Trong
tiếng Việt, có nhiều câu, nhiều từ thú vị chỉ thời gian trôi qua mang
tính hình tượng, ẩn dụ chứ không chỉ rõ ra: “thấm thoắt thoi đưa”,
“bóng câu qua cửa”... Riêng Truyện Kiều của Nguyễn Du có nhiều câu ám
chỉ sự dịch chuyển thời gian ứng vào ngữ cảnh một cách bậc thầy theo
kiểu như vậy: “Tà tà bóng ngả về tây”, “Mùa xuân con én đưa thoi”,
“Trải bao thỏ lặn ác tà”...
Tại sao lại “tà tà”? Những tưởng
thời gian trôi đi vĩnh hằng: mỗi ngày 24 giờ, mỗi năm 365 ngày chứ? Sao
ở đây thích nhanh thì bảo “thấm thoắt thoi đưa” hay “bóng câu qua cửa”;
thích chậm lại bảo “tà tà bóng ngả về tây”? Theo một nghĩa nào đó, ta
cứ ngỡ như Nguyễn Du (nói riêng) hay dân gian (nói chung) đã tường tận
“nguyên lý bất định” của thời gian, một phần quan trọng trong cái
“tuyệt đối khó” của “Thuyết tương đối” Anh-stanh rồi vậy. Với Nguyễn
Du, thời gian không vĩnh hằng, thời gian là bất định, có thể nhanh chậm
phụ thuộc vào tâm trạng nhân vật của ông.
“Tà tà bóng ngả về
Tây” là ám chỉ thời gian trôi đi chỉ khi người ta không vội vã, thời
gian giành cho đi dạo hay cho một công việc nào đó không ấn định giờ
giấc. Ở ngữ cảnh này là khi chị em Kiều đã tảo mộ xong, dạo chơi xong
và đang “thơ thẩn”, thủng thẳng dắt tay nhau ra về. Dùng cho ngữ cảnh
khác nhiều khi không hợp hay thậm chí là không được... Tỷ như khi Vương
ông chưa kịp kể hết câu chuyện về “thằng bán tơ” cho nàng Kiều, mà
“người nách thước, kẻ tay dao” đã ập đến, trói gô hai cha con “một lão
một trai” bằng thứ “dây vô định” lại, thì tuyệt nhiên không thể dùng
“tà tà bòng ngả về tây” được rồi...
Mặc dù thông thạo Hán ngữ,
thuộc lòng vô số điển tích Trung Hoa, nhưng nhiều khi Nguyễn Du tránh
dùng những từ Hán Việt, hay có chăng là những ẩn dụ đã Việt hóa đi rồi.
Chỉ thời gian trôi đi một cách tuần hoàn, hết đêm đến ngày, ông viết:
“Trải bao thỏ lặn ác tà”. Dân gian ví mặt trăng hiền từ, trong trắng
mát mẻ bằng những hình ảnh đẹp như chị Hằng (Hằng Nga), Thỏ ngọc, hay
thậm chí là giản dị quen thuộc như chú Cuội, cây đa. Thỏ lặn nghĩa là
trăng khuất núi, hết đêm rồi. Còn mặt trời, nóng nảy thiêu đốt, con
người không ra ngắm như ngắm trăng được, thì ví với con vật xấu xí
chẳng ai muốn nhìn như con quạ (chim ác). Ác tà là khi mặt trời khuất
dần đi sau đường chân trời, đã là lúc ngày qua cho đêm tới rồi.
Tuy
nhiên, đó là kể riêng ra mà bình luận cái sự tuần hoàn của đêm và ngày,
để chỉ thời gian trôi đi thôi. Chứ dùng nó vào đâu, còn tùy thuộc vào
những tình huống cụ thể nữa, điều này thể hiện tài năng của thi nhân.
Thời gian trôi đi mà dùng câu “Trải bao thỏ lặn ác tà”, thì chỉ tuyệt
khéo khi miêu tả nấm mộ Đạm Tiên bị mưa gió bào mòn đi qua năm tháng,
trong sự lãng quên của người đời thôi, chứ dùng vào tình huống khác
không đắt, thậm chí là không dùng được. Tỷ như ngày xuân là thời điểm
con người thường khắc khoải nhớ mong, để ám chỉ người thiếu phụ ngóng
chồng ngoài biên ải chẳng hạn, có thể dùng “con én đưa thoi”, chứ tuyệt
nhiên không thể là “thỏ lặn ác tà”, mặc dù cả hai câu đều ngầm định
thời gian trôi đi...
Thế mới biết cái tài của dân gian hay ở đây
ta đang nói đến thi nhân họ Nguyễn Tiên Điền, đã khéo sáng tạo ra hình
tượng, lại tuyệt khéo khi sử dụng đúng nơi, đúng lúc, đúng chỗ hình
tượng đó, khiến cho Truyện Kiều hàng trăm năm nay vẫn được hậu thế xếp
vào hàng “đệ nhất lục bát diễm tình”, xứng đáng như chính những câu thơ
tuyệt bút mà thi nhân dành miêu tả thi tài của nàng Kiều, cái đêm nàng
trổ tài đọc thơ cho chàng Kim nghe: “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm
thêu”...