Bài mới nhất

Sửa Đóng
Thư mục: Pháp Luận |
Đăng ngày: 17:39 21-08-2009

Om Mani Padme Hum là một câu thần chú tiếng Phạn, được xem là thần chú cầu Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara) và là thần chú quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Nó còn được mệnh danh là “Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn” tức là “Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ”.

Om : Quy mệnh
Mani : Viên ngọc như ý
Padme : Bên trong hoa sen
Hum : Tự ngã thành tựu

Có thể dịch câu này là Om, ngọc quý trong hoa sen, Hum. (Om, to the Jewel in the Lotus, hum). Theo âm Hán-Việt, câu này được đọc là Úm ma ni bát ni hồng hoặc Án ma ni bát mê hồng.

Thông thường người ta không giảng nghĩa thần chú,  nhưng ở  đây  cần nói thêm là: “ngọc quý” biểu hiện cho  Bồ - đề  tâm (bodhicitta),  “hoa sen” chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên thần chú có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim  cương  thừa.  Đối  với  Phật  giáo  Tây tạng thì Om Mani Padme Hum chính là lòng từ  bi rộng lớn,  muốn  đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm tiết của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới.



Nguồn : http://amitabhahospice.org/hospice/compassion.php)
Dịch Việt : Mỹ Thanh

Các  thần  chú  là  biểu  hiện  của   âm  thanh  bắt  nguồn  từ  sự   rỗng  không.   Nó   là   âm   thanh   xác   thực   của    khoảng   trống   không.

Bắt nguồn từ khái niệm về chân lý tuyệt đối và trạng  thái rỗng  không, câu chú không hiện hữu. Không có âm thanh hay câu chú.  Âm   thanh và câu chú, như tất cả những dạng biểu thị khác nhau, đều ở  vị trí của cõi tương đối xuất hiện từ rỗng không. Trong cõi tương đối, mặc dù âm thanh chính nó không có thực thể, nó vẫn có năng lực để  chỉ định,  đặt tên, và có sự hoạt động ở tâm thức.
Thí dụ, khi có ai đó nói với chúng ta « Anh là  một  người tốt »  hoặc  « Anh là một người khó ưa » , những chữ « tốt » hoặc «  khó ưa »  không phải là « vật gì » . Đó chỉ là những âm thanh  mà  tự nó  không «  tốt  » hay « khó ưa », nhưng đơn giản gợi lên ý  nghĩ về  « tốt »  hoặc  « khó  ưa », và gây ra một tác dụng nơi tâm thức. Cũng như vậy, trong  phạm vi  tương  đối  nơi  hành  động,  thần  chú  được phú cho một năng  lực không thể sai lạc.

Các câu chú thường là tên các vị Phật, Bồ Tát,  hoặc  thần  thánh.  Thí dụ, OM MANI PADME HUNG (ÁN MA-NI BÁT DI HỒNG)  là  cách gọi ngài Chenrezig ( Quán Âm ). Từ  quan  điểm  tuyệt  đối,  Chenrezig không có tên, nhưng trong phạm vi ý nghĩa tương đối  hoặc  nghĩa  đen, ngài có tên gọi riêng. Những tên nầy là  trung  gian của  lòng  từ  bi,  vẻ thanh nhã, và sức mạnh cùng các nguyện ước của ngài làm lợi  ích  cho chúng sinh. Bằng cách niệm danh hiệu của ngài  để  những  phẩm  chất tâm thức nầy được truyền đến ta. Ở đây, việc giải nghĩa về năng lực lợi ích của thần chú, danh hiệu của ngài. Như chúng ta đồng hóa chúng  ta với tên họ và những gì liên hệ đến nó, cũng bằng  cách  nầy,  trên  bình diện tương đối, thần chú đồng nhất với vị thần. Cả hai  trở  thành   một thực tại duy nhất. Khi  một  người niệm chú,  người  ấy nhận  được  vẻ thanh nhã của vị thần ; bằng cách hình dung vị thần, vị thánh ấy, người niệm chú nhận được vẻ thanh nhã không khác  biệt  của  các  vị  thánh.

Thần  chú  OM MANI PADME HUM  đôi   lúc  được   giải  thích   với những ý nghĩa cầu kỳ và thần bí. Tuy nhiên, như chúng  ta  đã  nói, đây đơn giản chỉ là tên của Bồ Tát Quan Âm (Chenrezig) được đặt giữa hai âm thanh truyền thống và thiêng liêng, OM và HUNG.

- OM tượng trưng cho thân các vị Phật, các thần  chú  đều  bắt  đầu  từ âm nầy.
- MANI nghĩa « châu báo » trong Sanksrit ;
- PADME, phát âm theo Sankrit, or PEME  trong  tiếng  Tây  Tạng,  có nghĩa « hoa sen » ;
- HUNG tượng  trưng  cho tâm thức tất cả các  vị  Phật và  thường  là  câu cuối trong các thần chú.
- MANI nói về châu báo mà Bồ Tát  Quan Âm (Chenrezig)  cầm  trong hai tay giữa và PADME là hoa sen cầm  ở  tay  trái  thứ   nhì.  Khi   gọi MANI PADME là gọi tên ngài Chenrezig xuyên qua những phẩm hạnh của ngài : « Người đang cầm  châu  báu  và  hoa  sen. » «  Chenrezig  » hoặc « Hoa sen báu » là hai tên gọi của ngài  Chenrezig  ( Quán Âm ) .



Khi chúng ta niệm chú, thật ra chúng ta đang tiếp tục  lặp  lại  tên  ngài Chenrezig. Thực tập nầy có lẽ  trông  lạ  lùng.  Tỷ  như  có  một  người mang tên Sonam Tsering và chúng ta lặp đi lặp lại tên người  đó  không ngừng  nghỉ  theo kiểu  đọc  thần  chú.  Sonam Tsering, Soanm Tsering, Sonam Tsering, v..v.. Điều  nầy  thật  là  lạ  và  có  thể là vô dụng.  Mặt khác, nếu như niệm câu chú OM MANI PADME HUNG thì có ý nghĩa hơn, vì câu chú nầy được « đầu tư » bởi sự thanh nhã và năng  lực  tâm thức của ngài Quán âm (Chenrezig),  ngài Chenrezig  đã  gom sự  thanh nhã và từ bi của tất cả các vị Phật và Bồ Tát. Trong cách nhìn nầy, câu chú được phú cho khả năng vén màn tâm  tối,  và  thanh  tịnh  hóa  tâm thức chúng ta. Thần chú mở mang tâm thức thương yêu và  từ  bi,  đưa đến sự tỉnh thức giác ngộ.

Các vị Bồ tát và thần chú là một nguyên thể, nghĩa là một người có thể niệm chú mà không cần thiết phải hình dung, tưởng  tượng. Niệm  chú vẫn có hiệu quả.
Phẩm chất xác thực của mỗi âm trong sáu âm của  câu  chú  được  giải thích rất phù hợp.
Trước tiên, hãy để chúng ta xem mỗi âm giúp chúng ta đóng cánh cửa tái sanh đau  khổ,  một  trong  sáu  cõi  hiện  hữu  của  vòng  luân  hồi :


- OM đóng cánh cửa luân hồi trong cõi trời ;
- MA, cánh cửa cõi thần, A-tu-la
- NI, cánh cửa cõi người
- PAD, cánh cửa cõi súc sanh
- ME, cánh cửa cõi ngạ quỷ ;
- HUNG, cánh cửa cõi địa ngục.
Mỗi âm tiết được xem như có ảnh hưởng thanh tịnh hóa :
- OM thanh tịnh hóa bản thân ;
- MA thanh tịnh hóa lời nói ;
- NI thanh tịnh hóa tâm thức ;
- PAD thanh tịnh hóa những cảm xúc mâu thuẫn ;
- ME thanh tịnh hóa điều kiện ẩn tàng ;
- HUNG thanh tịnh hóa tấm màn che phủ trí tuệ.
Mỗi âm tiết là một bài cầu nguyện :
- OM lời cầu nguyện hướng về thân thể của các vị Phật ;
- MA lời cầu nguyện hướng về lời nói của các vị Phật ;
- NI lời cầu nguyện hướng về tâm thức các vị Phật ;
- PAD lời cầu nguyện hướng về những phẩm chất của các vị Phật ;
- ME lời cầu nguyện hướng về hoạt động của các vị Phật ;
- HUNG gom góp sự thanh nhã của thân, khẩu, ý,  phẩm chất,  và  hoạt động của các vị Phật.
Sáu âm tiết liên hệ  đến sáu ba-la-mật, sáu  sự  hoàn hảo  được  chuyển hóa :


- OM liên hệ đến sự rộng lượng ;
- MA, đạo đức ;
- NI, kiên trì, nhẫn nhịn,
- PAD, chuyên cần,
- ME, chú tâm,
- HUNG, trí tuệ.

Sáu âm tiết cũng liên quan đến sáu vị Phật, ngự trị trên sáu Phật gia :


-OM liên hệ đến Ratnasambhava (Bảo-Sanh Phật) ;
- MA, Amaghasiddi (Bất-Không-Thành-Tựu Phật) ;
- NI, Vajradhara (Kim Cương Trì / Phổ-Hiền Bồ Tát) ;
- PAD, Vairocana (Lô-Xá-Na Phật) ;
- ME, Amitabha (A-Di-Đà Phật) ;
- HUNG, Akshobya (A-Súc-Bệ Phật) .
Cuối cùng, sáu âm tiết liên hệ đến sáu trí tuệ :
- OM = Trí tuệ thanh thản, an bình ;
- MA = trí tuệ hoạt động ;
- NI = trí tuệ tự tái sanh ;
- PAD = trí tuệ pháp giới ;
- ME = trí tuệ phân biệt ;
- HUNG = trí tuệ như gương.

Ở Tây Tạng, mọi người thường tụng niệm thần chú của ngài Chenrezig (Quán Âm). Sự đơn giản và phổ thông của thần chú không làm giảm đi sự to tát của thần chú, và còn có giá trị to lớn hơn. Điều nầy  được  thể hiện trong câu nói khôi hài sau :

Ở đoạn khởi đầu, không có đau khổ vì không biết,
Ở đoạn giữa, không có lòng tự kiêu vì hiểu biết,
Ở đoạn cuối, không sợ quên câu chú.

Không có sự hiểu biết về lý luận, y học, chiêm tinh học, và những môn khoa học khác là sự đau khổ, bởi vì một  người  có  thể bỏ  nhiều  năng lực, cố gắng và chấp nhận  nhiều  mệt mỏi  để  học hỏi nó.  Tuy  nhiên, trong  vài  giây  ngắn  ngủi   đã  đủ  để  học  thuộc  thần  chú  của  ngài Chenrezig. Không cần đối diện với đau khổ từ si mê cho đến hiểu  biết. Bởi vì vậy, « Ở đoạn đầu không có đau khổ vì không biết. »

Một người sau mấy năm học hỏi môn khoa học khó khăn sẽ nhận được danh vọng hoặc chức vị ở xã hội, và  họ  hoàn  toàn  hài  lòng  với  bản thân và tin rằng họ giỏi hơn tất  cả  những  người  khác. Thần  chú  đơn giản của ngài Chenrezig giúp cho một người  tránh  rơi  vào  tình  trạng nói  trên.  Như  vậy, « Ở đoạn  giữa, không  kiêu  ngạo  khi  hiểu biết. »

Cuối cùng, nếu chúng ta không gìn giữ câu chú, sự hiểu biết mà chúng ta thâu thập được trong y học, chiêm tinh học, hoặc  những môn  khoa học khác có thể dần dà bị mai một. Nhưng không  thể  nào quên  được sáu âm tiết câu chú. OM MANI PADME HUNG. Vậy, « Ở  đoạn  cuối, không sợ quên câu chú. »

Cũng vậy, từ những bài ghi chú của tôi « Cơn mưa liên tục  làm lợi  ích cho Chúng Sinh » :

- OM là màu TRẮNG ;
- MA, màu XANH LÁ CÂY ;
- NI , màu VÀNG ;
- PAD, màu XANH DA TRỜI ;
- ME, màu ĐỎ ;
- HUNG, màu ĐEN.

Câu chú có thể được tóm tắt như sau : « Tôi cầu xin hiện thân của năm dạng và năm ý thức chuyển hóa, Vị bồ tát sỡ hữu viên ngọc và hoa sen để bảo hộ tôi thoát khỏi những nỗi  đau khổ của  chúng  sinh trong  sáu cõi. »

OM MANI PADME HUNG  là  bản  tóm  tắt  của bộ sưu tập kiến thức trực tiếp của tất cả các vị Phật. Những chỉ dẫn bao gồm trong  mỗi  âm của sáu âm tiết, là bản chất Tinh Thông Bí mật về các vị Phật, là nguồn gốc của tất cả mọi phẩm chất và hạnh  phúc  sâu  sắc,  gốc  rễ  của  các thành  tựu  lợi   ích,  sung  sướng, và   là  con   đường  vĩ  đại  đưa  đến  những hiện hữu và tự do cao cả.

(Nguồn: Phần phụ lục sách: “Tạng thư Sống Chết”)
The Tibetan Book Of Living And Dying
Sogyal Rinpoche
Ni sư Thích Nữ Trí Hải dịch

Tạng ngữ đọc là Om Mani Pémé Hung. Thần chú này tiêu biểu tâm đại bi và ân sủng của tất cả chư Phật, Bồ-tát, nhất là ân sủng của Quán Tự Tại, vị Phật của lòng bi mẫn. Quán Tự Tại (hay Quán Thế Âm) là  hiện thân của Phật trong hình thức Báo  thân, và  thần  chú  của  ngài  được xem là tinh túy của lòng bi mẫn của chư Phật  đối  với  hữu  tình.  Nếu Ngài Liên Hoa Sinh là bậc thầy quan trọng nhất của  người  Tây  Tạng, thì Quán Tự Tại  là  vị  Phật  quan  trọng  nhất  của  họ, là  vị  thần  hộ  mệnh của dân tộc này. Có câu nói nổi tiếng là vị Phật của  lòng bi  mẫn đã ăn sâu vào tiềm thức Tây Tạng tới nỗi một hài nhi vừa biết nói tiếng “Mẹ” là đã biết đọc thần chú này, OM MANI PADME HUM.

Tương truyền vô lượng kiếp về trước có một ngàn thái tử phát tâm Bồ-đề nguyện thành Phật. Một vị nguyện thành Phật  Thích Ca  mà  ta  đã biết ; nhưng Quán Tự Tại thì nguyện sẽ không đạt thành Chính giác khi mà tất cả ngàn thái tử chưa  thành. Với  tâm  đại  bi  vô  biên, ngài  còn nguyện giải  thoát  tất  cả  chúng  sinh  ra  khỏi  khổ  sinh  tử  luân  hồi  trong  lục  đạo. Trước  mười  phương   chư   Phật,  ngài   phát   nguyện: “Nguyện cho con cứu giúp được tất cả hữu tình, và nếu có khi nào con mệt mỏi trong công việc lớn lao này thì nguyện cho thân con tan thành một ngàn mảnh”.

Đầu  tiên, ngài  xuống  cõi  địa  ngục, tiến  lên  dần  đến  cõi  ngạ  quỷ,  cho đến các cõi trời. Từ đấy ngài tình cờ nhìn xuống và trông thấy than ôi, mặc dù ngài đã cứu vô số chúng sinh thoát  khỏi địa  ngục, vẫn  còn có vô số  khác  đang  sa  vào.  Điều  này  làm  cho  ngài  đau  buồn  vô  tận, trong một lúc ngài gần mất tất cả niềm tin vào lời nguyện vĩ đại mà ngài đã phát, và thân thể ngài liền nổ tung thành ngàn mảnh. Trong cơn tuyệt  vọng,  ngài  kêu  cứu  tất  cả  chư  Phật.  Những  vị  này  từ mười phương thế giới đều bay đến như mưa tuyết để tiếp  cứu. Với  thần  lực nhiệm mầu, chư Phật làm cho ngài  hiện  toàn  thân  trở  lại, và  từ  đấy Quán Tự Tại có mười một cái đầu,  một  ngàn cánh  tay, trên  mỗi  lòng tay có một con mắt. Ý nghĩa rằng sự phối hợp giữa  trí  tuệ  và  phương tiện thiện xảo là dấu hiệu của đại bi chân  thực. Trong  hình  thức  này, ngài còn sáng chói rực rỡ, và có nhiều năng lực hơn trước để  cứu  giúp tất cả chúng sinh. Tâm đại bi của ngài khi ấy còn mãnh liệt hơn nữa, và ngài lại phát lời nguyện này trước chư Phật: “Con nguyện không thành Chính giác khi tất cả chúng sinh chưa thành”.

Tương truyền rằng vì đau buồn trước nỗi khổ luân hồi sinh tử,  hai  giọt nước nướt mắt đã rơi từ đôi mắt ngài, và chư  Phật  đã  làm  phép  biến hai giọt nước mắt ấy thành hai nữ thần Tara. Một nữ thần có màu xanh lục, năng lực hoạt động của tâm đại bi, và một nữ  thần  có  màu  trắng, khía cạnh như mẹ hiền của tâm đại bi. Tara có nghĩa là người giải  cứu, người chuyên chở chúng ta vượt qua biển sinh tử.

Theo kinh điển đại thừa, chính Quán Tự Tại đã cho đức Phật câu  thần chú, và đức Phật trở lại giao phó cho ngài công tác cao quý đặc biệt là cứu giúp tất cả chúng sinh tiến  đến  giác  ngộ. Vào  lúc  ấy,  chư  thiên tung hoa xuống ca ngợi hai ngài, quả  đất  chấn  động, và  không  trung vang lên âm thanh OM MANI PADME HUM HRIH.

 

Có câu thơ về ngài ý nghĩa như sau:

Quán Thế Âm như vầng trăng, với ánh  sáng  mát  dịu, dập  tắt  những thiêu đốt của sinh tử. Trong ánh sáng ấy, đóa sen từ bi – lọai hoa nở về đêm – mở ra những cánh trắng tinh khôi” .

Giáo lý giải thích rằng mỗi âm trong sáu  âm của thần  chú  OM MANI PADME HUM có một hiệu quả đặc biệt để  mang  lại  sự  chuyển  hóa thuộc nhiều tầng lớp khác nhau của bản thể ta. Sáu âm này tịnh hóa tất cả sáu phiền não gốc, biểu hiện của vô minh khiến chúng ta làm những ác nghiệp của thân, lời, ý, tạo ra luân hồi sinh tử và những khổ đau của chúng ta, trong đó kiêu mạn, ganh tị , dục vọng,  ngu si,  thèm  khát  và giận dữ, nhờ thần chú mà được chuyển hóa trở về  bản  chất  thực  của chúng, trí giác của sáu bộ tộc Phật thể hiện trong  tâm  giác ngộ.  ( Chú thích: Giáo lý thường nói đến năm bộ tộc Phật, bộ tộc thứ  sáu  là  tổng hợp của năm bộ tộc trên).

Bởi thế, khi ta tụng thần chú OM MANI PADME HUM thì  sáu  phiền não nói trên được tịnh hóa, nhờ vậy ngăn ngừa  được  sự  tái  sinh   vào sáu cõi, xua tan nỗi khổ ẩn tàng trong mỗi cõi. Đồng thời thần chú  này cũng tịnh hóa các uẩn thuộc ngã chấp, hoàn thành sáu  hạnh  siêu   việt của tâm giác ngộ (sáu ba la mật): bố thí, trì   giới, nhẫn  nhục, tinh  tấn, thiền  định  và  trí  tuệ. Người  ta  cũng  nói  rằng  thần  chú OM MANI PADME HUM có năng lực hộ trì rất lớn, che  chở  ta  khỏi  những  ảnh hưởng xấu và các thứ tật bệnh.

Thường có chủng tự HRIH của Quán Thế Âm được thêm vào sau câu thần chú, làm thành  OM MANI PADME HUM HRIH. HRIH  là  tinh yếu tâm đại bi của tất cả chư Phật, là chất xúc  tác đã  khởi động  tâm đại bi chư Phật để chuyển hóa các phiền não của ta thành bản chất trí tuệ của các ngài.

Kalu Rinpoche viết:

Một cách khác để giải thích thần chú này là: OM là tính  chất của  thân giác ngộ, MANI PADME tiêu biểu ngữ giác ngộ, HUM tiêu biểu ý giác ngộ. Thân, ngữ, ý của tất cả chư Phật được tàng ẩn trong âm thanh của thần chú này. Thần chú này tịnh hóa những chướng  ngại  của thân, lời, ý, và đưa tất cả hữu tình đến trạng thái  chứng ngộ. Khi tụng  thần  chú này, mà   phối  hợp  với  đức  tin  và  tinh  tiến  thiền  định thì  năng lực chuyển hóa của thần chú sẽ phát sinh và  tăng trưởng. Quả vậy,  chúng ta có thể tịnh hóa bản thân bằng phương pháp ấy.

Đối với những người đã  quen  thuộc  với  thần chú này, suốt  đời  tụng đọc với nhiệt thành và niềm tin, thì Tử Thư Tây Tạng nói,  ở  trong cõi Trung Ấm: “Khi âm thanh của pháp tính gầm thét như ngàn muôn sấm sét, nguyện cho tất cả tiếng này trở thành âm thanh của  thần  chú  sáu âm”. Tương tự, kinh Lăng Nghiêm cũng nói:

Mầu nhiệm thay là âm thanh siêu việt của Quán Thế Âm. Đấy  là  âm thanh tối sơ của vũ trụ… Đó là tiếng thì thầm âm ỉ của thủy triều  trầm lắng. Tiếng mầu nhiệm ấy đem lại giải thoát bình an cho tất cả hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ, và đem  lại  một  sự an trú thanh  tịnh cho tất cả những ai đang tìm sự thanh tịnh vô biên của niết bàn”.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thuyết giảng Hồng Như Việt dịch)
Nguyên bản tiếng Anh: Om Mani Padme Hum, by HH the Dalai Lama
http://www.tibet.com/Buddhism/om-mantra.html.  Hồng  Như  chuyển Việt ngữ.

Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý  nghĩa  của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng.  Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng  cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà.

Có thể nào chuyển thân miệng ý ô nhiễm thành  thân  miệng  ý  thanh tịnh được không? hay đây là hai phạm trù hoàn toàn tách biệt? Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh,  nhờ bước  theo  đường  tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không  công nhận  có  ai  ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm, mang đủ mọi tánh đức. Thân miệng ý thanh tịnh đến từ sự tách lìa trạng thái ô nhiễm, chuyển  hóa ô  nhiễm  thành thanh tịnh.

Chuyển hóa bằng cách nào?  Phương pháp  tu được nhắc  đến qua bốn âm  kế  tiếp. MANI [ma ni],  nghĩa   là  ngọc  báu,  tượng   trương  cho phương tiện, là tâm bồ đề, vì chúng sinh mà nguyện mở tâm từ bi,   đạt giác ngộ. Cũng như viên ngọc quí có khả năng xóa bỏ cảnh nghèo, tâm bồ đề cũng vậy, có khả năng xóa bỏ sự bần cùng  khó  khăn  trong  cõi luân hồi và niết bàn cá nhân. Như ngọc như ý  có  khả  năng  chu  toàn mọi ước nguyện của chúng sinh, tâm bồ đề cũng vậy, có khả năng chu toàn mọi ước nguyện chúng sinh.

Hai chữ PADME [bát mê], nghĩa  là hoa sen,  tượng trưng  cho  trí  tuệ. Hoa sen từ bùn mọc lên nhưng lại không ô nhiễm vì bùn. Tương tự như vậy, trí tuệ có khả năng đặt người  tu  vào  vị  trí  không  mâu  thuẫn  ở những nơi mà người thiếu trí tuệ đều sẽ thấy đầy mâu thuẫn.  Có  nhiều loại trí  tuệ, trí  tuệ  chứng vô  thường,  trí  tuệ chứng nhân vô ngã  (con người không tự có một cách độc lập cố định), trí tuệ chứng tánh  không giữa các phạm  trù đối  kháng (nói  cách  khác, giữa  chủ  thể và  khách thể) và trí tuệ chứng sự không có tự tánh. Mặc dù có nhiều loại trí  tuệ, nhưng chính yếu vẫn là trí tuệ chứng tánh Không.

 

Trạng thái  thanh  tịnh  có  được  là  nhờ  sự  kết  hợp  thuần  nhất giữa phương tiện và trí tuệ, được thể hiện  qua  âm cuối,  HUM  [hồng]. Âm này ứng vào trạng thái bất nhị, không thể phân  chia. Trong  hiển  thừa, phương tiện và trí tuệ bất  nhị có  nghĩa  là  phương  tiện ảnh  hưởng trí tuệ, và trí tuệ ảnh hưởng phương tiện. Trong mật thừa, sự hợp nhất này ứng vào một niệm tâm thức trong đó phương  tiện  và  trí  tuệ đồng loạt hiện hành. Nói về chủng tự của  năm vị Thiền Phật, HUM  là chủng  tự của  Bất  Động  Phật [Akshobhya],  sự đứng  yên  không  gì  có thể  lay chuyển nổi.

Vậy Lục Tự Đại Minh Chú, Om mani padme hum, có nghĩa là  dựa vào đường tu kết hợp thuần nhất phương tiện và trí tuệ mà  người tu có  thể chuyển hóa thân miệng ý ô nhiễm của mình thành thân  miệng ý  thanh tịnh của Phật. Thường nói người tu không thể tìm Phật ở bên ngoài, tất cả mọi nhân tố dẫn đến giác ngộ đều sẵn có từ bên trong.  Đức Di  Lạc Từ Tôn có dạy trong bộ Tối Thượng Đại Thừa Mật Luận (Uttaratantra) rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh  trong  tâm. Chúng  ta  ai  cũng mang  sẵn  trong  mình  hạt   giống  thanh  tịnh , cốt  tủy  của  Như  Lai (Tathatagarbha – Như lai tạng), đó là điều cần nuôi nấng phát triển đến mức tột cùng để bước vào địa vị Phật Đà.

(Lạt ma Thubten Zopa Rinpoche)
Người dịch: Thanh Liên
Nguyên tác: The Benefits of Chanting Om Mani Padme Hum
http://www.lamayeshe.com/lamazopa/ommanipadmehum.shtml




  • Báo cáo

    Melody-Tran 17:49 28-08-2009

    tâm ơi bạn giỏi thiệt nha...khâm phục ..và iêu bạn nhiều nhé ...người bạn mà mình ít cm nhất củng là người mà MLD hay tha thẫn qua nhà bạn nhất. bạn không hiểu đâu...lúc tâm trạng có tí trống vắng mình thích vào mấy trang blog củ dù có trang đóng cửa luôn á...
    chiều vui bạn nhé
    Báo cáo

    cygne18:17 28-08-2009

    Minh cung vây  ban nhieu . Chuc ban luôn tim thây niêm an lac trong cuôc sông , va rât hân hanh duoc lam " DIËM XUA" cua ban  . Cuôi tuân vui ve va hanh phuc .

  • Báo cáo

    hxthien 17:56 27-08-2009

    dạo này lớp 12 học ghê quá, một phần cũng là lo cho đại học. nên chỉ biết trì Om Ah Ra Pa Sa Na Dhi thôi chứ ít lên mạng lắm
  • Đây là lời bình riêng
    Đây là câu trả lời riêng
  • Báo cáo

    hxthien 23:46 21-08-2009

    à tiện thể cho mình hỏi sao bạn add được cái youtube ngoài kia vậy? mình cũng muốn làm 1 cái nhạc Ma Ha Bát Nhã tiếng phạm ở blog mình. nhưng sao add theo kiểu trong các forum [youtube]---[/youtube] nó không ra !!!? mong bạn chỉ giáo mình thêm
    Báo cáo

    cygne00:28 25-08-2009

    Tai sao lai không duoc nhi ? ban cho minh tên bai hat, minh vao kiêm rôi minh cho ban code dê ban add vao blog, vi minh cung lam bt thôi, minh o biêt ban lam thê nao ma o duoc ??? Thân 

  • Báo cáo

    hxthien 23:43 21-08-2009

    cám ơn bạn nhiều lắm. thật sự chứ thầy mình bắt 1 ngày trì ít nhất 21 lần chúOm Mani Padme Hum nhưng cũng chưa hiểu nghĩa nhiều, chỉ biết là chú Quán Âm, có uy lực nhất và lâu đời nhất. Cảm ơn bạn đã gieo duyên lành, cầu cho có thêm nhiều người biết tới chú Om Mani PAdme Hum. Chúc bạn luôn gặp được nhiều an lạc.
    Thân
    Báo cáo

    cygne00:30 25-08-2009

    21 biên phai không ? Chu 21 lân thi it qua !!!

Bài viết về bạn hoặc có tag tên bạn:

  • Chưa có bài nào có liên quan.

Người đăng ký yêu thích blog này cũng đồng thời thích:

  • Chưa có blog yêu thích nào có liên quan.