Thư mục: Tổng hợp |
“Chè Việt”:
Đẩy Mạnh Xuất Khẩu, Bỏ Quên Thương Hiệu
Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, ít có mặt hàng nào của ngành nông nghiệp đề ra mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu (xk). So với nhiều mặt hàng khác đều đưa ra chỉ tiêu giảm so với năm trước. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội chè Việt Nam (Vitas), với mức tăng 21% về sản lượng và 18% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008, chè đã trở thành một trong số ít mặt hàng tăng trưởng trong 5 tháng đầu năm 2009, đạt 1.237 USD/tấn.
Năm 2009, mục tiêu XK của ngành chè là 117.000 tấn, với kim ngạch khoảng 167 triệu USD, tăng 13,6% so với năm 2008. Năm 2008, khối lượng chè XK mới chỉ đạt 104.000 tấn, trị giá đạt 147 triệu USD, giảm 5,4% về lượng nhưng tăng nhẹ 0,2% về giá trị so với năm 2007. So với cùng kỳ năm trước, XK chè đã tăng 9,7% về lượng và 8,9% về giá trị. Ngành chè Việt Nam, bắt đầu vào niên vụ thu hoạch chính nhưng đến nay có rất nhiều doanh nghiệp trong ngành đã ký được nhiều hơp đồng XK tới hết năm 2009, dự kiến kim ngạch sẽ đạt khoảng 145 triệu USD. Thị trường chủ yếu của Việt Nam từ trước đến nay, chủ yếu là: Đài Loan, Trung Quốc, Nga, Pakistan, Afganistan, Ấn Độ…đây là những quốc gia và vùng lãnh thổ đứng đầu về nhập khẩu chè từ Việt Nam. Chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2009, sản lượng nhập khẩu chè của Pakistan đã tăng hơn 4.162 tấn, Nga tăng khoảng 3.368 tấn, Indonesia tăng 749 tấn, Ấn Độ tăng gần 572 tấn…
Hiện nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, thương hiệu “chè việt” đã dược đăng ký và bảo hộ tại gần 70 thị trường quốc gia và khu vực. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp mới chỉ dừng ở mức XK hàng thô nên giá trị mang về thấp, lại không phát triển, nâng cao thương hiệu chè Việt Nam đối với thị trường thế giới.
Theo ông Nguyễn Kim Phong - Chủ tịch Vitas cho biết: “ Mặc dù thương hiệu “chè việt” đã có từ năm 2004 nhưng chưa được quảng bá rộng rãi. Sở dĩ có tình trạng này là do, để trở thành ‘ chè việt” cần phải đáp ứng những tiêu chí như: vệ sinh, hàm lượng các chất trong chè phải được bảo đảm đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Điều này thì hầu hết doanh nghiệp chưa làm được”. Do vậy, để phát triển thị trường chè Việt Nam, đặc biệt là phát triển thương hiệu “chè việt” thì cần tăng cường quảng bá tại nước ngoài, tham dư các hội chợ, phổ biến và giám sát chặt chẽ Doanh nghiep chè... đi sâu vào những thị trường tiềm năng, những thị trường ít bị ảnh hưởng. Bởi thực tế hiện nay, tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác, sản lượng nhập khẩu lại có xu hướng giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2008. Cụ thể như, sản lượng nhập khẩu của Đài Loan giảm 446 tấn, Hoa Kỳ giảm gần 300 tấn, đặc biệt là các nước Tiểu Vương Ả Rập Thống Nhất giảm tới 1.500 tấn. Giải pháp nữa mà các doanh nghiệp cần quan tâm đó là đẩy mạnh tiêu thụ nội địa. Tuy nhiên, ông Nguyễn Kim Phong cho biết thêm: “bên cạnh những nỗ lực của doanh nghiệp thì cần sự hỗ trợ của Nhà nước, trong đó có các tham tán thương mại, đại sứ quán…có những chính sách giãn nợ thuế, kéo dài thời gian cho vay, cho vay với lãi suất thấp, xúc tiến các chương trình thương mại, hỗ trợ đi lại… để các doanh nghiệp có điều kiện đẩy mạnh XK, nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới và trong nước năm 2009 vẫn tiếp tục được dự báo là khó khăn. Vì vậy, để đạt mục tiêu trên thì ngành chè cần phải phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, địa phương, các Bộ, ngành để có hướng đột phá nâng cao chất lượng chè và vệ sinh an toàn thực phẩm. Bởi đây là vẫn đề hết sức quan trọng để ngành chè vươn ra thị trường thế giới. Về phía Hiệp hội chè Việt Nam, nhằm chủ động tháo ngỡ những khó khăn cho hoạt động sản xuất và XK. Hiệp hội đang đẩy mạnh kế hoạch xây dựng sàn giao dịch và bảo tàng chè Việt Nam tại Hà Nội tạo thêm nhiều cơ hội quảng bá thương hiệu cho chè Việt Nam cũng như đăng cai tổ chức Hội nghị chè Quốc tế năm 2009.
Hồng Quân