà, nếu sau đó
không nhờ nhà thờ hay nhà chùa chính-thức làm Lễ Cưới thì phải đến khai tại
cơ-quan chính quyền địa-phương để xin tờ giá-thú (hôn-thú hay hôn-thư).  

 

1. Lễ Chạm-Ngõ (The Pre-engagement Ceremony, a
Promise to Marry) Sau khi hai bên gia-đình đã ưng-thuận việc hỏi vợ
gả chồng cho con, Lễ Chạm-Ngõ mới được cử-hành. Lễ Chạm-Ngõ còn được gọi là Lễ
Xem-Mắt vì đây là dịp để trai gái biết rõ nhau hơn và thân-nhân của gia-đình
nhà trai có cơ-hội tìm hiểu tuổi, thai-độ, và tư-cách của cô dâu tương lai lúc
còn ở nhà gái ra sao để có quyết-định làm Lễ An-Hỏi và Lễ Cưới. 

Ở Việt-Nam trước đây, khi tổ-chức Lễ Chạm-Ngõ,
nhà trai thường đem trầu cau, rượu, trà, và các loại bánh để nhà gái dâng cúng
gia-tiên rồi đem biếu chú bác cô dì cậu mợ. Ở hải-ngoại hiện nay, lễ-vật
Chạm-Ngõ của người Việt ta thường gồm có những bó hoa, những tái cây, những
chai rượu, và những hộp trà, v.v. Sau khi đến nhà gái, vị đại-diện nhà trai
(ông bố của chú rể tương lai) ngỏ lời với nhà gái về Lễ Chạm-Ngõ. Sau đó, vị
đại-diện của nhà gái (ông bố của cô dâu tương lai) đáp lời chào mừng và
ưng-thuận. Tiếp theo đó, việc cúng gia-tiên của nhà gái được cử-hành, các vị
đại-diện gia-đình nhà trai và nhà gái cùng chú rể và cô dâu tương lai đều cùng
nhau cúng bái. Sau khi cúng gia-tiên nhà gái, mọi thân-nhân của hai gia-đình
hiện-diện trong buổi Lễ Chạm-Ngõ đều được nhà gái mời dự tiệc-trà ăn mừng Lễ
Chạm-Ngõ. Sau bữa tiệc-trà, họ nhà trai ra về. 

Từ Lễ Chạm-Ngõ đến Lễ Ăn-Hỏi không có khoảng
thời-hạn nhất-định, tùy theo gia-đình nhà trai và nhà gái định-đoạt có khi
trong vòng 3 tháng, nửa năm, hay cả năm trời. Sau ngày Lễ Chạm-Ngõ, nhà trai
thường lui tới nhà gái vào những dịp lễ, tết, hoặc các ngày kỵ-nhật (ngày giỗ)
của nhà gái và mang các lễ-vật đến để cúng lễ.  

Nếu sau Lễ Chạm-Ngõ mà mọi việc đều tốt đẹp giữa
nhà trai nhà gái, nhất là gia-đình nhà trai hoàn-toàn ưng-thuận nàng dâu
tương-lai, thì Lễ Ăn-Hỏi sẽ được tiến-hành. 

 

2. Lễ Ăn-Hỏi (Betrothal, An Engagement to Marry) Lễ Ăn-Hỏi (Lễ Đính-Hôn) là lễ rất quan-trọng của
việc hôn-nhân. Theo phong-tục của Việt-Nam, nhà trai phải đáp-ứng lời đòi-hỏi
của nhà gái về việc đưa đầy-đủ những phần lễ-vật vào ngày Lễ Ăn-Hỏi như những
quả cau, những lá trầu, những hộp trà, những gói nem, bánh chưng, bánh dày,
những hộp bánh quế, bánh bích-quy, bánh ngọt, heo quay, xôi gấc, và rượu, v.v.
để nhà gái làm lễ cúng gia-tiên và biếu thân-bằng quyến-thuộc với mục-đích báo
tin mừng. Khi đem lễ-vật đến nhà gái trong dịp Lễ Ăn- Hỏi, nhà trai tổ-chức dẫn
lễ-vật một cách thật trang-trọng bằng cách để các lễ-vật vào hộp, xếp vào mâm,
và bao-phủ bằng giấy bóng (glassine paper, cellophane) màu vàng và màu đỏ rồi
cử người ăn mặc chỉnh-tề để đi cùng với gia-đình nhà trai đưa lễ-vật đến nhà
gái. Nếu nhà trai ở gần nhà gái thì đi bộ, nếu ở xa thì đi bằng xe hơi. Nếu đi
bằng xe hơi thì khi gần đến nhà gái, mọi người phải xuống xe để đi bộ thành
đoàn người mang lễ-vật đến nhà gái một cách trang-trọng và chỉnh-tề.  

Ở Việt-Nam trước đây, trầu cau, trà, và rượu là
các lễ-vật chính-yếu của Lễ An-Hỏi. Hiện này ở hải ngoại này, những lễ-vật
ăn-hỏi của người Việt ta thường gồm có những bó hoa, những tái cây, những chai
rượu, những hộp bánh, và những hộp trà, v.v.  

Khi các thân-nhân của nhà trai đến nhà gái để làm
Lễ Ăn-Hỏi, cả nhà trai và nhà gái phải cử người đứng ra giới-thiệu các thân-nhân
của mình trước khi cha mẹ của nhà trai ngỏ lời về Lễ Ăn-Hỏi. Sau đó, cha mẹ nhà
gái đáp lời ưng-thuận và chào mừng nhà trai. Tiếp đó, cha mẹ nhà trai và nhà
gái cùng chú rể và cô dâu tượng-lai đều cúng gia-tiên của nhà gái. Sau khi cúng
gia-tiên tại nhà gái, mọi người hiện-diện sẽ được cha mẹ nhà gái mời ăn
tiệc-trà ngay ở đó.  

Khi nhà gái nhận Lễ An-Hỏi tức là đã chính-thức
chấp-nhận việc gả con gái cho nhà trai. Sau ngày Lễ Ăn-Hỏi, khi nhà gái đem các
lễ-vật ăn hỏi như quả cau đi biếu thân-bằng quyến-thuộc thì phải biếu mỗi phần
3 quả hay một quả chứ không bao giờ biếu hai quả vì hai quả có ý nghĩa thô-tục.
Ngày nay, nhà gái còn kèm theo lễ-vật một tấm thiệp báo-hỷ để tặng thân-bằng
quyến-thuộc. 

Sau Lễ Ăn Hỏi, chàng rể tương-lai còn phải đem
lễ-vật đi lễ tết (sêu tết, to present gifts to one’s bride’s family) bố mẹ vợ
tương-lai vào những ngày tết và vào 4 mùa bằng cách mùa nào thức ấy. Điều này
có nghĩa là vào dịp Tết Nguyên-Đán, Tết Thanh-Minh, Tết Đoan-Ngọ, Tết
Trung-Nguyên, Tết Trung-Thu, và những ngày giỗ chính của nhà gái, chàng rể
tương-lai phải mang đồ lễ tới gia-đình nhà vợ tương-lai để biếu và lễ bái; vào
mỗi mùa có hoa quả bánh trái đặc-biệt, chẳng hạn như vào tháng ba có quả vải vỏ
đỏ vị ngon ngọt; vào tháng năm có dưa hấu; vào tháng bảy có quả na và quả nhãn;
vào cuối tháng chín sang tháng mười có cốm, hồng, và gạo mới, v.v.; và vào
tháng chạp thì có cam có mứt. Sau khi chàng rể tương-lai mang lễ-vật lại, bao
giờ nhà gái cũng lấy một nửa số lễ-vật, còn một nửa lễ-vật nhà gái biếu lại nhà
trai, gọi là “lại-quả.”  

Ngày xưa, sau Lễ Ăn-Hỏi, ở một vài nơi tại
Việt-Nam còn có tục-lệ “gửi rể” (a future son-in-law living in his future
wife’s family). Chú rể tương-lai phải đến ở nhà gái và đi học trong vòng bốn
năm năm để thi đỗ rồi mới được cưới vợ. Chính vì thế mà ta mới có câu tục-ngữ:
“Phi cao-đẳng bất thành phu phụ.” Sau Lễ Ăn-Hỏi và sêu-tết, nhà trai phải
bàn-thảo và đề-nghị với nhà gái đề ấn-định ngày làm Lễ-Cưới. 

 

3. Lễ Cưới (Wedding, The Ceremony of Marriage
with its Accompanying Festivities)a.Thách-CướiHồi trước đây ở Việt-Nam, khi đồng-ý để nhà trai
làm Lễ-Cưới, nhà gái có lệ “thách-cưới” nhà trai. “Thách-cưới” có nghĩa là nhà
gái đòi các thứ cho cô dâu và gia đình nhà gái gồm các đồ trang sức và quần áo
cưới cho cô dâu và các đồ lễ-cưới cho gia đình nhà gái như tiền-bạc, trà rượu,
trầu cau, bánh-trái, thịt heo thịt bò, và gạo nếp gạo tẻ, v.v. để làm tiệc
thiết-đãi bà con và bạn-hữu. Việc thách-cưới này có khi làm cho nhà trai thật
đau buồn; nhiều khi, nhà trai phải yêu-cầu nhà gái để giảm bớt việc thách-cưới
đi vì không có đủ tiền bạc để rước dâu. Nếu nhà gái không đồng-ý thì nhà trai
phải đi vay mượn tiền-bạc để lo đám cưới. Việc thách-cưới đã làm cho nhiều
người dân buồn-phiền nên họ đã làm các câu ca-dao hài-hước như sau: “Em là con
gái nhà giầu, / Mẹ cha thách-cưới ra màu xinh sao. Cưới em trăm tấm gấm đào, /
Một trăm hòn ngọc hai mươi tám ông sao trên trời.” “ Con gái là con người ta, /
Con dâu mới thật mẹ cha mua về.”  

Ngày nay, việc thách-cưới không là vấn-đề
quan-trọng vì nhà trai và nhà gái thường cộng-tác tích-cực với nhau để làm
Lễ-Cưới cho cô dâu chú rể thật chu-đáo.  

b. Chọn Ngày Làm Đám Cưới 

Sau khi nhà trai và nhà gái đã thỏa-thuận mọi
việc, hai bên phải ấn-định ngày làm đám cưới bằng cách chọn ngày tốt có ghi rõ
trong âm-lịch. Trong các tấm lịch ta (âm- lịch), ở mỗi tờ lịch, các chi-tiết
sau đây đều được ghi rõ: ngày này là ngày nào trong năm, các tuổi nào kỵ với
ngày này, ngày này nên làm những việc gì và nên kiêng-cữ (không nên làm) những
việc gì, giờ tốt là giờ nào, và giờ xấu là giờ nào, v.v. Tuy trong lịch có ngày
được ghi là nên làm đám cưới (nên cưới gả) nhưng đồng-thời cũng có ghi về việc
kỵ (không hợp) tuổi cho một số tuổi. Nếu cô dâu chú rể có tuổi kỵ trong ngày đó
thì không nên cử-hành lễ cưới trong ngày đó dù là ngày đó được ghi là nên “cưới
gả.” Tóm- lại là ngày làm Lễ-Cưới phải không xung không kỵ với các tuổi của chú
rể và cô dâu. Trước năm 1954, ở Miền Bắc Việt-Nam, mọi người chỉ làm đám cưới
vào các tháng mười, tháng một (tháng1, tháng chạp (thàng 12), và tháng giêng
(tháng vì các tháng này có thời-tiết rất tốt và thuận-tiện cho đám cưới. Hầu
hết các nơi ở Miền Bắc không tổ-chưc đám cưới vào tháng bảy ta (tháng ngâu) vì
tháng này có mưa dầm suốt tháng (mưa ngâu) và hay có gió bão. Ngoài ra, mọi
người phải kiêng-cữ tổ-chức đám cưới trong tháng bảy ta vì theo sự-tích, vợ
chồng Ngưu-Lang Chức-Nữ bị trời phạt không cho sống gần nhau, vợ chồng chỉ được
phép gặp nhau mỗi năm một lần vào ngày mưa ngâu mùng 7 tháng 7 ta mà thôi. Mỗi
năm tháng bảy trời đổ mưa-ngâu, / Yêu nhau xin hãy nhớ nhau một vài, / Lất-phất
mưa-ngâu ướt đẫm bờ vai, / Tơ-duyên chẳng trọn thương hoài nhớ lâu.  

c. Thiệp Báo-Hỷ và Thiệp Mời 

Hiện nay, sau khi ấn-định ngày làm đám cưới, nhà
trai và nhà gái còn cùng nhau làm những tấm thiệp báo-hỷ và thiệp mời để gửi
cho thân-nhân, bằng-hữu, và đăng báo. Muốn có tấm thiệp báo-hỷ và thiệp mời
đúng cách, chúng ta phải nhờ chuyên-viên làm cho. Thông-thường thì tấm thiệp
báo-hỷ và thiệp mời có nội-dụng viết bằng song-ngữ, tiếng Việt và tiếng Anh.
Trong phần “Cước-Chú số 1” ở phía dưới bài này là tài-liệu hướng-dẫn về
nội-dung và hình-thức của tấm thiệp báo-hỷ và thiệp mời được viết bằng tiếng
Việt. 

d. Chuẩn-Bị Lễ Rước Dâu và Đưa Dâu 

Sau khi đã ấn-định ngày làm đám cưới và đã gửi
thiệp báo-hỷ và thiệp mời, nhà trai phải chuẩn-bị Lễ-Cưới, tiệc-cưới, tiệc-trà,
máy chụp ảnh, máy quay phim, mua nhẫn cưới cho cả chú rể và cô dâu, và chuẩn-bị
lễ rước dâu. Nhà gái cũng phải chuẩn-bị việc đón-tiếp nhà trai đến rước dâu,
chuẩn-bị máy chụp ảnh và máy quay phim, chuẩn bị lễ gia-tiên, lễ Tế Tơ-Hồng,
tiệc trà, và lễ đưa dâu.  

Hiện nay, tiệc cưới thường do nhà trai và nhà gái
cộng-tác tổ-chức tại nhà hàng sau khi đã làm lễ cưới để thiết-đãi bà con và
bằng-hữu. Nếu nhà trai và nhà gái theo Đạo Phật hay Đạo Thiên-Chúa, sau khi rước
dâu về nhà chồng, hai gia-đình còn phải làm hẹn với Nhà Thờ (Catholic Church)
hay nhà Chùa (Buddhist Temple) để nhờ các cha hay các thầy chùa làm lễ-cưới
ngay tại nhà thờ hay tại chùa để chính-thức có giấy giá-thú.  

đ. Rước Dâu 

Nếu nhà trai ở gần nhà gái trong cùng làng xóm
thì khi các thân-nhân của nhà trai đem các lễ-vật đi đón dâu, mọi người đi bộ
thành đoàn người tề-chỉnh; nếu ở xa thì dùng xe hơi hay thuyền (ở vùng quê) để
chở lễ-vật và thân-nhân đến nhà gái. Nếu dùng xe di đón dâu, xe đón cô dâu phải
được kết hoa ở phía ngoài xe cho đẹp vì “xe hoa” tượng-trưng cho xe đám cưới.
Người Việt ta thường tin là nếu đi ra ngõ mà gặp đàn bà con gái thì thật là
xui-xẻo. Chính vì thế mà khi gia-đình nhà trai bắt đầu mang lễ-cưới đi đón dâu,
gia đình nhà trai phải nhờ người đàn ông vui-vẻ và dễ tính ra đón ngõ để khi
mọi người vừa đi ra đón dâu thì được gặp đàn ông con trai ngay trước ngõ cho
may-mắn.Nếu đi bằng xe hơi để đón dâu thì khi đến gần nhà
gái, cách khoảng độ 200 thước Tây, mọi người phải xuống xe để xếp thành đoàn
người đi cho chỉnh-tề để dẫn lễ-cưới đến nhà gái. Người đi đầu đám rước dâu
phải là một ông già cầm hương hoa. Để có người chính-danh dẫn đầu đám rước dâu
này, nhà trai phải nhờ một ông già hiền-lành, phúc-hậu, có địa-vị, có vợ chồng
song-toàn, có lắm con nhiều cháu, và không có tang để dẫn đầu đoàn người đến
nhà gái rước dâu về nhà trai. Sự lựa chọn này có ý mong cho cô dâu chú rể khi
lấy nhau sẽ được bách-niên giai-lão (vợ chồng cùng sống với nhau đến già), có
lắm con nhiều cháu, và công-thành danh-toại. Ông già này mặc áo dài khăn đống
hay áo thụng xanh, che lọng, và cầm một bó hoa cùng một bó hương thắp cháy hay
bưng một lư-hương nhỏ có đốt trầm. Đi liền sau ông già này là ba của chú rễ và
những người mang lễ-vật dẫn cưới. Tiếp theo đó là chú rể, hai cậu phù-rể, và
chú bác cô dì cậu mợ của chú rể, v.v.  

Chú rể mặc quần áo và đội khăn hay đội mũ rất
lịch-sự. Quần áo cưới của chú rể mặc vào ngày cưới không giống quần áo mặc
thường ngày. Ở Việt-Nam chú rể thường mặc quần trắng, mặc áo the hay áo đoạn
kép, đội khăn đống, đội khăn lượt, hay nón chóp quai tua; chân đi đôi giày
Gia-Định bóng ngời. Hiện nay ở hải ngoại, chú rể thường mặc quần áo theo kiểu
Tây-Phương hay mặc áo dài đội khăn đống theo phong-tục Việt. Y-phục của hai cậu
phù-rể cũng tương-tự như y-phục của chú rể.Theo phong-tục Việt, người mẹ của chú rể không
bao giờ đi đón dâu tại nhà gái, người mẹ chỉ ở nhà chờ khi rước dâu về tới nhà
thì bà mẹ chú rể mới ra đón con dâu vào nhà. Hiện này ở hải-ngoại, có một số
gia-đình khi đi rước dâu và đưa dâu về nhà chồng thì cả bố mẹ chú rể đều đi cho
vui vẻ và trang-trọng. 

Khi đám rước dâu đến trước cửa nhà gái, có khi cả
nhà trai nhà gái đều đốt pháo ăn- mừng và bắt đầu quay phim và chụp hình trong
suốt Lễ Vu-Quy. Khi vào trong nhà gái, xướng-ngôn-viên của nhà trai và nhà gái
giới-thiệu các thành-viên của mỗi gia-đình kể cả chú rể và cô dâu tương lai.
Sau khi trao lễ-vật rước dâu, người chủ-hôn, bố chú rể, đứng ra ngỏ lời là đã
chọn được ngày lành tháng tốt để xin đón dâu. Sau đó, gia-trưởng nhà gái, bố cô
dâu, đứng lên đáp lời chào mừng, ưng-thuận, và cám-ơn. Tiếp theo đó, gia-trưởng
nhà gái làm lễ cáo gia-tiên và mời gia-trưởng nhà trai cùng chú rể tương-lai và
con gái ông ta, cô dâu tương-lai, đến lễ gia-tiên nhà gái. Sau khi lễ gia-tiên
nhà gái, có đôi-khi nhà gái yêu-cầu chú rể và cô dâu Lễ Tơ-Hồng ngay tai nhà
gái. Thường-thường thì việc Lễ Tơ-Hồng chỉ được tổ-chức tại nhà trai mà thôi.
Sau khi lễ gia-tiên nhà gái, chú rể và cô dâu lại phải đến chào mừng ông bà và
bố mẹ vợ cùng các thân-nhân của nhà gái. Khi chú rể đến chào mừng ông bà, bố mẹ
vợ, và chú bác cô dì cậu mợ nhà gái, các vị này thường tặng chú rể một món tiền
hoạc vàng bạc hay các món quà.  

Sau khi chú rể và cô dâu đã lễ gia-tiên và chào
mừng mọi thân-nhân của nhà gái, nhà gái mời mọi người của nhà trai và nhà gái
đến dự bửa tiệc trà. Sau bữa tiệc-trà này và đến giờ hoàng đạo (giờ tốt), nhà
trai xin rước dâu. Lúc này cô dâu đã mặc quần áo và trang-điểm thật chỉnh-tề.
Cô dâu thường mặc quần lĩnh hoa tranh, mặc áo dài, và đội khăn vành hay nón
thúng quay thao và đi dép nhung cong. Ngày nay ở hải-ngoại, cô dâu có thể mặc
quần áo theo lối Tây-phương cũng được. Đồng thời cô dâu cũng đã xếp những đồ
của mình trong những cái “va-li”(suitcase) để mang ra xe về nhà chồng. Những đồ
của cô dâu gồm có áo quần, chăn gối, nữ-trang, sách-vở, và các dụng cụ cá nhân,
v.v. Theo phong tục Việt, ở thôn-quê, họ nhà gái cử một số người đi tiễn cô dâu
về nhà chồng trong khi cha mẹ cô dâu không bao giờ đưa con về nhà chồng. Tuy
nhiên, ở các tỉnh-thành trong nước trước đây, nhất là ngày nay ở hải-ngoại, cha
mẹ cô dâu thường đi theo con gái về nhà chồng để cho vui vẻ và trang-trọng.
Trong số những người tiễn cô dâu về nhà chồng có hai cô phù-dâu. Y-phục của các
cô phù-dâu cũng na-ná như y-phục của cô dâu. Theo tục-lệ Việt, những cô phù-dâu
và những cậu phù-rể phải là những người độc-thân, tức là chưa lập gia-đình.
Chính vì lý do này mà sau khi phù-dâu phù-rể, các cậu phù-rể có thể kết-duyên
với các cô phù-dâu. Trước khi đi về nhà chồng, cô dâu đến chào và lậy cha mẹ
đẻ. Đã có nhiều cô dâu khóc sướt-mướt khi rời cha mẹ để về nhà chồng vì thương
nhớ cha mẹ.  

e. Lễ Vu-QuyLễ đưa dâu cũng được gọi là Lễ Vu-Quy, nghĩa là
lễ đưa con gái về nhà chồng. Khi đưa dâu về nhà chồng, nhà gái cũng nhờ một ông
già cầm hương hoa đi trước cùng với ông già dẫn cưới của họ nhà trai. Đoàn
người đưa dâu về nhà chồng đông đảo gấp đôi vì có thêm nhiều người của họ nhà
gái. Trước khi khởi-hành, nhà trai và nhà gái cũng đốt pháo ăn-mừng. Nếu đón
dâu bằng xe thì sau khi đi bộ từ nhà gái ra xe, mọi người đều lên xe, xe đi đầu
là xe của các cụ già cằm hương hoa, xe kế-tiếp là xe hoa dành cho cô dâu chú
rể. Cũng có nơi, xe hoa dành riêng cho cô dâu với các cô phù-dâu, còn chú rể
ngồi một xe khác với các cậu phù-rể. Tiếp theo đó là các xe của thân-nhân nhà
trai và nhà gái. Ở Việt-Nam trước đây có trường hợp là đôi khi nhà trai ở cùng
một đường phố với nhà gái, chỉ cách nhau vài trăm thước, nhà trai vẫn dùng xe
hơi để rước dâu để đi vòng-vo qua những đường phố khác trước khi rước dâu về
nhà. Đây là cách để phô-trương cho mọi người biết. Trong khi rước dâu ngoài phố
và khi làm lễ-cưới ở nhà trai, việc quay phim và chụp hình đều tiến-hành để có
hình-ảnh làm kỷ-niệm suốt đời cho cô dâu chú rể. 

Khi về đến ngõ nhà trai, nhà trai thường đốt pháo
để tỏ vẻ vui-mừng đón cô dâu vì tiếng pháo nổ là tượng-trưng cho sự vui-mừng.
Tiếp đó là bà mẹ chồng ra đón tiếp con dâu và thân-nhân nhà gái. Có nhiều nơi,
khi cô dâu về nhà chồng, bà mẹ chồng không ra đón con dâu mà trước đó đã xách
bình vôi đi lánh mặt một lúc rồi mới về để chào mừng và tiếp khách. Vì bình vôi
tượng-trưng cho sự coi-sóc gia-đình, nên bà mẹ mang bình vôi về để giao
trách-nhiệm cho cô dâu hoàn-thành nhiệm-vụ: “Lấy chồng gánh vác giang-sơn nhà
chồng.”  

g. Lễ Gia-Tiên tại Nhà Chồng
            
         

Sau khi được đón tiếp về tới nhà chồng, cô dâu
theo chú rể đến chào ông bà và cha mẹ chồng rồi vào lễ gia-tiên. Sau khi lễ
gia-tiên xong, chủ-hôn nhà trai và nhà gái đeo nhẫn cưới cho cô dâu chú rể. Có
nhiều nơi, việc đeo nhẫn cưới cho cô dâu chú rể được thực-hiện trong khi Lễ
Tơ-Hồng, và còn được đeo nhẫn cưới ở nhà thờ và ở nhà chùa nữa. Sau khi chào
ông bà cha me chồng, lễ gia tiên nhà trai, và đeo nhẫn cưới, cô dâu và chú rể
lại đến Lễ Tơ Hồng.  

h. Lễ Tơ-Hồng 

Theo truyền-thống người Việt ta, Nguyệt-Lão là vị
thần-chủ của hôn-sự nên các đám cưới đều có tục-lệ lễ Tơ-Hồng để tỏ lòng biết
ơn Nguyệt-Lão đã dùng dây tơ-hồng xe cho cô dâu chú rể nên duyên vợ chồng. Bàn
thờ Tơ-Hồng có thể lập ở trong nhà hay giữa sân. Trên bàn thờ Tơ-Hồng có lư-hương,
đèn, nến, hoa quả, xôi gà, ly rượu, và cơi trầu. Cô dâu chú rể đứng hàng ngang
trên chiếu trải trước hương-án để lạy 4 lạy, vái 3 vái, rồi quỳ nghe người đại
diện nhà trai đọc văn-tế Tơ-Hồng (xem mục Cước-Chú số 2 ở phía dưới bài này về
Văn-Tế Tơ-Hồng). Khi người ta đọc xong văn-tế, chú rể cô dâu lại lễ-tạ
Nguyệt-Lão rồi cùng uống chung một ly rượu và ăn một miếng trầu đã có sẵn trên
bàn thờ Tơ-Hồng. Uống chung ly rượu này có nghĩa là hai người sẽ là một và sống
tới khi đầu bạc răng long. Sau khi Tế Tơ-Hồng, cô dâu chú rể đều đến chào
mừng chú bác, cô dì, cậu mợ, thím, và anh chị em của chú rể. Khi đến chào mừng
ông bà, cha mẹ, cô dì, bác, cậu mợ, chú thím, và anh chị em nhà trai, cô dâu
chú rể đều được quý vị này tặng tiền hay quà và ngỏ lời khuyên mừng như: “ Ăn ở
thuận-hòa, trên kính dưới nhường, / Sắt cầm hòa-hợp, bách-niên giai-lão, / Bằng
rày sang năm có cháu cho bà bế, / Đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh con gái,
v.v.”  

i. Tiệc Cưới Tại Nhà Trai 

Sau khi cô dâu chú rể lễ-bái và chào mừng mọi người,
chủ nhà trai mời những người hiện-diện của nhà trai và nhà gái trong đám cưới
vào dự tiệc cưới tại nhà trai. Sau buổi tiệc cưới ở nhà trai, các thân-nhân của
nhà gái ra về.  

Sau lễ cưới ở nhà và ở nhà thờ hay nhà chùa, các
bằng-hữu, thân-nhân, và quan-khách của hai họ đều được mời đi dự tiệc cưới tại
tiệm ăn, cao-lâu, hay quán cơm (restaurant). Thiệp mời tiệc-cưới này đã đã được
gửi đến cho mọi người trước khi làm đám cưới. 

k. Lễ Động-Phòng hay Giao-Duyên 

Ngay buổi tối hôm đám cưới, có lễ động-phòng hay
giao-duyên cho cô dâu chú rể. Theo tục-lệ, trước khi động-phòng (phòng cưới tức
là phòng của đêm tân-hôn để cô dâu chú rể nằm ngủ với nhau lần đầu tiên sau đám
cưới), một bà già vẫn còn có chồng và đông con nhiều cháu đứng ra phụ trách
sắp-đặt giường chiếu chăn gối màn, mâm rượu, cơi trầu cho cô dâu chú rể dùng.
Sau đó cô dâu chú rể dắt nhau vào trong phòng làm lễ hợp-cẩn, tức là cùng nhau
uống chung một chén rượu và cùng ăn một miếng trầu trước khi ngủ với nhau trong
đêm cưới. Sau đó uống rượu và ăn trầu, cô dâu lạy chồng hai lạy và chồng đáp
lại một vái. Trước khi vợ chồng ngủ với nhau trong đêm tân-hôn, cô dâu thường
kiếm cách ngồi trên đầu giường và vắt quần áo của mình lên trên quần áo của
chồng. Việc làm này cô dâu có ý là làm cho chồng chiều-chuộng và phục tòng mình
trong suốt cuộc đời làm vợ.  

l. Lễ-Cưới Tại Nhà Thờ (Catholic Church) hay Nhà
Chùa ( Buddhist Temple ) 

Sau khi rước dâu về nhà chồng, ngay ngày hôm sau
nhà trai và nhà gái còn có hẹn đến làm lễ-cưới tại chùa hay nhà thờ. Mọi
nghi-lễ đều do vị hòa-thượng của chùa hay đức cha của nhà thờ định đoạt.
Lễ-cưới ở nhà chùa hay nhà thờ cũng có nghi-lễ đeo nhẫn cưới cho chú rể và cô
dâu. Nếu chú rể và cô đâu đã đeo nhẫn cưới ở nhà thì trước khi đến nhà thờ hay
nhà chùa, phải tháo nhẫn cưới đó ra trước khi lên gặp các cha hay các thầy để
đeo nhẫn cưới cho. Ở hải-ngoại này, nếu lễ-cưới được cử hành ở nhà chùa hay nhà
thờ thì nhà chùa hay nhà thờ đã thừa lệnh của chính-phủ địa-phương để làm giấy
giá-thú cho chú rể cô dâu ngay tại nhà thờ hay nhà chùa trong khi làm lễ-cưới.  

m. Lễ Từ-Đường 

Tại làng xóm Việt-Nam trước tháng 4 năm 1975, dân
Việt đều có lập đền-thờ cho mỗi họ với cái tên là “từ-đường” (ancestral hall).
Như thế, họ nhà trai và họ nhà gái đều có từ-đường riêng của họ. Chính vì thế
mà ở làng xóm tại Miến Bắc Việt-Nam trước trước năm 1945, khi nhà trai đến nhà
gái rước dâu thì chú rể và cô dâu đều phải đến từ-đường của họ nhà gái để lễ
xong rồi mới trở về nhà gái để lễ gia-tiên nhà gái. Khi cô dâu về tới nhà trai
thì chú rể và cô dâu cũng lại phải ra từ-đường của nhà trai để lễ trước rồi mới
về làm lễ gia-tiên tại nhà chú rể.  

Ở hải-ngoại này chúng ta không có từ-đường cho
mỗi họ nên cô dâu chú rể chỉ cần lễ gia-tiên của nhà gái và nhà trai tại nhà mà
thôi. 

n. Tiệc-Cưới Tại Nhà Hàng Dành Cho Bằng-Hữu,
Thân-Nhân, và Quan-Khách của Nhà Trai Nhà Gái&nbsp; Khi làm lễ vu-quy ở nhà gái và lễ cưới ở nhà
trai, chỉ những thân-nhân và những bằng-hữu của hai họ đã tham-dự lễ vu-quy và
lễ-cưới ở nhà gái và nhà trai mới được mời tham-dự tiệc-trà hay tiệc-cưới ngay
sau buổi lễ gia-tiên tại mỗi gia-đình nhà trai và nhà gái. Còn đối với
bằng-hữu, thân-nhân, và quan-khách không đến tham-dự lễ vu-quy và lễ-cưới thì
sau khi làm lễ cưới ở nhà trai và nhà thờ hay nhà chùa, các bằng-hữu,
thân-nhân, và quan-khách của nhà trai và nhà gái kể các cha và các thầy đều
được mời đến dự tiệc cưới tại nhà hàng, tiệm ăn, quán cơm, hay cao-lâu
(restaurant). Trong tiệc-cưới ở nhà hàng, ngoài bằng-hữu và quan-khách, mọi
thân-nhân của hai họ cũng được mời tham dự tiệc-cưới tại nhà hàng này. Ngày
tháng tổ-chức tiệc-cưới và địa điểm của nhà hàng dùng để tổ chức tiệc-cưới này
đã ghi trong thiệp-mời gửi bằng hữu, bà con, và các quan-khách trước khi làm
lễ-cưới cả tháng. 

Về việc tổ-chức tiệc-cưới tại nhà hàng, nhà trai
và nhà gái phải nhờ thân-nhân làm ban tổ-chức để tiếp-tân và điều-khiển
nghi-lễ. Công-việc của ban tiếp-tân là ghi danh các quan-khách, bằng-hữu, và
thân-nhân đến dự, nhận quà do mọi người biếu cô dâu chú rể, và chụp hình cùng
quay phim khi gặp mọi người đến tham-dự. Việc chụp hình và quay phim còn thực
hiện trong suốt buổi tiệc cưới tại nhà hàng để có tài liệu làm kỷ-niệm cho cô
dâu chú rể. Cần phải có ban nhạc để giúp thân-nhân của hai họ cùng bằng-hữu và
cô dâu chú rể tình-nguyện trong việc hát giúp vui cho tiệc-cưới.  

Trước khi bắc-đầu tiệc-cưới, cha mẹ cô dâu và cha
mẹ chú rể phải lên sân-khấu chào mừng và giới-thiệu quan-khách, bằng-hữu, cùng
thân-hân hai họ nhà trai và nhà gái. Sau đó, ban tổ-chức phải đặc biệt giới
thiệu cô dâu và chú rể.  

Ở hải-ngoại này, nếu các gia-đình người Việt dốc
lòng tranh-đấu cho tự-do dân-chủ và nhân-quyền của đồng bào trong nước, họ đều
tổ-chức lễ chào cờ bản-xử và cờ Việt Nam Tự Do trong các buổi tiệc-cưới ở nhà
hàng vì đây là trường-hợp tập-thể của người Việt sum-họp với nhau đông-đảo tại
cộng-đồng thì phải có lễ chào cờ. 

Trong khi mọi người đang ăn uống tại bữa
tiệc-cưới này, bố mẹ chú rể cùng với bố mẹ cô dâu phải dẫn cô dâu chú rể đi đến
từng bàn ăn để chào mừng quan-khách, bạn-bè, và thân-nhân. Trong lúc này, người
phụ-trách chụp hình và quay phim cần phải thực-hiện cho chu-đáo. 

Sau khi mọi người ăn-uống xong trong tiệc-cưới
tại nhà hàng, có những gia-đình nhà trai và nhà gái tổ-chức khiêu-vũ hay nhảy
đầm ngay tại đây để giúp cho kết-quả tiệc-cưới vui-vẻ một cách hoàn-hảo. 

Khi quan-khách và bằng-hữu cùng thân-nhân ra về,
bố mẹ cô dâu cùng với bố mẹ chú rể cần phải ra đứng ở cửa để cám ơn và tiễn
quan-khách, bằng-hữu, và thân-nhân. 

o. Lễ Lại-Mặt 

Theo lệ thường của dân Việt, sau khi cưới được 3
ngày, hai vợ chồng phải đem xôi, chè, rượu, và trầu cau về nhà bố mẹ vợ để cúng
gia-tiên. Lễ này được gọi là Lễ Lại-Mặt hay Tứ-Hỷ. Nếu vợ chồng đem lễ về nhà
bố mẹ vợ ngay hôm sau ngày cưới thì tên lễ này cũng được gọi là Lễ Lại-Mặt hay
Nhị-Hỷ. Sau khi cô dâu chú rể lễ gia-tiên, bố mẹ vợ có lời dặn-dò cô con gái
(cô dâu) phải đối-xử trọn-vẹn bổn-phận với chồng và gia-đình nhà chồng vì từ
nay cô dâu sẽ là người của nhà chồng. Chính vì thế mà ca-dao Việt có câu: “ Con
gái là con người ta, / Con dâu mới thật mẹ cha mua về.”  

p. Giấy Giá-Thú (marriage licence) 

Giấy giá-thú hay giấy hôn-thú rất quan-trọng để
vợ-chồng sống với nhau một cách hợp-pháp hầu hưởng mọi quyền-lợi của gia-đình
và trợ-cấp của chính-phủ, nhất là ở nơi hải-ngoại này.  

Ở hải-ngoại này, khi đã làm lễ-cưới tại chùa hay
nhà thờ, giấy giá-thú của cô dâu chú rể đều được nhà thờ hay chùa cấp cho vì
nhà thờ hay nhà chùa đều được chính-phủ địa-phương chấp-thuận cho làm việc này.
Nếu không làm lễ-cưới tại chùa và nhà thờ thì gia đình nhà trai và nhà gái phải
tới văn-phòng “City Clerk’s Office” của “City Hall” (Tòa Đô-Chánh) hay
văn-phòng luật-pháp ở địa-phường để làm giấy giá-thú (marriage licence). Còn ở
Việt-Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi làm lễ-cưới, chủ nhà trai và
nhà gái phải đến văn-phòng hộ-tịch tại địa-phương để làm giấy giá-thú cho con,
nếu không thì việc hôn-nhân có thể bị tiêu-hủy.  

 

q.Tuần Trăng-Mật (Honeymoon) 

Sau khi cưới, vợ chồng thường nghỉ một tuần hay
một tháng để đi chơi chung với nhau. Đi chơi chung với nhau một tuần gọi là
hưởng tuần trăng-mật, đi chơi chung một tháng với nhau gọi là hưởng tháng trăng
mật. Suốt một tháng trời sau ngày cưới là tháng ngọt-ngào tuyệt-vời (the first
month of marriage is the sweetest). Ở Bắc-Mỹ này, trong 30 ngày của tháng
đầu-tiên sau ngày cưới, vợ chồng đều uống ly thuốc bổ có mật-ong để hưởng
thú-vui hợp-cẩn (a newly married couple drink a potion containing honey on each
of the first 30 days of the marriage to enjoy the pleasure of wedding feast).
Tuần trăng-mật hay tháng trăng-mật này rất quan-trọng cho hạnh-phúc của cuộc
đời đội vợ chồng từ sau ngày cưới cho đến khi đầu bạc răng long.  

r. Cưới Chạy Tang 

Trước đây, tiền-nhân ta có luật-pháp cấm nhà trai
nhà gái không được làm lễ-cưới gả trong khi gia-đình để tang thân-nhân kể từ
tiểu-tang cơ-niên (để tang 1 năm) đến đại-tang (để tang 3 năm). Chính vì thế mà
sau Lễ Ăn-Hỏi, nếu nhà trai hay nhà gái có ông, bà, cha, me, hoặc chú bác bị
bệnh nặng có thể chết thì gia-đình phải lo làm lễ-cưới cho con trước khi nhà có
người chết. Khi gặp trường-hợp bất-đắc-dĩ, gia-đình phải làm lễ-cưới ngay sau
khi có ông, bà, cha, hay mẹ chết bất thình-lình. Việc làm lễ-cưới vội-vã trước
khi làm đám tang có tên là cưới chạy tang. Đám cưới chạy tang rất giản-dị và
nhanh chóng đối với cả hai gia-đình nhà trai và nhà gái vì mọi người còn phải
dành thì giờ để lo đám tang cho thân-nhân. 

London, ngày 21 thang 6 năm
2004  

------------------------------------------------------------ 

Cước-Chú:  

1. Thiếp Báo-Hỷ và Thiệp Mời  

(Thiệp làm bằng giấy màu vàng thì viết bằng chữ
màu đỏ hay xanh; nếu thiệp làm bằng giấy màu trắng thì viết bằng chữ màu vàng,
đỏ, hay xanh; ) 

Thiệp Báo-Hỷ  

Ngày . . . . . . . . .  

 

(Chỗ viết tên và địa chỉ (Chỗ vẽ dấu-hiệu về tên
(Chỗ viết tên và địa chỉ  

của bố mẹ chàng rể) của cô dâu chú rể) của bố mẹ
cô dâu) 

Kính thưa quý-vị,  

Chúng tôi trân-trọng báo tin Lễ Thành-Hôn và
Vu-Quy của con chúng tôi: 

. . . . . . . . . . . . . . (viết họ và tên chú
rể) . . . . . . . . . . . . . .(viết họ và tên cô dâu) 

Trưởng-nam (hayThứ-nam) Trưởng-nữ ( hay Thứ-nữ) 

 

Hôn-lễ sẽ được cử-hành vào lúc . . . (giờ
sáng/chiều) . . . .(ngày trong tuần-lễ) 

Ngày . . . tháng. . . . . năm . . . . . . . .
(ngày tháng năm tây-lịch) 

Nhằm ngày. . .tháng. . . năm . . . . . . . .
(ngày tháng năm âm-lịch) 

Tại. . . (địa-chỉ nơi tổ-chức hôn-lễ) 

&nbsp; 

Trân-trọng, 

( Ký tên và biên tên ba hay má của chú rể / ba
hay hay cô dâu đứng ra báo tin)  

------------------------------------ 

Kèm theo tâm thiệp báo-hỷ này, chúng ta còn cần
phải có tấm thiệp mời quan-khách đến dự tiệc-cưới. Tấm thiệp mời này cũng phải
viết bằng song-ngữ để tiện việc mời cả người Việt lẫn người bản-xứ. Tiếp theo
đây là bản thiệp mời bằng tiếng Việt với nội-dung như sau:  

Thiệp Mời 

Ngày…. . . . . . . . . . . . . . 

Kính thưa . . . . . . . . . . . .(biên tên người
được mời)  

Trân trọng kính mời Ông Bà (Ông/ Bà/ hay Anh Chị)
đến dự buổi tiệc-cưới chung vui cùng với gia-đình chúng tôi tại:  

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . (biên
địa-chỉ nơi tổ-chức tiệc-cưới) 

Vào lúc . . . . . . . . . . . (biên giờ, ngày
trong tuần, và ngày tháng năm tây lịch) 

&nbsp; 

Sự hiện-diện của Ông Bà sẽ là niềm vinh-dự cho
gia-đình chúng tôi. Kính xin Ông Bà làm ơn thông-báo cho chúng tôi biết (bằng
số điện thoại dưới đây) là có đến tham-dự tiệc-cưới được hay không.  

Xin thông báo cho chúng tôi biết trước ngày . . .
. . . . . . . . . . . .(đề ngày trước một tuần của ngày có tiệc cưới).  

. . . . . . . . . . (tên người của gia đình nhà
trai), . . . . . . . . . . . . .(số điện thoại) 

. . . . . . . . . . (tên người của gia đình nhà
gái), . . . . . . . . . . . . . .(số điện thoại) 

&nbsp; 

Trân-trọng, 

(ký tên và biên tên của người đứng mời) 

&nbsp; 

Hồi xưa ở Việt-Nam, các gia-đình đều dùng bài
Văn-Tế Tơ-Hồng sau đây của Học-Giả Triêu Dương Nguyễn Các-Phụng: 

 

2. Văn-Tế Tơ-Hồng  

 

Duy Nguyệt-Lão xe duyên ngày... tháng . . . năm .
. . thành-phố . . . tỉnh . . . nước. . . Vì việc kết-hôn của . . . . (tên chú
rể) cùng . . . (tên cô dâu), nay hôn-sự đã thành, kính dâng lễ bạc lòng thành
lên Đức Tơ-Hồng Nguyệt-Lão Thiên-Tiên. Ngài rất công, rất thẳng,/ Không vị,
không thiên,/ Đem kính ngọc xét soi thế-sự, / Lấy chỉ hồng xe kết nhân duyên, /
Xui nhạn cá mối-manh đưa lại, / Nên uyên-ương sum-họp phỉ-nguyền, / Bởi nợ
trước duyên sau cùng sinh một hội, / Vậy người Nam kẻ Bắc kết-duyên bách niên,
/ Đuốc hoa xán-lạn hai nhà nhờ ơn Nguyệt-Lão,/ Thước ngọc hợp-thành một cặp bởi
đức Hoàng-Thiên, / Gối phượng chăn loan tưng-bừng đôi lứa, / Chèo lan lái quế
êm-ấm một thuyền, / Mong sớm ứng điềm lành, mộng hổ, mộng hùng, mộng sà, mộng
lộc,/ Được sau nên họ lớn, sinh đào, sinh lý, sinh huệ, sinh liên, / Nguyện
cùng trăm năm giai-lão, / Ước rằng hai họ mãn-viên, / Trông ơn đại-đức, / Tấc
dạ vi kiền. Cẩn cáo theo (e-cadao.com) 

 

Phong tục
cưới ba miền &nbsp; 

&nbsp;Hôn lễ của
dân tộc Việt có quy định chặt chẽ từ trước tới nay. Đám cưới mỗi miền Bắc, Trung , Nam 
có một nét đặc trưng riêng biệt, mang đậm phong tục, tập quán riêng của từng
vùng.  

Lễ cưới
miền Bắc 

Nghi lễ cưới ở miền Bắc phải giữ 3 lễ:  

Dạm ngõ: là lễ tiếp xúc đầu tiên, chính thức của hai gia
đình nhà trai và nhà gái,&nbsp;được xem là thủ&nbsp;tục cần thiết để &quot;chỗ
người lớn&quot; thưa chuyện với nhau. Sau lễ dạm ngõ, người con gái được xem
như có nơi có chốn, bước đầu tiến tới chuyện hôn nhân.&nbsp; 

Lễ ăn hỏi: Gia đình dù giàu hay nghèo cũng không thể thiếu
cơi trầu. Một lễ ăn hỏi của người Hà Nội &nbsp;phải có cốm và hồng. Nếu gia
đình khá giả, ngoài cốm, hồng và trầu cau còn có thêm lợn sữa quay. Ðồ lễ ăn
hỏi gắn liền với đặc sản của các vùng như: bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè,
rượu, trầu cau, thuốc lá... Thông thường ăn hỏi gồm có 3 lễ: đàng nội, đàng
ngoại, tại gia. 

Lễ cưới: Sau khi ăn hỏi khoảng 10 ngày, lễ cưới&nbsp;được
tổ chức. Ngày xưa, lễ rước dâu có rất nhiều thủ tục, đi đầu đám rước là những
người giàu có, địa vị trong làng xã. Khi đón dâu ra đến đầu làng còn có lễ
chăng dây, muốn đi qua phải đưa một ít tiền. Ăn uống, tiệc tùng diễn ra trước
khi cưới 1 ngày.Ðám cưới bắt đầu bằng thiệp báo hỷ, khi đưa thiệp mời cưới phải
đưa kèm theo chè và hạt sen (lấy từ lễ ăn hỏi). Ðến nay tục này vẫn còn được
giữ lại. 

 

Trong lễ đón dâu, cô dâu chú rể phải làm lễ gia
tiên như một sự tưởng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên. Sau lễ thành hôn, hai vợ
chồng trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên gọi là lễ lại
mặt.&nbsp;Sau&nbsp;đó,&nbsp;bố mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà thông gia vì
trong lễ cưới mẹ cô dâu không đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày
thứ hai hoặc thứ tư sau lễ cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ).  

Lễ cuới
miền Trung 

&nbsp;&nbsp;&nbsp; Quy
trình tổ chức lễ cưới ở miền Trung cũng có đủ các bước từ lễ chạm ngõ, hỏi
cưới, đến vu quy. Đám cưới miền Trung thường diễn ra giản đơn, không phô trương
nhưng ở mỗi phần cụ thể khá cầu kỳ với quan niệm &quot;trọng lễ nghi khi
(khinh) tài vật&quot;. 

 

Trước khi chuẩn bị lễ hỏi, cưới, người ta thường
xem ngày giờ tốt xấu, có khi lên chùa thỉnh ý các cao tăng. Sau khi chọn được
ngày giờ đẹp, hai bên thông gia sẽ báo cho nhau bằng một cuộc thăm đơn giản.
Việc này đôi khi do đôi bạn trẻ thực hiện nhưng phải là hai nhà có thân tình từ
trước. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ðối với
đám hỏi, người miền Trung chỉ xem là buổi gặp mặt giữa hai gia đình và họ hàng
thân thích để giới thiệu đôi bạn trẻ, không tổ chức rầm rộ. Ðám cưới có các lễ:
xin giờ, bái tơ hồng, rước dâu diễn ra ở nhà gái, đón dâu, trình báo gia tiên ở
nhà trai. Người miền Trung không có tục thách cưới. Lễ vật tối thiểu chỉ gồm:
mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng, bánh phu thê. Nếu khá giả, nhà trai có thể
thêm bánh kem, bánh dẻo, không có &quot;lợn quay đi lộng&quot; như nhiều nơi.
Ngoài ra, đám cưới ở miền Trung thường có phù dâu, phù rể và hai đứa trẻ thường
là&nbsp;một trai, một&nbsp;gái tuổi tương đương cầm đèn hay cầm hoa đi trước. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khi
đưa dâu, thông thường bố mẹ cô gái không&nbsp;đi cùng&nbsp;mà hôm sau mới sang
nhà trai với ý nghĩa xem con gái ngày đầu về làm dâu có gì phật lòng nhà chồng
không. Buổi gặp này, hai bên thông gia đối đáp những câu khách sáo, nhắn gửi
con cái cho nhau, căn dặn con mình phải thuận thảo với gia đình.  

&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong
phòng tân hôn phải có:&nbsp;một khay lễ với 12 miếng trầu, đĩa muối, gừng và
rượu giao bôi. Ðôi bạn trẻ phải nhai hết 12 miếng trầu, tượng trưng cho 12
tháng hòa hợp trong một năm, 12 năm hòa hợp tuần hoàn trong một giáp âm lịch.
Việc ăn muối, gừng mang màu sắc dân gian, biểu tượng nghĩa tình nồng thắm. Rượu
giao bôi theo đúng với lễ giáo phong kiến của Trung Hoa cũ. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hiện
nay, lễ này đã được nhiều gia đình miền Trung giảm bớt.&nbsp;Khi rước dâu, bố
cô gái theo về nhà trai bằng một chiếc xe khác, tại tiệc đãi sẽ trao đổi với
nhà trai. Ba ngày sau lễ cưới, cô dâu mới được trở về nhà bố mẹ đẻ để thu dọn
tư trang, bắt đầu cuộc sống&nbsp;mới tại nhà chồng. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tính
cầu kỳ của người miền Trung tại lễ cưới chủ yếu trong cách hành xử. Không ầm ĩ,
ồn ào, thái quá trong các lễ và tiệc cưới. Việc thưa gửi, trình bày của chủ
hôn, bố mẹ hai bên rất cầu kỳ và không bỏ sót.Vị chủ hôn thường là cao niên
trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vợ con đầy đủ, không tật bệnh,
tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Các phù dâu, phù rể là người chưa có chồng, vợ,
tính tình vui vẻ nhanh nhẹn. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp; Việc
bài trí phòng tân hôn phải do một người phụ nữ lớn tuổi, phúc hậu sửa soạn. Lễ
vật rước dâu, nhà trai nhờ một người cao tuổi, đủ vợ chồng con cái, gia đình
hòa thuận kiểm tra. Sau khi lễ xong, cặp nến hồng được người này thổi tắt. Số
người nhà trai đi rước dâu luôn ở số chẵn. Khi đón dâu, nhà trai thường cử vài
người đàn ông trẻ tuổi hoạt bát, đã có vợ con ra đứng đón sẵn để &quot;lấy
hên&quot; cho đôi tân hôn. Theo Afamily]]></description>
            <pubDate>2009/11/24 05:59:22</pubDate>
            <guid><![CDATA[Phong tục hôn nhân Việt Nam:1807]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Dự cưới Tại &quot;quê hương của cây hồ tiêu&quot; huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=4850]]></link>
            <description><![CDATA[Đây là giấy mời dự đám cưới con trai. Chủ nhân của gia đình này là Ông Nguyễn Hữu Minh, Giám đốc xí nghiệp KTCT thuỷ lợi Chư Sê. Gia đình này tương đối khá giả, ngôi nhà Thái toạ lạc tại 29 Lê Lợi thị trấn Chư Sê có diện tích 2.000m2 (mặt tiền 40m, chiều sâu 50m) nhà xây dựng phía bên trái của lô đất, phía bên phải là quán cà phê có cái tên gọi nghe ngồ ngộ &quot;Góc Phố&quot;, phía sau nhà gia chủ trồng khoảng 1.000m2 tiêu

Công nhân xí nghiệp kéo về dự đám cưới.Quán cà phê hôm nay tạm biến thành hôn trườngÔng Nguyễn Hữu Minh, bố của chú rể đang đứng chờ đón khách đến dự cướiSau đó vài phút bà vợ (mẹ chồng tương lai của cô dâu) cũng có mặt, nhìn kỹ bà mẹ chồng này cũng tương đối xinh xắn và phúc hậu.Khách đã đến, nhưng còn phải chờ đợi vì chưa đến giờ khai mạcHình như đây là xe và lái xe của Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai, đơn vị của Gia chủ làm việc là xí nghiệp trực thuộc công ty.Tiếp tục chờ đợiĐây rồi, họ nhà gái đã đến (4 cặp nam nữ)Chủ nhà bắt tay mời khách vào hôn trường, (có lẽ vào ngồi ở bàn bố trí cho hai họ)Ở bàn họ, họ nhà trai đã ngồi sẵn từ trước phía bên trái, họ nhà gái ngồi phía bên phảiKhách của công ty KTCT thuỷ lợi Gia Lai đến dự lễ, người đang cười và đang đi vào là Ông Lê Viết Đại (Phó Giám đốc công ty)Trong bộ phận đón khách xuất hiện thêm Ông Đào Văn Tuấn, trạm trưởng trực thuộc xí nghiệpNgười đang đi vào là Giám đốc công ty, trưởng phòng QLN&amp;CTTL, Phó phòng Tài vụ và Phó phòng Hành chính công tyChủ nhà hồ hởi và vui vẻ bắt tay thân mậtỞ đây từ mấy năm nay không hiểu bắt chước ở đâu mà người ta làm một cái giỏ để đựng tiền mừng cưới, trên mặt bàn còn có một tờ giấy hỷ cỡ lớn để người đi dự và mừng ký tên lưu niệmĐây là Ông Trần Anh kiệt, Giám đốc xí nghiệp nuôi trồng thuỷ sản Miền Trung, hiện đang ký hợp đồng nuôi cá tại hồ Ayunhạ (3.700ha) thời gian hợp đồng là 15 năm.Bỏ phong bì vào sọt và nhìn rất tự tinNgười mặc áo đen có lẽ là trưởng phòng Tổ chức công tyKhách từ TP Pleiku, hình như là Ông QuếỒ, người đeo kính gầy gầy là Ông Đặng Duy Chiến-PGĐ XN AyunhạĐây là khách từ xí nghiệp Ayunhạ, huyện Ayun PaVà đây là khách đến từ Công ty-PleikuĐây là khách huyện Chư SêThằng này hình như là GĐXN trẻ nhất công ty đến từ huyện Krông Pa.....Đến từ XN kênh Nam AyunhạVà đây là bà con khu phố, lối xóm...Vườn tiêu sau nhà của Gia chủSau hơn một giờ dự lễ....say, vui,...Gia chủ tiễn khách, tôi đang chuẩn bị bước lên xe 12 chỗ trở về PleikuTới nơi rùi......xin chào và cám ơn bai bai]]></description>
            <pubDate>2009/11/23 20:28:19</pubDate>
            <guid><![CDATA[Dự cưới Tại &quot;quê hương của cây hồ tiêu&quot; huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai:4850]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Chúc mừng ngày 20/11]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=4640]]></link>
            <description><![CDATA[Tất cả chúng ta đều là học trò. Một bộ phận trong số chúng ta làm nghề giáo. Trước đây bạn bè chúng ta kẻ không vào được các trường Y, Dược, Bách khoa, Kinh tế thì vào trường sư phạm và ta cũng đã từng khuyên con cháu chúng ta đừng trở thành thầy giáo.....nhưng ta tin rằng tương lai sẽ khác đi và ta mong cho những thầy cô tương lai hãy là những người giỏi nhất trong số chúng ta và được hưởng một mức lương cao nhất. Mong cho giáo viên sẽ trở thành người thầy của tất cả các thầy trong xã hội của chúng ta.




&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/11/19 13:10:55</pubDate>
            <guid><![CDATA[Chúc mừng ngày 20/11:4640]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Phở khô Pleiku-Gia Lai (Phở Hai Tô)]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=4517]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ai đến Pleiku, thể nào cũng
được người ở đây một lần dắt đi ăn Phở khô Gia Lai, như muốn nhắc rằng Phố núi
cũng có đặc sản ẩm thực chứ thua ai! Mà thật thế, cứ ăn một lần Phở Khô Gia Lai
là sẽ “còn chút gì để nhớ” ngay thôi. Bây giờ, Phở Khô GL trở thành thương hiệu
rồi. Đường phố nào ở Pleiku cũng có tiệm ăn bán món này. Sài Gòn thì có ít nhất
hai quán một ở Hoàng hoa Thám, một ở 194 Đặng văn Ngữ, quận Phú Nhuận, trưng bảng
rõ ràng “Phở khô Gia Lai, hai tô một xuất”. Năm 1959, khi Pleiku mới còn là một
thị trấn sơn cước, hổ còn về kiếm ăn tận ngã ba Khách Sạn Hoàng Anh thì đã có
tiêm ăn Đại Hưng ở số 41 Hoàng Diệu, (bây giơ là tiệm làm tóc Vĩnh Hoàng, 140
Hùng Vương) của ông Nguyễn thành Mỹ mở bán Phở khô gà và chỉ bán Phở khô với
thịt gà, chưa có những biến tấu tái, tái xương, bò viên như ngày nay.Mà chuyện
Phở khô có thịt bò và xương heo cũng có giai thoại của nó: Tiệm buôn bán đắt
khách, hàng ngày phải trực tiếp sát sinh vài chục mạng gà, ông Mỹ khuyên con
cái không làm phở gà nữa, chuyển qua làm Phở bò, Phở heo cho đỡ mang tội. Rồi
Phở khô tái, Phở khô tái xương cũng có công chúng riêng khá đông của nó. Tiệm
Ngọc Sơn, mở cửa vào những năm cuối của thập niên 1960 tại chính vị trí hiện
nay, góc Hùng Vương - Nguyễn thái Học của ông Nguyễn văn Phan. Ban đầu bán Phở
bò nước thông thường. Sau thấy Đại Hưng có nhiều khách cũng chuyển qua làm Phở
khô gà và thật lý thú, những hậu duệ của hai ông trở thành đại diện hai trường phái
Phở Khô Gia Lai cho đến nay: Phở khô tái xương ở quán Hồng, đường Nguyễn Văn
Trỗi do chị Hồng, con gái thứ tám của ông Mỹ điều hành; Phở Khô gà do hai con
trai của ông Phan đứng bán, một tại quán cũ, một ở đầu dốc cầu Hội Phú. Có thể
nói ông Nguyễn thành Mỹ là người phát minh ra Phở Khô Gia Lai, nâng chất và
cùng ông Nguyễn văn Phan đưa Phở Khô của mình thành một sản phẩm ẩm thực độc
đáo của Phố Núi. Vào quán, bạn có gọi: “ cho một tô phở khô” thì người ta vẫn
cứ bưng cho bạn hai tô (thế mới có biệt danh là Phở hai tô). Một tô đựng bánh
phở làm từ bột gạo xay. Bánh phở khi trụng nóng để làm phở không khô cứng như
mường tượng mà còn mềm dai, nên cũng như phở tươi, bánh phở khô làm hôm nào
phải bán hết hôm đó, để qua đêm là thiu chua ngay. Chỉ có Phở Khô Gà người ta
mới bày thịt hoặc lòng gà xé hay xắt nhỏ lên bánh phở, còn nếu dọn với thịt bò
tái, xương heo, bò viên thì các thành phần này nằm trong tô thứ hai. Rưới lên
trên cùng là nước béo lẫn với thịt heo bằm nhỏ hoặc tóp mỡ, thế là xong tô thứ
nhất. Tô thứ hai để đựng nước lèo được ninh từ xương gà, xương bò, lửa riu riu,
hớt bọt kỹ bảo đảm để nước trong, chỉ nêm nếm với muối và bột ngọt, không có một
loại gia vị nào nữa. Có người ăn thử nước lèo của Phở Bắc với đầy đủ gia vị
thảo quả, quế, hồi, gừng… cùng Phở Khô đã cho rằng cứ như quần Jean mặc với áo
Bà Ba, phô lắm! Ngập trong tô nước lèo là thịt bò tái, xương heo, hoặc bò viên.
Nổi trên mặt bây giờ mới là hành ngò xắt nhỏ. Rau ăn kèm với Phở Khô Gia Lai cũng
đơn giản chỉ có xà lách, húng quế và giá trụng. Ngổ hay Ngò gai đi theo cũng
không hợp. Ăn Phở Khô Gia Lai phải đúng quy trình mới cảm nhân hết cái ngon của
nó, Bạn gia giảm mặn nhạt bằng tương nâu làm từ đậu nành và đường vàng, cùng xì
dầu, chứ không thể là nước mắm được. Dùng muỗng xắn tư để sợi bánh ngắn lại,
trộn đều. Nhai từ tốn sao cho bánh, thịt, nước béo, gia vị thành một hỗn hợp
thắm đượm, giàu chất dinh dưỡng. Trước khi đưa hỗn hợp này xuống bao tử, bạn chiêu
thêm một muỗng nước lèo, nhai thêm vài cái. Lúc này, mới thấy Phở khô Gia Lai
là gì. Mà không phải ngẫu nhiên, người ta dọn riêng bánh phở với nước lèo. Bạn
đã hiểu tại sao lại là PHỞ HAI TÔ chứ?&nbsp; 
                                                
                                    ST-Văn hoá ẩm thực Gia Lai nhân dịp Festival cồng chiêng quốc tế tổ chức tại Gia Lai từ 12/11-15/11/2009]]></description>
            <pubDate>2009/11/13 14:58:38</pubDate>
            <guid><![CDATA[Phở khô Pleiku-Gia Lai (Phở Hai Tô):4517]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Chùm ảnh Hồ Đức An (Công viên Diên Hồng)-Pleiku]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=4588]]></link>
            <description><![CDATA[Ánh nắng buổi chiều soi xuống làng nướng ven hồLiễu rủ bên hồCầu treo Hồ Đức AnLàng du lịch Hồ Diên Hồng xây dựng bên hồ nhỏ phía bên kia đập Hồ Đức An]]></description>
            <pubDate>2009/11/09 00:13:59</pubDate>
            <guid><![CDATA[Chùm ảnh Hồ Đức An (Công viên Diên Hồng)-Pleiku:4588]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Kế hoạch tổng thể về Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=4294]]></link>
            <description><![CDATA[

ỦY
BAN NHÂN DÂN&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp; CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; TỈNH
GIA LAI&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp; &nbsp; Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc 

&nbsp;Số: 2632/KH UBND&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;. Pleiku, ngày 03 tháng 9 năm 2009 

 &nbsp; 

KẾ HOẠCH TỔNG THỂ 

Về Festival Cồng
chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai 

&nbsp;Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ tại
văn sô 3317/VPCP ngày 22 tháng 05 năm 2009 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý
kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân về việc đồng ý cho phép tỉnh Gia Lai
được tổ chức sự kiện Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai. 

Căn cứ tình hình thực tế của địa phương; 

UBND tỉnh ban hành Kế hoạch Festival Cồng chiêng
quốc tế năm 2009 tại Gia Lai như sau: 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
I. TÊN GỌI: Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
II.
MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA: 

- Festival cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia
Lai là một trong những hoạt quan trọng, nhằm biểu dương giá trị của không gian
văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên theo tinh thần Chương trình hành động nhằm bảo
tồn, phục hồi giá trị của kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân
loại “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên” của Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL)
công bố ngày 19/7/2006. 

- Góp phần tuyên truyền, vận động để các dân tộc
trong tỉnh, trong khu vực, trong nước hiểu về nhau hơn, chăm lo đời sống vật
chất và tinh thần của người dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền
thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh Gia Lai. 

- Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia
Lai cùng các hoạt động văn hoá, du lịch tổ chức tại Gia Lai nhằm tôn vinh nền
văn hoá các dân tộc Việt Nam đậm đà bản sắc, giới thiệu đến bạn bè quốc tế&nbsp;
giá trị văn hoá Việt Nam, đồng thời học hỏi, tiếp thu những tinh hoa văn hoá
của nhân loại để làm giàu thêm vốn văn hoá Việt Nam nói chung, Tây Nguyên và
Gia Lai nói riêng. Thông qua những hoạt động mang tầm quốc gia và khu vực được
tổ chức trong Festival, mối đoàn kết, hữu nghị, hiểu biết lần nhau giữa các
nước, các dân tộc có sự tương đồng về văn hoá ngày càng phát triển, góp phần
quảng bá hình ảnh Gia Lai với bạn bè Quốc tế. 

- Đây là sự kiện quan trọng đối với tỉnh Gia Lai,
có sự chỉ đạo, hỗ trợ của Bộ VHTTDL, có sự phối hợp chặt chẽ, sự hưởng ứng và
tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các tỉnh trong khu vực, các thành
phần kinh tế và nhân dân tỉnh Gia Lai. 

- Các hoạt động Festival cồng chiêng Quốc tế năm
2009 tại Gia Lai phải đảm bảo quảng bá được giá trị văn hoá, âm nhạc cồng
chiêng Tây Nguyên và Việt Nam; cần làm cho Festival cồng chiêng Quốc tế&nbsp;
năm 2009&nbsp; tại Gia Lai thật tưng bừng, hoành tráng, gây được ấn tượng…để từng
bước đưa hoạt động này trở thành sự kiện văn hoá thường kỳ, tổ chức 3 năm một
lần tại Gia Lai. 

- Lễ khai mạc và bế mạc cần được giàn dựng công
phu, hoành tráng nhưng không mang tính sân khấu hoá nặng nề; phải tạo nên một
chuỗi các sự kiện liên hoàn, đậm đà bản sắc văn hoá. Giữa khai mạc và bế mạc là
khoảng thời gian giành cho các hoạt động phong phú, đa dạng khác nhằm giới
thiệu được nhiều nhất giá trị của di sản không gian văn hoá cồng chiêng Tây
Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng, đồng thời thu hút tối đa lượng khách đến
với TP. Pleiku-tỉnh Gia Lai. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
III. QUY MÔ: 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
- Đây là
lễ hội mang tầm quốc gia và khu vực do tỉnh Gia Lai tổ chức được Bộ VHTTDL giúp
đỡ chỉ đạo. 

- Lực lượng tham gia các hoạt động: 3000 người. 

- Khách mời: gần 3000 người (gồm các cơ quan
Trung ương, 29 tỉnh, Thành phố có cồng chiêng, 4 tỉnh Tây Nguyên và khách quốc
tế&nbsp; mời 6 nước: Campuchia, Lào, Malaixia, Indonexia, Mianma, Philippin. 

- Lượng khách tới dự các hoạt động Festival
khoảng 30.000 người. 

- Thời gian: Festival diễn ra từ ngày 12/11/2009
đến 15/11/2009. 

+ Lễ khai mạc: Vào lúc 20h00’ ngày 12/11/2009. 

+ Lễ Bế mạc: Vào lúc 20h00’ ngày 15/11/2009. 

IV. CÁC HOẠT ĐỘNG DIỄN RA TẠI FESTIVAL (từ
12/11đến 15/11/2009): 

1/. Lễ Khai mạc: 

- Thời gian: Từ 20h00’ đến 21h30’ ngày
12/11/2009. 

- Địa điểm: Tại Quảng trường 17/3 - Tp.Pleiku - tỉnh
Gia Lai. 

- Kịch bản: Tổng đạo diễn xây dựng kịch bản riêng
(huy động 3.000 người tham gia gồm các Nghệ nhân, Nghệ sĩ, lực lượng vũ trang,
học sinh, sinh viên; thể hiện hoành tráng, tái hiện những dấu ấn lịch sử hình
thành và phát triển Gia Lai; bắn pháo hoa 15 phút). 

2/. Trình diễn Cồng chiêng: 

- Thời gian: Từ ngày 13/11 đến ngày 15/11/2009. 

- Địa điểm: Tại Quảng trường 17/3, Công viên Đồng
Xanh, Công viên Diên Hồng, điểm du lịch sinh thái Về Nguồn. 

- Đơn vị chủ trì: 

+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai
chịu trách nhiệm về chuyên môn và tổ chức thực hiện. 

+ UBND các huyện, thị xã, thành phố có các đoàn
cồng chiêng tham gia trình diễn, chịu trách nhiệm hỗ trợ kinh phí tập luyện cho
các đoàn cồng chiêng của địa phương mình. 

+ UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí ăn, ở cho các đoàn
cồng chiêng trong thời gian tham gia chương trình tại tỉnh. 

3/. Phục dựng Lễ đâm trâu mừng chiến thắng: 

- Thời gian: 9h00’ đến 11h00’ ngày 14/11/2009. 

- Địa điểm: Khu du lịch sinh thái và lễ hội Về
Nguồn. 

- Đơn vị chủ trì: 

+ Công ty TNHH một thành viên Đặng Phước chịu
trách nhiệm về chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất và chủ trì tổ chức thực
hiện. 

+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách
nhiệm về nội dung kịch bản cung cấp cho Công ty TNHH một thành viên Đăng Phước. 

+ UBND huyện K’Bang chịu trách nhiệm bố trí đoàn
nghệ nhân làng Mơ Hra, xã Kông Lơng Khơng, huyện K’Bang tham gia phục dựng lễ
đâm trâu. 

&nbsp;+ UBND tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí tổ
chức cho Công ty TNHH một thành viên Đặng Phước và kinh phí ăn, ở cho nghệ nhân
trong thời gian tập luyện tại địa phương. 

4/. Phục dựng Lễ Pơthi (Bỏ mả):(ngày 27/9 Thay bằng lễ mừng lúa mới) 

- Thời gian: 19h00’ đến 21h00’ ngày 14/11/2009. 

- Địa điểm: Công viên văn hoá Đồng Xanh -
Tp.Pleiku - Gia Lai 

- Đơn vị chủ trì:  

+ Công ty cổ phần Văn hóa và Du lịch Gia Lai chịu
trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện cơ sở vật chất và chủ trì tổ chức thực hiện. 

+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách
nhiệm về nội dung kịch bản cung cấp cho Công ty cổ phần Văn hóa và Du lịch Gia
Lai. 

+ UBND huyện Chư Păh chịu trách nhiệm bố trí đoàn
nghệ nhân xã Ia Ka, huyện Chư Păh tham gia phục dựng lễ bỏ mả. Phối hợp chặt
chẽ với sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và đơn vị thực hiện để tổ chức lễ. 

+ UBND tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí tổ chức cho
Công ty cổ phần Văn hóa và Du lịch Gia Lai và kinh phí ăn, ở cho nghệ nhân
trong thời gian tham gia tổ chức lễ tại tỉnh. UBND huyện Chư Păh hỗ trợ kinh
phí tập luyện cho nghệ nhân trong thời gian tập luyện tại địa phương. 

5/. Trình diễn Chỉnh chiêng: 

- Thời gian: Ngày 14/11 đến ngày 15/11/2009. 

- Địa điểm: Công viên Diên Hồng - Tp.Pleiku - Gia
Lai. 

- Đơn vị chủ trì:  

+ Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Gia Lai chịu
trách nhiệm về nội dung kịch bản và tổ chức thực hiện. 

+ UBND các huyện, thị xã, thành phố hỗ trợ kinh
phí tập luyện cho các nghệ nhân tham gia chỉnh chiêng. Thông báo cho các nghệ
nhân khi tham gia chỉnh chiêng tự mang theo chiêng và dụng cụ để chỉnh chiêng. 

+ UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí ăn, ở cho các nghệ
nhân trong thời gian tham gia chương trình tại tỉnh. 

6/. Trình diễn tạc tượng: 

- Thời gian: Từ ngày 14/11 đến ngày 15/11/2009. 

- Địa điểm: Công viên văn hoá Đồng Xanh - Tp.
Pleiku - Gia Lai. 

- Đơn vị chủ trì:  

+ Công ty cổ phần Văn hóa và Du lịch Gia Lai chịu
trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện cơ sở vật chất để tổ chức. 

+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm
báo cáo UBND tỉnh về nhu cầu gỗ, quy cách, loại gỗ… để UBND tỉnh giao cho chi
cục kiểm lâm tỉnh cung cấp gỗ. 

+ UBND các huyện, thị xã, thành phố hỗ trợ kinh
phí tập luyện cho các nghệ nhân tham gia tạc tượng. Thông báo cho các nghệ nhân
khi tham gia tạc tượng mang theo dụng cụ, Ban tổ chức cung cấp gỗ để tạc tượng. 

7/. Hội thảo Xúc tiến đầu tư: 

- Thời gian: Từ 08h00’-10h00’ ngày 13/11/2009. 

- Địa điểm: Hội trường 2/9 - Tp. Pleiku - tỉnh
Gia Lai. 

- Đơn vị chủ trì:  

+ Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai. 

+ Sở Kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị các điều kiện để
tổ chức hội nghị. 

8/. Hội thảo xây dựng sản phẩm Du lịch gắn với
Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên và Hội thảo bảo tồn và phát huy giá
trị của Không gian văn hóa Cồng chiêng: 

- Thời gian: Cả ngày 14/11/2009. 

- Địa điểm: Hội trường khách sạn Hoàng Anh Gia
Lai - Tp. Pleiku - Gia Lai. 

- Đơn vị chủ trì: Tổng cục Du lịch và Viện Văn
hóa nghệ thuật – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. 

9/. Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao: 

- Thời gian: Từ ngày 11/11 đến ngày 16/11/2009. 

- Địa điểm: Công viên Lý Tự Trọng - Tp. Pleiku -
tỉnh Gia Lai. 

- Đơn vị chủ trì: Sở Công thương Gia Lai phối hợp
với Công ty tổ chức triển lãm, Câu lạc bộ Hàng Việt Nam chất lượng cao Thành phố Hồ Chí
Minh. 

10/. Hội làng nghề tiểu thủ Công nghiệp: 

- Thời gian: Từ ngày 12/11 đến ngày 15/11/2009. 

- Địa điểm: Tại Công viên Lý Tự Trọng - Tp.
Pleiku - Gia Lai. 

- Đơn vị chủ trì: Sở Công thương tỉnh Gia Lai. 

11/. Làng Văn hoá ẩm thực: 

- Thời gian: Từ 12/11 đến ngày 15/11/2009. 

- Địa điểm: Công viên Lý Tự Trọng - Tp. Pleiku -
tỉnh Gia Lai 

- Đơn vị chủ trì:  

+ Công ty cổ phần Văn hóa và Du lịch và Công ty
cổ phần Dịch vụ Gia Lai tổ chức thực hiện làng văn hóa ẩm thực với các món ăn
truyền thống của các dân tộc. 

+ Sở Y tế chịu trách nhiệm kiểm tra vệ sinh an
toàn thực phẩm. 

12/.Triển lãm ảnh các học giả Pháp trước năm 1954
về “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên”: 

- Thời gian: Từ ngày 05/11 đến ngày15/11/2009. 

- Địa điểm: Bảo tàng tỉnh Dân tộc học Việt Nam – Hà Nội. 

- Đơn vị chủ trì: Viện Văn hóa Nghệ thuật – Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch.  

13/. Triển lãm Sinh vật cảnh: 

- Thời gian: Từ ngày 12/11 đến ngày 15/11/2009. 

- Địa điểm: Quảng trường 17/3 - Tp.Pleiku - Gia
Lai. 

- Đơn vị chủ trì: Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn tỉnh Gia Lai. 

- Đơn vị tham gia triển lãm:&nbsp; Thành viên Hội
sinh vật cảnh của tỉnh Gia Lai. Mời thêm tỉnh Bình Định và Phú Yên tham gia. 

- UBND tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí vận chuyển
hiện vật tham gia triển lãm. 

14/. Lễ bế mạc: 

- Thời gian: Từ 20h00 đến 21h30 ngày 15/11/2009 

- Địa điểm: Tại Quảng trường 17/3 - Tp.Pleiku -
Gia Lai. 

- Kịch bản: Tổng đạo diễn xây dựng kịch bản riêng
(bắn pháo hoa 15 phút; khép lại Festival mở ra các các hoạt động nhằm giới
thiệu thu hút khách đến với Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên; qua Festival cồng
chiêng lần thứ I, Gia Lai sẽ đánh giá, rút kinh nghiệm công tác tổ chức để báo
cáo Chính phủ cho phép tỉnh Gia Lai tổ chức Festival Cồng chiêng trở thành lễ
hội đặc trưng của Gia Lai và định kỳ 3 năm tổ chức 1 lần). 

V. MỘT SỐ ĐIỂM THAM QUAN DU LỊCH: 

1. Khai thác các tour hiện có: 

- Tour “Một thoáng Pleiku” (01 ngày-01 đêm): khám
phá vẻ đẹp Biển Hồ, tham quan đồi chè Biển Hồ, chùa Bửu Minh, Bảo tàng Gia Lai,
nhà lao Pleiku, chùa Minh Thành, học viện bóng đá Arsenal JMG Hoàng Anh Gia
Lai, công viên Đồng Xanh, Khu du lịch Về Nguồn, công viên Diên Hồng. 

- Tour “Tham quan nhà máy thuỷ điện IaLy và tìm
hiểu văn hoá dân tộc Jarai” (01 ngày-01 đêm). 

- Tour “Du ngoạn sông nước Hồ Ayun Hạ, thác Phú
Cường và tìm hiểu sự tích Vua lửa (Phú Thiện) (01 ngày- 01 đêm). 

- Tour “Du lịch về nguồn” (01 ngày- 01 đêm): Tham
quan quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo (An Khê), tìm hiểu và thăm quê hương
Anh Hùng Núp- Làng kháng chiến Stơr (người banar), giao lưu đêm lửa trại và văn
nghệ cồng chiêng với dân làng. 

- Tour Trekking (02 ngày-01 đêm):
Pleiku-KôngChro- Yang Nam 
và Plei Bloom. Thăm làng, đi bộ, leo núi, bơi xuồng, lửa trại, cồng chiêng,
rượi cần, nghỉ đêm tại làng. 

2. Đơn vị tổ chức: Công ty Cổ phần văn hoá-
Du lịch Gia Lai; Công ty cổ phần Dịch vụ du lịch Gia Lai. 

VI. CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN QUẢNG BÁ: 

- Truyền hình trực tiếp lê khai mạc và bế mạc
trên VTV. 

- Tuyên truyền và quảng bá trên các phương tiện
thông tin đại chúng. 

- Quảng bá hình ảnh không gian văn hoá cồng
chiêng Tây Nguyên. 

&nbsp;Trên đây là kế hoạch tổng thể Festival Cồng
chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai của UBND tỉnh Gia Lai./. 

 &nbsp; 

Nơi nhận:&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH 

- Văn phòng chính phủ;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; KT.CHỦ TỊCH 

- Bộ VHTT&amp;DL;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;PHÓ CHỦ TỊCH 

- Bộ Tài chính; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp; (đã ký) 

- Bộ Công an; 

- Ban Chỉ đạo Tây Nguyên; 

- T/T Tỉnh ủy; 

- Lãnh đạo UBND tỉnh;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;Hoàng Công Lự 

- Thành viên BTC; 

- UBND các huyện, thị xã, thành phố; 

- Lãnh đạo VP UBND tỉnh; 

- Các đơn vị Gia Lai: Cty cổ phần VHDL;  

Cty Cổ phần DVDL; Cty TNHH một thành  

viên Đặng Phước; 

- Công ty TNHH Du lịch Sơn Lâm – Hà Nội; 

- Lưu: VT; Trung tâm tin học; 

-Các bộ phận tổng hợp; VX.
						15 phút pháo hoa trong lễ khai mạc						
					Một số hình ảnh của việc chuẩn bị Festival
Cồng chiêng quốc tế năm 2009 tại Gia Lai:





Chỉnh trang đô thị phục vụ 
Festival 







Nghệ nhân Rơ Chăm Ueek- làng Mơ-rông&nbsp;Yố (xã 
Ia Ka, huyện Chư Pảh)&nbsp;một trong hai nghệ nhân chỉnh chiêng giỏi nhất ở Gia Lai 
đang kiểm tra chiêng







Hợp tác xã dệt thổ cẩm ở xã Glar- huyện Đắk 
Đoa đang gấp rút sản xuất các sản phẩm&nbsp; dệt thổ cẩm truyền 
thông&nbsp;







Dân làng Ôr- xã Kông Lơng Kơng (thị trấn 
Kbang) đang tập lễ mừng năm mới và lễ đâm 
trâu







Các nghệ nhân ở làng làng Mơ-rông&nbsp;Yố đang 
tập cho lễ Pơ-thi (lễ Bỏ mả)







Tập biểu diễn cồng chiêng ở xã Groi II- xã 
GlarDự kiến tổng kinh phí tổ chức Festival khoảng 20
tỉ đồng trích từ nguồn ngân sách tỉnh, trung ương và vận động hỗ trợ từ các doanh
nghiệp.Hình ảnh về Lễ hội đâm Trâu mừng chiến thắng


Lễ mừng lúa mớiĐêm
xoang tây nguyên 


					
					Trình diễn tạc tượng gỗ&nbsp;
					
				
				
	
				
			
					
				
				
	
				
			 

Lần đầu tiên Festival cồng chiêng quốc tế được tổ chức tại Việt Nam, dự
kiến theo kế hoạch lễ khai mạc sẽ diễn ra vào ngày 12/11/2009, ngay sau khi UNESCO công nhận
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hóa thế giới, nên Festival
sẽ là sự kiện mang ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh Tây
Nguyên nói riêng và của Việt Nam nói chung. 

Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, đã chính thức
phê duyệt kịch bản lễ khai mạc và bế mạc Festival cồng chiêng quốc tế Gia Lai
với tên gọi &quot;Cồng chiêng Tây Nguyên và thông điệp đoàn kết các dân
tộc&quot;. Đây là lần đầu tiên Festival cồng chiêng quốc tế được tổ chức tại
Việt Nam .
NSND Lê Tiến Thọ sẽ là Tổng đạo diễn của chương trình và phần âm nhạc sẽ là
nhạc sĩ Nguyễn Cường. Ngoài đoàn chủ nhà Việt Nam, các đoàn cồng chiêng quốc tế
như Lào, Thái Lan, Malaysia… sẽ mang về đây một không gian lễ hội lớn với tiếng
ching, chiêng đủ loại, đủ cỡ, từ những chiếc chiêng cổ nhất tới dàn cồng chiêng
mới ra đời.  

Lễ khai mạc sẽ diễn ra vào 20h ngày 12/11
và được Đài Truyền hình Việt Nam 
tường thuật trực tiếp. Lễ hội sẽ mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống với âm
điệu chủ đạo là cồng chiêng Tây Nguyên, kết hợp với ca múa nhạc và những trang
sử thi chứa đầy huyền thoại. Mỗi tiết mục đều nhằm lột tả những dấu mốc đáng tự
hào của đất và người Tây Nguyên. Festival cồng chiêng quốc tế lần đầu tổ chức
tại Việt Nam 
sẽ hội tụ nhiều loại hình biểu diễn sân khấu cũng như có số lượng diễn viên
đông đảo tham gia. Nhằm tạo một không gian hoành tráng và ấn tượng, chương
trình sẽ mang đến các trang phục, vũ đạo mới mẻ, truyền thống nhưng cũng rất
hiện đại, đồng thời với việc sử dụng các công nghệ cao về bắn pháo, sử dụng lửa
và hỏa tiễn... 

Lễ khai mạc chắc chắn sẽ sôi động với sự tham gia
của hơn 1.000 diễn viên và âm thanh rộn ràng của trên 1.000 chiếc chiêng các
loại, xếp thành vòng xếp &quot;chiêng hoa&quot; gồm 9 lớp. Những người con tài
hoa của đại ngàn Tây Nguyên không thể vắng mặt trong lễ hội văn hóa lớn này. Ca
sĩ Y Moan xuất hiện ngay trong màn mở đầu với âm hưởng hùng tráng mà quyến rũ
của ca khúc &quot;Đến với cao nguyên&quot; cùng với 450 diễn viên các dân tộc
Eđê, K&#39;ho, Churu, M&#39;nông, Xê-đăng, Rơmăm múa phụ họa, tạo nên hình ảnh rực rỡ,
tượng trưng cho những thác nước, chùm pơlang đậm chất cao nguyên.  

Ca sĩ Siu Black sẽ xuất hiện một cách độc đáo trên
chiếc xe ngựa để mang đến ca khúc &quot;Đôi mắt Pleiku&quot; nổi tiếng của nhạc
sĩ Nguyễn Cường cùng trên 300 diễn viên múa phụ họa. Một đặc trưng văn hóa Tây
Nguyên còn là hình ảnh Già làng và nhà Rông cũng sẽ xuất hiện với tiếng tù và
vang vọng, tiếng cồng chiêng rộn rã, báo hiệu ngày hội săn bắn, hái lượm tưng
bừng. Khán giả sẽ được thưởng thức những lễ hội cao nguyên đầy phóng khoáng của
lễ hội đâm trâu, lễ hội đua voi, lễ mừng cơm mới, bên những vò rượu cần, giữa
âm thanh đặc sắc của các bản tấu chiêng.  

Đặc biệt, 11 chú voi Tây Nguyên sẽ xuất hiện và
chở các du khách trong nước và quốc tế giao lưu với khán giả. Cũng trong lễ
khai mạc, các tiết mục cồng chiêng đặc sắc nhất của các buôn làng Tây Nguyên và
của các nước tham dự lễ hội sẽ cùng góp mặt, tạo nên nét độc đáo có một không
hai của Festival này.  

Lễ bế mạc Festival cồng chiêng quốc tế cũng sẽ hoành
tráng tương xứng lễ khai mạc với sự tham gia của khoảng 2.000 diễn viên trong
các tiết mục mang tính nghệ thuật cao, khắc họa đậm nét về con người cũng như
bản sắc văn hóa và thiên nhiên trong không gian văn hóa cồng chiêng. Lễ bế mạc
sẽ là đêm tụ hội của các ngôi sao ca nhạc, đặc biệt là những giọng hát bốc lửa
trong nhạc rock Tây Nguyên.  

Các diễn viên múa chuyên nghiệp của Đoàn ca múa
Đam San và TPHCM sẽ thể hiện những màn múa sôi động diễn tả sức sống đang căng
tràn trên vùng đất bazan ngút ngàn nắng gió. Cùng với những khúc biến tấu trong
âm thanh, nét văn hóa độc đáo của người Tây Nguyên là trang phục rực rỡ, chiếc
gùi trên lưng thiếu nữ cũng được xuất hiện trong đêm bế mạc. Tất cả, tạo nên
những giai điệu rộn rã trong mối đồng cảm thân ái và hữu nghị, khẳng định vị
trí quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào Tây Nguyên. T.HằngKhông khí lễ hội tại ngã ba sân bay Pleiku-Đường Phạm Văn Đồng ngày 05/11/2009&nbsp;Đường Phạm Văn Đồng cách trung tâm (nơi tổ chức lễ hội) thành phố 2km 

Hiện nay, dọc các tuyến đường Hùng Vương, Lê
Duẩn, Trường Chinh, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hai Bà Trưng, Anh hùng
Núp... của TP Pleiku, cờ, băng rôn, khẩu hiệu chào mừng Festival cồng chiêng
quốc tế 2009 đã được trang hoàng lộng lẫy.  

Đặc biệt, tại Quảng trường 17-3, nơi sẽ diễn ra
lễ khai mạc và bế mạc đã được&nbsp;ban tổ chức trang hoàng nhiều kiểu trụ đèn
và kiểu đèn trang trí rất ấn tượng. Một khán đài mới đã được dựng lên để phục
vụ cho Festival với sức chứa gần 1.000 người. Tại các giao lộ trong TP Pleiku,
gần 400 bảng tên đường được thay mới, với hình ảnh cách điệu rất bắt mắtNhững hàng thông xanh mướt đã được Công ty công
trình đô thị TP Pleiku trồng lại sau cơn bão số 9, khoác lên phố phường Pleiku
một màu tươi mới, đầy sức sống. Trong những ngày qua, TP Pleiku đã huy động
hàng nghìn lượt học sinh ở các trường trong thành phố ra quân dọn dẹp đường phố,
ngõ hẻm. 

Ông Nguyễn Trung Tâm&nbsp;- Giám đốc Sở GT-VT
tỉnh Gia Lai cho biết, đoàn kiểm tra của Sở đã kiểm tra các phương tiện thủy
nội địa hoạt động trên các hồ và các khu du lịch như Ayun Hạ, Yaly, Sê San. Qua
kiểm tra phương tiện, dụng cụ cứu sinh, điều kiện người lái, đoàn đã yêu cầu
một số đơn vị chưa đáp ứng điều kiện hoạt động nhanh chóng khắc phục để đảm bảo
an toàn khi đưa phương tiện vào vận hành phục vụ du khách.  

Bên cạnh đó, Sở GT-VT đã chủ động làm việc với các
doanh nghiệp vận tải lớn trên địa bàn như: Hồng Hải, Thuận Hưng, Việt Hưng, Bảy
Lang, Diên Hồng, Việt Tân Phát… nhằm đảm bảo phục vụ theo kế hoạch, đồng thời
điều phối 20 xe chất lượng cao (từ 16 đến 45 chỗ ngồi) để phục vụ các đoàn
khách.  

Trong dịp này, Sở GT-VT cũng đã phối hợp cùng Công
ty cổ phần Đức Long Gia Lai, Công ty TNHH Thái Hòa - chi nhánh Gia Lai, Công ty
TNHH Vân Nam tổ chức khai thác 5 tuyến xe buýt phục vụ lễ hội, bắt đầu hoạt
động từ ngày 10-11 đến hết ngày 17-11, với tần suất 15 phút/chuyến. 

Cùng với việc trang trí, chỉnh trang đô thị, nhân
dịp Festival Cồng chiêng quốc tế năm 2009, Bảo tàng tỉnh Gia Lai sẽ trưng bày
bức tranh gò đồng lớn nhất từ trước đến nay, thể hiện quá trình đấu tranh, xây
dựng và phát triển của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Gia Lai.  




 
 
  
  Tập dượt màn đồng diễn cho lễ khai mạc Festival
  Cồng chiêng 
  
 




Bảo tàng tỉnh Gia Lai cũng trưng bày và giới thiệu
phiên bản&nbsp;chiếc trống đồng Ngọc Lũ lớn nhất Việt Nam với đường
kính 1,52m, nặng 1 tấn. Song song đó là triển lãm ảnh về Anh hùng Núp. Triển
lãm, sẽ tái hiện chân dung Anh hùng Núp - cánh chim đầu đàn của các dân tộc
thiểu số Tây Nguyên trong quá trình hoạt động cách mạng và trong cả đời thường.
 

Tại Công viên văn hóa Đồng Xanh, Công ty cổ phần
Văn hóa-Du lịch Gia Lai đã cho đúc chiếc chiêng đồng lớn nhất Việt Nam . Chiêng
đồng có đường kính 2,5m, trọng lượng 700 kg. Chiêng được đúc từ 1 tấn đồng do
các nghệ nhân ở làng đúc đồng truyền thống Phước Kiều, xã Điện Phương, huyện
Điện Bàn (Quảng Nam )
thực hiện. Đây là loại chiêng có núm, với 3 vòng tròn đồng tâm, hoa văn trang
trí đẹp mắt, tinh xảo theo truyền thống Tây Nguyên cùng hình ảnh đồng bào các
dân tộc Tây Nguyên đoàn kết nắm chặt tay nhau. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã công nhận đây là chiếc chiêng đồng lớn
nhất Việt Nam .
 

Trong dịp này, Công ty cổ phần Văn hóa-Du lịch Gia
Lai cũng khánh thành công trình tượng 18 vị Vua Hùng tại Công viên văn hóa Đồng
Xanh. 

Phục vụ cho việc mua sắm của du khách trong và ngoài
nước nhân dịp Festival lần này, hầu hết các chủ cửa hàng trên địa bàn TP Pleiku
đều đã có sự chuẩn bị từ nhiều tháng qua. Chị Huỳnh Ngọc Linh, chủ shop quà lưu
niệm Ngọc Linh trên phố Nguyễn Văn Trỗi cho biết: “Từ mấy tháng nay, cửa hàng
tôi đã đặt hàng từ các đầu mối nên hiện&nbsp;lượng hàng nhập về tăng gấp 3, 4 lần
so với ngày thường”. Trong khuôn khổ Festival Cồng chiêng quốc tế năm 2009 tại
Gia Lai, một hoạt động không kém phần hấp dẫn sẽ được diễn ra, đó là Hội làng
nghề tiểu thủ công nghiệp.  

Ông Trương Minh Thu - Phó Giám đốc phụ trách Trung
tâm khuyến công và Xúc tiến đầu tư (Sở Công thương Gia Lai) cho biết: “Trung
tâm sẽ tổ chức Hội làng nghề với các nghề: Dệt thổ cẩm, đồ gỗ mỹ nghệ, nhạc cụ
truyền thống và rèn công cụ… Ngoài việc trưng bày, bán các sản phẩm còn có các
màn biểu diễn trực tiếp của&nbsp;các nghệ nhân như dệt thổ cẩm, tạc tượng, rèn công
cụ để du khách thưởng ngoạn”. 

Festival Cồng chiêng quốc tế năm 2009 sẽ diễn ra
tại Gia Lai từ ngày 12 đến 15-11, nhưng những ngày qua tại TP Pleiku, các hoạt
động chuẩn bị đã cơ bản hoàn tất. Tất cả đã dồn sức cho ngày hội lớn. 

&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp; ĐỨC TRUNGMỘT VÀI HÌNH ẢNH GHI LẠI ĐƯỢC LÚC 14H CHIỀU 11/11/2009 TẠI ĐƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO-QUẢNG TRƯỜNG 17/3 VÀ CÔNG VIÊN LÝ TỰ TRỌNG NƠI DIỄN RA LỄ KHAI MẠC VÀO 2OH NGÀY 12/11/2009
					
					
					
					
					]]></description>
            <pubDate>2009/11/03 23:09:13</pubDate>
            <guid><![CDATA[Kế hoạch tổng thể về Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai:4294]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[HÌNH ẢNH VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC THỜI PHÁP THUỘC]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=5086]]></link>
            <description><![CDATA[HỆ THỐNG GIÁO DỤC THỜI PHÁP THUỘCNguồn:&quot;http://images.google.com.vn/imgres?imgurl=http://media.imeem.com/p/Wr-A8q5nvi.jpg&amp;imgrefurl&quot;Học sinh 
trường làngHọc sinh trên 
tỉnhÔng đồ gõ đầu 
trẻ




Môn lịch sử- 
Thời đó đã đưa lịch sử Ai Cập vào giảng dạy rồiMôn 
lịch sử- Đi thực tếMôn sinh học 
- Đi thực tế - bây giờ thì đào đâu ra voi để xem thực tế 
????Giờ hoá học - 
Thời đó đã sử dụng dụng cụ trực quan đưa vào bài giảng thế kia, chứ bây giờ mang 
tiếng có phòng thí nghiệm mà chỉ để ngâm dấm, khoá cửa đi qua nhiều khi tưởng 
căn phòng có maGiờ địa lý - 
Bản đồ minh hoạ vẽ to thật to, còn vẽ trên bảng nữa chứ. Còn bản đồ giáo viên 
minh hoạ giảng dạy bây giờ căng mắt mà nhìn. Thảo nào các cụ mình ngày xưa giỏi 
hơn bây giờ nhiều




Trong lớp 
họcGiờ thể dục 
nữ Giờ thể dục 
nam]]></description>
            <pubDate>2009/10/29 08:12:58</pubDate>
            <guid><![CDATA[HÌNH ẢNH VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC THỜI PHÁP THUỘC:5086]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[GIỚI THIỆU KHU DU LỊCH BẰNG GHI NHANH CHUYẾN CÔNG TÁC PLEIKU-AYUN HẠ]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/luuchuong_gl1957/article?mid=4138]]></link>
            <description><![CDATA[

Festival cồng chiêng quốc tế tại Gia Lai dự kiến tổ chức vào đầu tháng 11/2009 tại Gia Lai lần này sẽ có sự tham gia của đại diện
các dân tộc có cồng chiêng trong nước (khoảng 25-30 đoàn) và một số nước trong
khu vực như: Thái Lan, Campuchia , Philippines , Indonesia ... Festival có nhiều hoạt
động bao gồm: Lễ khai mạc, trình diễn cồng chiêng của các đoàn, phục dựng
truyền thuyết gươm thần và lễ cầu mưa, lễ hội đón năm mới, lễ pơ-thi (bỏ mả);
thi tạc tượng, thi chỉnh chiêng, các hội thảo: Xúc tiến đầu tư, xây dựng sản
phẩm du lịch gắn với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bảo tồn và phát
huy giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Hội chợ hàng Việt
Nam chất lượng cao, làng nghề truyền thống tiểu thủ công nghiệp, triển lãm
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, triển lãm sinh vật cảnh... Ngoài ra
còn có nhiều tour tham quan du lịch thú vị dành cho du khách đến với Festival
như: Tour “Một thoáng Pleiku”, tour tham quan Nhà máy Thủy điện Ia Ly, tour du
ngoạn hồ Ayun Hạ, tour du lịch về nguồn, tour dã ngoại, tour lên đỉnh Hàm Rồng
ngắm cao nguyên Pleiku... 

Để giải quyết công
việc chuẩn bị cho Fesival cồng chiêng tổ chức vào đầu tháng 11/2009, tôi thường
phải đi kiểm tra công tác an toàn chuẩn bị chào đón Festival ở các khu du lịch
sinh thái của công ty Khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai. Chuyến đi của tôi
hôm nay (22/10/2009) sẽ được ghi lại bằng hình ảnh (mang tính nghiệp dư) xin
mời các bạn hãy đi du lịch Công trình thuỷ lợi Ayunhạ cùng tôi, cảnh vật dọc
đường đi đã khác xưa nhiều.. Khởi hành từ 6 giờ sáng, trời mùa mưa nhưng hôm
nay có sương mù buổi sáng, hứa hẹn một ngày nắng đẹp... 

Xuất phát từ công ty KTCT thuỷ lợiĐi theo đường Phạm Văn Đồng (QL14) đến ngã ba Hoa Lư rồi tiếp đến ngã ba Phù ĐổngCầu vượt trước cổng trường THCS Phạm Hồng TháiNgã Ba Hoa Lư nay đã thành ngã tư (Bởi mới có đường đôi kéo dài Phạm Văn Đồng đến ngã ba Phù Đổng)Ngân Hàng Đầu tư và phát triển Chi nhánh Gia LaiVà đây là ngã ba Phù Đổng, việc phân luòng đường giao thông cho đến nay đã thực hiện gần xongNgã ba Phù Đổng nay đã thành ngã Tư gồm 4 con đường lớn (Phạm Văn Đồng nối dài, Lê Duẩn-Trường Chinh, Hùng Vương)&nbsp;Trụ sở chính của Tập đoàn Hoàng Anh GL tại ngã ba Poste de Controle (cũ)Đi Ayunhạ theo đường Trường Chinh hướng núi Hàm Rồng (xã Chư H&#39;Rông-tp Pleiku)Đã nhìn thấy núi Hàm RồngPleiku gắn liền với Biển Hồ
(To Nung Lake) và núi Hàm Rồng (Chư H’Rong mountain, Dragon Jawmountain). Biển
Hồ thì phải đến tận nơi mới thấy được, còn núi Hàm Rồng có thể thấy từ rất xa. Từ lâu
(do chương trình 327) cây cối đã phủ xanh ngọn núi, trên đỉnh núi hiện nay phía bên trái là trụ phát sóng
của Đài truyền hình Gia Lai, phía bên phải là cột ăng ten viễn thông liên tỉnh.
Và thật may, hôm nay suơng mù  không che khuất núi Hàm Rồng


Núi Hàm Rồng cũng là miệng núi lửa (nhô lên) và Biển Hồ cũng là miệng núi lửa (thụt xuống) nếu nhìn từ trên không các bạn sẽ rất ngạc nhiên khi diện tích biển hồ và núi Hàm rồng tương đương nhau (nếu bê núi Hàm Rồng ném xuống Biển Hồ chắc chắn sẽ vừa khít.....hiện tượng quan sát này chưa được giải thíchĐoàn xe nối đuôi nhau leo dốc Hàm Rồng, trời lất phất mưa, trên đỉnh núi đã có sương mù bao phủNúi Hàm Rồng cách Pleiku 12km. Đoạn đường từ ngã ba Phù đổng đến chân núi Hàm rồng (rẽ đi Biên Giới) là đoạn đường chung nhau của QL14 và QL19Leo dốc xong, khi xuống dốc là gặp đường rẽ (ngã ba)Đi thẳng là đi Huyện Chư Prông, rồi tiếp theo là huyện Đức Cơ (QL19) cửa khẩu Biên Giới Căm Pu Chia (Lệ Thanh) cách Pleiku 60kmRẽ trái là đi huyện Chư Sê rồi đi ĐăkLăk (QL14)Khu các nhà máy sản xuất chế biến của Tập đoàn Hoàng Anh Gia LaiRừng cao su 
Những đồn điền trồng cây cao su dọc quốc lộ 14 trong sương mù buổi sáng


Phải đi qua 10km đường có hai bên là các đồn điền Cao Su mới đến được địa phận của Thi Trấn Chư SêHết rừng cao suĐịa phận thị Trấn huyện Chư SêCâu Hồ Tiêu huyện Chư SêHai bên đường là vườn tiêu của cư dân thuộc Thị Trấn Chư Sê, mỗi hộ trồng tiêu đều làm được nhà Thái với thu nhập vài trăm triệu đồng mỗi nămVà đây là ngã ba Cheo Reo Thị Trấn Chư Sê, đi thẳng theo QL14 là đi ĐakLak, rẽ trái đi theo QL25 (Đường 7 ngày xưa) là đi Ayunhạ hướng thị xã Ayun Pa (Phú Bổn ngày xưa)Thị Trấn Chư Sê-Quốc lộ 25 đi Phú Yên (đường 7)
Đi được 1km nhìn ngược trở lại Thị Trấn Chư Sê
Và đây là đoạn đường QL25 đi AyunhạVườn tiêu đang ở thời kỳ XDCB trồng ven QL25Mặt hồ Ayunhạ nhìn thấy được từ QL25Mặt hồ Ayunhạ nhìn thấy được từ đoạn dốc Đỏ QL25-Chư SêĐàn bò của các hộ dân gần chân đèo Chư Sê, thông thường mỗi đàn từ 40con cho đến 400 conVườn Tiêu của các cư dân sống gần chân đèo Chư SêBắt đầu xuống đèo Chư Sê (dài 2km)Cánh đồng Ayunhạ nhìn từ đỉnh đèo Chư SêĐường đèoCầu dưới chân đèo Chư SêCổng vào khu du lịch sinh thái Hồ chứa thuỷ lợi Ayunhạ phía trái đường QL25 cách chân đèo Chư Sê khoảng 1kmĐi tiếp theo quốc lộ 25 xuống thị trấn Phú Thiện-rồi Thị Xã Ayun PaCổng vào Công trình đầu mối Hồ Ayunhạ, từ cổng vào đầu mối công trình khoảng 1,5kmDọc theo đường vào công trình là kênh chính Ayunhạ
Hình ảnh cánh đồng lúa Ayunhạ 13.500ha được tưới tự chảy bởi công trình Ayunhạ
Nhà quản lý cụm đầu mối, bãi vật liệu phòng chống lụt bãoĐường từ QL 25 vào đầu mối công trìnhCổng bán vé cho khách du lịchĐến cổng bảo vệ và bán vé du lịch rẽ phải đi qua cầu và đi ngược lại theo đường bờ kênh khoảng 200m sau đó rẽ trái và đi vào khoảng 300m các bạn sẽ thấy hang chôn giấu gươm thần dùng để cầu mưa của Vua lửa người Jơ RaiNơi đây sẽ diên ra lễ hội phục dựng múa gươm thần cầu mưa của Tộc người Jơ Rai do ngành Du Lịch Gia Lai phối hợp với công ty và địa phương tổ chức trong dịp lễ hội cồng chiêng quốc tế 11/2009Đập Ayunhạ nhìn từ cổng bán vé cho du kháchNhà máy thuỷ điện công suất 3.000kwh Văn phòng Xí nghiệp Khai thác Đầu Mối-Kênh chính thuỷ lợi AyunhạThời điểm 10giờ 30 phút sáng 22/10/2009Nhà máy thuỷ điện nhìn xuống từ cổng xí nghiệpĐoạn đường từ xí nghiệp đi lên đập AyunhạTrưởng Phòng tổng hợp của xí nghiệp Khai thác Đầu mối - Kênh chính thuỷ lợi Ayunhạ (Kỹ sư TL Bùi Anh Quang)Giám đốc xí nghiệp Khai thác Đầu Mối-Kênh Chính thuỷ lợi Ayunhạ (Kỹ sư TL Võ Đình Phúc)Sơ đồ hệ thống công trình cụm đầu mốiSân xí nghiệp Đầu Mối-Kênh chínhBãi trống đầu đập thuỷ lợi Ayunhạ, nơi qui hoạch bán cà phê, ăn nhẹ phục vụ cho Fetival Cồng Chiêng 2009Nhà thấp cống lấy nước, cầu tàu và du thuyền 20 chỗ ngồi 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Giới thiệu Sơ
lược về lịch sử công trình Ayun hạ 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Công
trình hồ chứa thuỷ lợi Ayunhạ bắt đầu thi công từ năm 1986 kết hợp với khai
hoang xây dựng đồng ruộng, tháng 12/1993 UBND Tỉnh Gia lai chính thức giao công
trình cho công ty Khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lai quản lý khai thác (theo quyết định số 1165/QĐ-UB ngày 21/12/1993 của
UBND tỉnh Gia lai)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;  

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mô tả một số thông số kỹ
thuật và đặc điểm của công trình:  

Hồ chứa thuỷ lợi
Ayunhạ (xã Ayunhạ,
huyện Phú Thiện) là công trình cấp 3 (nhóm A), được khởi công xây dựng từ
năm 1990, chặn dòng (sông Ayun) năm 1994, có dung tích hữu ích 253 triệu m3
nước, dung tích ứng với mực nước gia cường 401,7 triệu m3, diện tích
lưu vực 1.670 km2, diện tích mặt hồ (mực nước dâng bình thường cao trình 204m)
:3.700 ha, Diện tích ứng với mực nước gia cường 3.983ha, diện tích ứng với mực
nước chết 1.080 ha (ngập vĩnh viễn), vùng ngập dài ngày 2.620 ha, ngập tạm thời
1.880.ha, bán ngập 370 ha, vành đai vùng ngập lụt dài khoảng 26 km, Đập đất dài
366 m, cao 36m, đỉnh đập rộng 6m, cao trình đỉnh đập 211m, cao trình khu tưới
bình quân 160m, cống lấy nước (3mx3,5m) bê tông cốt thép dài 113m, cao trình đáy
cống 195m, lưu lượng nước qua cống bình quân 23,4m3/s, năng lực tưới
theo thiết kế 13.500ha, cống thuỷ điện Q= 23,4 m3/s, công suất nhà
máy 3000kwh, Tràn xả lũ 3 cửa cung BxH = 6m x 5m, QMax= 1.267 m3/s,
cao trình ngưỡng tràn 199m, cột nước cao 9,92m.  

Hệ thống kênh: Kênh chính
dài 14,458km, năng lực tải nước 23,4m3/s , kênh chính Nam dài
18,565km, năng lực tải nước14,8m3/s, kênh chính Bắc dài 14,8 km,
năng lực tải nước 8,8m3/s, trên 150 km kênh cấp 1, cấp 2, hàng trăm
km kênh cấp dưới và hàng ngàn công trình trên kênh trải dài và tưới phủ khắp
địa bàn ba huyện, thị (Phú Thiện, Ia pa &amp; thị xã Auynpa). Vị trí công trình
nằm trong toạ độ 12o56&#39;59&#39;&#39; - 12o57&#39;60&#39;&#39; vĩ độ Bắc, 107o27&#39;20&#39;&#39;-
107o28&#39;00&#39;&#39; kinh độ Đông, lòng hồ và đầu mối công trình thuộc địa
giới hành chính 6 xã thuộc 3 huyện Chư Sê, Phú Thiện và Đắc đoa đồng thời là
nơi tiếp giáp giữa hai vùng khí hậu Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Lòng hồ
Ayunhạ chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu Đông Trường sơn và bán Tây Trường
sơn.&nbsp;  

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhiệm vụ của công trình: Cấp nước tưới
phục vụ sản xuất nông nghiệp cho nhân dân trong khu tưới của công trình thuộc
địa bàn huyện Ayunpa (cũ) từ sau ngày chặn dòng năm 1994, năm 1996 UBND tỉnh
giao mặt nước hồ cho Trạm nghiên cứu thực nghiệm và dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản
Sở Nông nghiệp và PTNT Gia lai quản lý, ký hợp đồng cho xí nghiệp nuôi trồng
thuỷ sản Miền Trung thuê mặt nước hồ nuôi trồng thuỷ sản với thời gian là 15 năm giá 50.000.000đ
/năm. Năm 2002 UBND tỉnh chuyển giao lại cho công ty trực tiếp ký hợp đồng với xí nghiệp NTTS Miền Trung với giá cho thuê là 68.000.000đồng/năm, năm 2010 kết thúc hợp đồng.  

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một số hạn chế:  

+Do Luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dụng
công trình không thiết kế hệ thống tiêu riêng mà thiết kế tiêu theo kiểu tự
tiêu tràn từ ruộng này qua ruộng khác và đổ ra sông Ayun nên việc tiêu nước mặt
của cả hệ thống công trình vẫn còn nhiều hạn chế. 

+Một số diện tích tưới tự chảy nằm trong
khu tưới ghi trong luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình qua nhiều
năm Chính quyền địa phương chuyển sang xây dựng cơ sở hạ tầng làm giảm diện
tích tưới. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hiệu quả của công trình. 

&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chỉ sau 15 năm quản
lý khai thác, công trình thủy lợi Ayun Hạ đã mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội
rõ rệt cho đồng bào các dân tộc và cư dân kinh tế mới thuộc 2 huyện Phú Thiện,
Ia Pa và thị xã Ayunpa nói riêng và của tỉnh Gia Lai nói chung: Công trình đã
vận hành ổn định và nâng cao đời sống kinh tế, đời sống văn hóa, tinh thần cho
cư dân, tạo thành một vùng nông thôn trù phú, giàu đẹp. 

Với cánh đồng lúa
năng suất cao, trĩu hạt, rộng 13.500ha đã góp một phần lớn cải tạo khí hậu -môi
trường trong vùng ngày cành xanh, sạch đẹp. Thật vậy cho tới hôm nay công trình
thuỷ lợi Hồ chứa Ayunhạ ngoài việc cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho
nhân dân trên địa bàn ba huyện, thị (Phú thiện, Ia pa, và thị xã Ayunpa) xấp xỉ
13.500ha lúa nước 2 vụ, công trình còn Cấp nước phát điện công suất
3.000 kw/h đạt sản lượng trên 21 triệu kw/năm, tương ứng doanh thu cho ngành điện:12-14&nbsp;
tỷ đồng/năm mang lại doanh thu tiền nước cho công ty hàng năm 1.044 triệu đồng. Cấp
nước công nghiệp mía đường: Trên 400.000 m3/năm, Thuỷ lợi phí
thu được: 225 triệu đồng/năm. Cấp nước nuôi trồng thuỷ sản trên diện
tích 3.700 ha mặt nước, sản lượng đạt trên 250 tấn cá/năm chưa kể 1 trại cá
giống của xí nghiệp nuôi trồng thuỷ sản Miền Trung nằm ở thượng lưu hồ (30ha),
1 trại cá giống của công ty (4,6ha), 3 trại cá giống tư nhân và trên 1.500 ao
cá của nhân dân trong khu tưới của công trình, bảo vệ an toàn tuyệt đối lòng hồ
và vùng bán ngập ven hồ, tiền nước thu được từ hợp đồng cho thuê hồ 73 triệu
đồng/năm ngoài ra còn tiết kiệm chi phí bảo vệ hồ chứa trên 400 triệu
đồng mỗi năm. Cấp nước sinh hoạt (thô) cho Nhà máy nước thị xã Ayunpa:10 triệu
đồng/tháng mang lại doanh thu tiền nước cho công ty 100 triệu đồng/năm. Liên
kết khai thác trục vớt các cây gỗ chết trong lòng hồ Ayunhạ: sản lượng theo
hợp đồng liên kết đã ký 300m3/năm đem lại doanh thu 10% giá trị hợp đồng cho công ty. &nbsp;Dịch vụ du thuyền trên hồ (đưa khách tham quan dã ngoại thắng cảnh lòng hồ bằng tàu du lịch, dạo
chơi dưới nước bằng đạp thiên nga và tổ chức kéo dù rớt nước bằng thuyền cao
tốc): Doanh thu ước tính đạt hàng trăm triệu đồng/năm, mỗi năm có tới 30 ngàn
lượt khách trong và ngoài nước ra vào khu đầu mối công trình tham quan các hạng
mục và cảnh quan thiên nhiên, nhân tạo trong hồ và ven hồ, hàng ngàn lượt khách
đi du thuyền thăm quan thắng cảnh lòng hồ và thưởng thức sinh thái rừng tự
nhiên quanh hồ. Khai thác du lịch sinh thái: Hiện nay công ty đang cùng
với Sở Thương Mại và Du lịch, công ty Dịch vụ du lịch Gia lai và các doanh
nghiệp Du lịch của thành phố Hồ Chí Minh khảo sát, lập dự án đầu tư xây dựng hồ
Ayunhạ thành điểm du lịch sinh thái, vui chơi, giải trí với giá trị đầu tư trên 100 tỷ đồng (Gồm 6km đường giao thông từ quốc lộ 25 gần chân đèo Chư sê băng
rừng, núi đi thẳng vào lòng hồ, 01 làng du lịch gồm nhà nghỉ, trò chơi, nhà
hàng, khách sạn qui hoạch khoảng 10 ha ven mép nước, 30 ha rừng tự nhiên có cải
tạo lại phục vụ du khách đi voi thưởng thức thắng cảnh, non nước Tây nguyên, 01
bến cảng lớn phục vụ du thuyền, nhà hàng nổi di động. Trên mặt nước 3.700ha tổ
chức các trò chơi cảm giác mạnh như du thuyền, đua thuyền, lướt ván, câu cá
chạy.....Trong tương lai không xa Ayunhạ sẽ trở thành điểm du lịch nổi tiếng
trong tuor du lịch Hồ Chí Minh - Tây nguyên - Huế - Hà nội - Hồ chí Minh. Khai
thác thuỷ năng Kênh chính Ayunhạ: Cuối năm 2008 và năm 2009 công ty đã tổ
chức thi công nhà máy thuỷ điện Kênh Bắc Ayunhạ (dùng nước từ hồ Ayunhạ) với
tổng công suất lắp máy 900kwh, doanh thu tiền điện ước đạt 4 tỷ đồng/năm, doanh
thu thuỷ tiền nước xấp xỉ 400 triệu đồng/năm. 

Mái thượng lưu đập thuỷ lợi Ayunhạ lúc mực nước thấp nhấtKhi mực nước cao nhất (MNDBT cao trình 204m)Nhà tháp cống lấy nước và mặt hồ sau khi xả tràn xongMặt hồ Ayunhạ rộng 3.700haHình ảnh du thuyền và xuồng cứu hộĐường đi từ đập xuống bến du thuyềnDu thuyền số 03 (mới được sơn và sửa lại)Giám đốc xí nghiệp kiểm tra cầu tàuGiám đốc xí nghiệp kiểm tra tàu 01 và 02Đường xuống bến tàu quang co với nhiều tam cấp xen lẫn các khối đá granit tự nhiênRừng khọp ven hồTầu 01 và 02 đã xuất hiệnMọi chỗ nguy hiểm đều được xí nghiệp cắm biển báo dừng, báo cấmĐây là tàu 01 (40 chỗ ngồi) và tàu 02 (20 chỗ ngồi)Cả hai tàu đang được sơn sửa và trang bị mới lại hệ thống ghế ngồi cho du kháchGắn biển tuyệt đối chấp hành lệnh thuyền trưởng khi tàu xuất bến và hạn chế đi lại trên tàuGắn biển và yêu cầu bắt buộc du khách phải mặc áo phao khi đi tàuMỗi tàu khi xuất bến đều kéo theo ít nhất một xuồng cứu nạnBảng nội qui khu du lịch sinh thái và du thuyền hồ AyunhạMái thượng lưu đập được lát khan bằng đá chẻ GranitCông nhân đang giặt áo phaoĐường lên núi thăm nhà tưởng niệm những người đã ngã xuống khi xây dựng công trình AyunhạNhà tháp Tràn xả lũ 3 cửa cungThượng lưu tràn xả lũHạ lưu tràn xả lũKiểm tra an toàn vận hành tràn xả lũ trong mùa mưa lũ 2009
Mặt đập sau bão số 9 năm 2009Mái thượng lưu đập, nhà tháp cống lấy nước và nhà tưởng niệm trên núi nhìn từ phía tràn xả lũMái hạ lưu đập Aunhạ và rãnh tiêu nước thân đậpBảng nội qui, ghế đá lắp ven tường chắn sóng mái đập phục vụ cho du khách ngắm cảnh
Nhà máy thuỷ điện nhìn từ đập Ayunhạ
Văn phòng xí nghiệp (giờ tan ca buổi sáng 11h)

Chụp lại một lần nữa toàn cảnh nhà máy thuỷ điện trước khi trở lại với tp Pleiku


Hình ảnh cổng bán vé và bảo vệ khu du lịch sinh thái hồ thuỷ lợi Ayunhạ đi từ đầu mối công trình ra QL25
Chụp lại các cảnh cây Hồ tiêu huyện Chư Sê ven QL25 trên dường về Pleiku


Và đây là các vườn và trang trại cà phê









Bên cạnh mỗi vườn Tiêu bao giờ cũng có một ngôi nhà Thái hiện ra




Đây là cảnh rừng cao su sau cơn bão số 9 vừa qua

Đã về gần đến núi Hàm rồng, đây là khu thể thao của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai


Núi Hàm rồng nhìn từ phía Chư Sê Đi Pleiku

Xin mời các bạn về nghỉ tại khách sạn 4 sao Hoàng Anh Gia Lai để sáng mai đi tiếp thăm khu du lịch sinh thái hồ chứa thuỷ lợi Biển Hồ cách trung tâm thành phố Pleiku 10km theo hướng Đi KonTum QL14]]></description>
            <pubDate>2009/10/23 07:11:12</pubDate>
            <guid><![CDATA[GIỚI THIỆU KHU DU LỊCH BẰNG GHI NHANH CHUYẾN CÔNG TÁC PLEIKU-AYUN HẠ:4138]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- api1.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Sun Nov 29 17:48:03 SGT 2009 -->
