<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[Nhà Báo không giấy tờ.]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto]]></link>
        <description><![CDATA[Bác là niềm tin!]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2009/07/08 21:47:14</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[Lieu lam bao co giong nhu di hat khong?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=25]]></link>
            <description><![CDATA[Liệu làm báo có giống như đi hát thật không? Theo tôi chắc là cũng đúng thôi, cùng một bài hát đó nhưng mỗi ca sỹ hát sẽ chuyền cảm cho người nghe một cảm nhận khác nhau và cũng sẽ có những nhận xét khác nhau về bài hát này. Cũng như tôi đã được đi nhiều nơi nhưng tôi không nhìn ra được sự việc, nhất là những vấn đề tưởng chừng nhỏ nhưng lại không hề nhỏ chút nào.. Những vấn đề này chỉ có những nhà báo, những phòng viên, truyền hình mới có thể cho chúng ta nhận thấy được sự việc. Mà những sự việc đó có được phản ánh một cách chính xác và chân thực hay không&nbsp; theo tôi lại còn phụ thuộc vào &quot;lương tâm&quot; người viết. Liệu có bài báo nào mà có lẫn cả sự &quot;cay cú&quot; của những phóng viên trong đó không? phải chăng những bài viết này thường xảy ra đối với các doanh nghiệp?...
Đối với bản thân tôi, tôi thích đọc những bài chê hơn là những bài khen nhất là những bài mà phản ánh được những việc làm không có lương tâm đối với xã hội, với cộng đồng con người, điển hình như một loại bài &quot;Đột nhập mạng lưới buôn lợn ốm chết lớn nhất miền Bắc&quot; trên báo Nông nghiệp gần đây.. Những bài kiểu này thiết thực với người dân hơn, có ích với người dân hơn. Cũng như đọc những kỷ niệm đáng nhớ của PV Văn Hùng cho tôi thấy được những chuyện mà tôi không thể ngờ được &quot;làm sao mà 1 người có thể đẻ tới 22 người con&quot; vậy thì làm sao mà Lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá lại có thể để tình trạng người dân tỉnh mình &quot;đẻ hết trứng&quot; mới thôi, và nữa nếu như không có bài báo &quot;Lên Bát Mọt nghe dân kêu đói&quot; thì không có những đoàn cứu trợ sao?
Nhưng bên cạnh đó thì lại có những nhà báo cứ &quot; đánh hơi&quot; thấy &quot;sai sót&quot; của một doanh nghiệp nào là &quot;xông&quot; vào viết bài, liệu những nhà báo đó đã tìm hiểu đúng sự thực hay chưa? nguyên nhân dẫn đến sai sót đó là khách quan hay chủ quan? Họ làm vậy được gì???
 &nbsp; 
**** Trên đây là nguyên văn của một độc giả hửi cho Hồng Quân: Nguyễn Thị Thu Thủy – Phòng tổng hợp, Công ty CP Giống Cây Trồng Thái Bình. Gửi, các đồng nghiệp thấy thế nào?]]></description>
            <pubDate>2009/07/08 21:44:08</pubDate>
            <guid><![CDATA[Lieu lam bao co giong nhu di hat khong?:25]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Thi truong xuat khau che: Xuất thô tăng nhưng thương hiệu bị thả nổi]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=24]]></link>
            <description><![CDATA[Hầu hết các mặt hàng chè trong nước mới chỉ xuất khẩu ở dạng thô, chưa xây dựng được thương hiệu trên thế giới.  
 &nbsp; 
Thị trường xuất khẩu chè Việt Nam:  
Xuất thô tăng nhưng thương hiệu bị thả nổi 
 &nbsp; 
Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, ít có mặt hàng nào trong lĩnh vực nông nghiệp đề ra mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu. Hầu hết các mặt hàng trong lĩnh vực này đều đưa ra chỉ tiêu giảm so với năm trước. Nhưng với ngành chè thì năm 2009, mục tiêu xuất khẩu (XK) của ngành chè là 117.000 tấn, với kim ngạch khoảng 167 triệu USD, tăng 13,6% so với năm 2008. Năm 2008, khối lượng chè XK mới chỉ đạt 104.000 tấn, trị giá đạt 147 triệu USD, giảm 5,4% về lượng nhưng tăng nhẹ 0,2% về giá trị so với năm 2007. So với cùng kỳ năm trước, XK chè đã tăng 9,7% về lượng và 8,9% về giá trị 
Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, ít có mặt hàng nào trong lĩnh vực nông nghiệp đề ra mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu. Hầu hết các mặt hàng trong lĩnh vực này đều đưa ra chỉ tiêu giảm so với năm trước. Nhưng với ngành chè thì năm 2009, mục tiêu xuất khẩu (XK) của ngành chè là 117.000 tấn, với kim ngạch khoảng 167 triệu USD, tăng 13,6% so với năm 2008. Năm 2008, khối lượng chè XK mới chỉ đạt 104.000 tấn, trị giá đạt 147 triệu USD, giảm 5,4% về lượng nhưng tăng nhẹ 0,2% về giá trị so với năm 2007. So với cùng kỳ năm trước, XK chè đã tăng 9,7% về lượng và 8,9% về giá trị. Hiện nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, thương hiệu “chè Việt” đã được đăng ký và bảo hộ tại gần 70 thị trường quốc gia và khu vực. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp mới chỉ dừng ở mức XK hàng thô nên giá trị mang về thấp, lại không phát triển, nâng cao thương hiệu chè Việt Nam đối với thị trường thế giới. Ông Nguyễn Kim Phong, Chủ tịch Hiệp hội chè Việt Nam cho biết: “ Mặc dù thương hiệu “chè Việt”&nbsp; đã có từ năm 2004 nhưng chưa được quảng bá rộng rãi. Sở dĩ có tình trạng này là do, để trở thành ‘ chè việt” cần phải đáp ứng những tiêu chí như: vệ sinh, hàm lượng các chất trong chè phải được bảo đảm đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Điều này thì hầu hết doanh nghiệp chưa làm được”. Do vậy, để phát triển thị trường chè Việt Nam, đặc biệt là phát triển thương hiệu “chè Việt” thì cần tăng cường quảng bá tại nước ngoài, tham dự các hội chợ, phổ biến và giám sát chặt chẽ doanh nghiệp chè,...đi sâu vào những thị trường tiềm năng, những thị trường ít bị ảnh hưởng. Bởi thực tế hiện nay, tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác, sản lượng nhập khẩu lại có xu hướng giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2008.  
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Kim Phong: “bên cạnh những nỗ lực của doanh nghiệp thì cần sự hỗ trợ của Nhà nước và cần phải phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, địa phương, các Bộ, ngành để có hướng đột phá nâng cao chất lượng chè và vệ sinh an toàn thực phẩm. Bởi đây là vẫn đề hết sức quan trọng để ngành chè vươn ra thị trường thế giới. Về phía Hiệp hội chè Việt Nam, nhằm chủ động tháo ngỡ những khó khăn cho hoạt động sản xuất và XK. Hiệp hội đang đẩy mạnh kế hoạch xây dựng sàn giao dịch và bảo tàng chè Việt Nam nhằm tạo thêm nhiều cơ hội quảng bá thương hiệu cho chè Việt Nam cũng như đăng cai tổ chức Hội nghị chè Quốc tế năm 2009. 
 &nbsp; 
Hồng Quân  
 &nbsp; 
 &nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/07/08 21:39:20</pubDate>
            <guid><![CDATA[Thi truong xuat khau che: Xuất thô tăng nhưng thương hiệu bị thả nổi:24]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Lieu lam Bao co giong nhu di hat khong? Binh luan va phan hoi]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=18]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Liệu làm báo có giống như đi hát thật không? Theo tôi chắc là cũng đúng thôi, cùng một bài hát đó nhưng mỗi ca sỹ hát sẽ chuyền cảm cho người nghe một cảm nhận khác nhau và cũng sẽ có những nhận xét khác nhau về bài hát này. Cũng như tôi đã được đi nhiều nơi nhưng tôi không nhìn ra được sự việc, nhất là những vấn đề tưởng chừng nhỏ nhưng lại không hề nhỏ chút nào.. Những vấn đề này chỉ có những nhà báo, những phòng viên, truyền hình mới có thể cho chúng ta nhận thấy được sự việc. Mà những sự việc đó có được phản ánh một cách chính xác và chân thực hay không&nbsp; theo tôi lại còn phụ thuộc vào &quot;lương tâm&quot; người viết. Liệu có bài báo nào mà có lẫn cả sự &quot;cay cú&quot; của những phóng viên trong đó không? phải chăng những bài viết này thường xảy ra đối với các doanh nghiệp?...
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đối với bản thân tôi, tôi thích đọc những bài chê hơn là những bài khen nhất là những bài mà phản ánh được những việc làm không có lương tâm đối với xã hội, với cộng đồng con người, điển hình như một loại bài &quot;Đột nhập mạng lưới buôn lợn ốm chết lớn nhất miền Bắc&quot; trên báo Nông nghiệp gần đây.. Những bài kiểu này thiết thực với người dân hơn, có ích với người dân hơn. Cũng như đọc những kỷ niệm đáng nhớ của PV Văn Hùng cho tôi thấy được những chuyện mà tôi không thể ngờ được &quot;làm sao mà 1 người có thể đẻ tới 22 người con&quot; vậy thì làm sao mà Lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá lại có thể để tình trạng người dân tỉnh mình &quot;đẻ hết trứng&quot; mới thôi, và nữa nếu như không có bài báo &quot;Lên Bát Mọt nghe dân kêu đói&quot; thì không có những đoàn cứu trợ sao?
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhưng bên cạnh đó thì lại có những nhà báo cứ &quot; đánh hơi&quot; thấy &quot;sai sót&quot; của một doanh nghiệp nào là &quot;xông&quot; vào viết bài, liệu những nhà báo đó đã tìm hiểu đúng sự thực hay chưa? nguyên nhân dẫn đến sai sót đó là khách quan hay chủ quan? Họ làm vậy được gì???
&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp; ****** Trên đây là nguyên văn của một độc giả hửi cho Hồng Quân: Nguyễn Thị Thu Thủy – Phòng tổng hợp, Công ty CP Gio61ng Cây Trồng Thái Bình. Gửi, các đồng nghiệp thấy thế nào?]]></description>
            <pubDate>2009/06/27 17:44:41</pubDate>
            <guid><![CDATA[Lieu lam Bao co giong nhu di hat khong? Binh luan va phan hoi:18]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Nhớ về hương lúa Thái Bình]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=17]]></link>
            <description><![CDATA[Nhớ về hương lúa Thái Bình 
 &nbsp; 
Tôi sinh ra ở một làng quê nhỏ, nơi có con sông Trà Lý thơ mộng chảy qua. Mẹ tôi thường nói tôi sinh vào cuối mùa xuân, đúng vào mùa lúa reo xanh. Có lẽ chính vì thế, từ khi chào đời cùng với dòng sữa và tiếng ru ngọt ngào của mẹ, tôi đã được bao bọc bởi hương lúa dịu êm. 
 &nbsp; 
Khung trời đầu tiên còn đọng lại trong trí nhớ đầu tiên của tôi là mênh mang một màu xanh và cánh đồng bát ngát, chiếc Cầu Cất bắc qua sông Trà Lý, cánh diều trắng và những con thuyền lấy cát, “món ăn” mà tôi thích là những quả sung, quả ổi hay quả mít mới ra thôn quê. Trò chơi đầu tiên mà tôi tham gia chính là trò đuổi bắt hay chốn tìm bên đống rơm nếp ngày mùa thơm nức. Đôi khi, chúng tôi bắt gặp được một ổ trứng gà trong đống rơm, có khi lãng quên đi, đến lúc gà mẹ dẫn về sân một đàn gà con kêu liếp chiếp thì cả nhà mới biết. 
Vào mùa gặt, tôi thường theo các bạn trong xóm đi mót thóc, ẩn trong những gồi rạ là những bông lúa dù bé nhỏ cũng là niềm vui lớn lao của chúng tôi. “ năng nhặt chặt bị”, mẹ thường bảo vậy, nên tôi đi mót rất chăm chỉ, ở những nơi mọi người bó lúa hoặc chất lúa lên xe thồ…, là nơi có nhiều thóc rơi. Những hạt thóc rụng như thế thường rất “mẩy”, bọn trẻ chúng tôi thường lấy đất sét nhão chấm những hạt thóc vàng óng đó và mang về đãi. Tôi và hai em gái đã nuôi được nhiều gà, vịt từ số thóc mót ấy. Sau mỗi lần bán gà, vịt, mẹ thường mua cho anh em tôi những bộ quần áo mới, những đồ dùng học tập. 
Và mùa Đông tới, mùa Đông trong trí nhớ của tôi dường như rét hơn bây giờ. Rét căm căm, gió tạp vào mặt càng làm rét buốt hơn. Vậy mà mẹ vẫn phải sục chân xuống nước, xuống bùn lạnh cóng, gặt về những bó lúa vàng, nặng trĩu. Còn chúng tôi, được náu mình trong ổ rơm góc nhà tránh rét. Để làm được chiếc ổ rơm này, cha tôi phải chọn những đám rơm nếp sạch nhất, phơi khô, sau đó rải thành một tấm nệm dầy ở góc nhà. Tôi thường nằm thật yên lặng, úp mặt xuống tấm nệm rơm đó hít đầy lồng ngực, hương thơm ngọt ngào của rơm nếp và hơi nóng ấm của rơm truyền sang tôi từ lúc nào, làn từ chân đến đầu, ru tôi vào giấc ngủ êm đềm. Sau này, được đắp chăn bông, chăn len, nằm nệm mút, ga ấm hơn nhiều, tôi cứ thấy thiếu vắng mùi ổ rơm nồng ấm thân thuộc ấy. 
Con đường đến trường học của tôi dọc qua cánh đồng, ven theo con sông Trà Lý. Chính vì thế, tôi có thể cảm nhận và phân biệt rõ hương lúa khi đang trổ đòng khác với hương lúa khi đang ngậm sữa hay khi lúa đã chín. Những chiều mùa đông mưa rét, khi đi qua cánh đồng, tôi thường phải bỏ dép ra lại bộ. Bàn chân dầm trong nước lạnh buốt nhưng hương lúa khi đó dường như nồng hơn. Những bông lúa nếp trĩu hạt, vàng óng như chuỗi cườm đung đưa trước mắt như những bàn tay khẽ vẫy, an ủi, động viên tôi. Vào những ngày đó, bọn trẻ nông thôn chúng tôi rất thích ăn thóc nếp rang hay gọi là cắn chắt. Những hạt thóc nếp vừa rang xong, nóng hổi, nở bung như những bông hoa trắng lấm tấm, dòn tan. Nhưng “ mưa rét là chuyện của trời”, với chúng tôi nằm trong chăn và cắn chắt là môt niềm thích thú. Tôi lớn dần qua từng mùa lúa, đến lúc phải rời xa cha mẹ và hai người em gái đi học đại học, rồi đi làm. Mỗi mùa lúa chín, tôi nhớ nôn nao mùi hương đồng nội quen thuộc và thường mơ được ăn bát cơm trắng thơm phức ngày mùa. Ngày xưa nhà nghèo, thường phải ăn cơm độn khoai, độn sắn, đến ngày mùa mới được ăn bát cơm trắng, không có thức ăn gì ngoài cá tép cha tôi cất võ bè được, anh em tôi ăn bốn, năm bát, no rồi mà vẫn thấy ngon. Mới rồi tôi được về thăm quê sau bao năm tha phương để học tập và lao động trên mảnh đất Sài Gòn tràn đầy những cạm bẫy nhưng cũng nhiều cơ hội để khẳng định bản thân. Lại đi qua con đường với những cánh đồng lúa bát ngát. Những kỷ niệm tuổi thơ “ùa” về, tôi như thấy cảnh bà nội đang ngồi trong bếp nấu ăn, ánh lửa hồng làm khuôn mặt của bà như trẻ lại. Nồi cơm đang được vùi trong đống tro rơm thơm nồng. Khi bắc ra, bà khẽ hớt lớp cơm trên cùng có vương ít tro bếp, rồi lấy đũa cả đánh tơi nồi cơm, hương cơm bốc ra thơm nức. Trong hương thơm ấy, đợm cả hương của rơm nếp…tôi về đến làng vào lúc chiều tối, vậy mà làng xóm yẫn yên tịnh, không thấy vương làn khói mỏng quen thuộc ngày nào, những cây rơm chỉ còn lác đác. Tôi xuống xe chạy ào vào bếp, mẹ tôi đang nấu cơm trên bếp than ( bếp khò ). Tôi ngạc nhiên hỏi: “ sao mẹ phải nấu cơm bằng bếp than?”, mẹ tôi mỉn cười bảo: “ bây giờ ở quê mình, cả làng nấu bằng bếp than hết cả rồi, con à”, tôi lại hỏi: “ thế còn rơm rạ thì để đi đâu ạ?”, rơm rạ, bây giờ người ta thường đốt luôn ở cánh đồng để cho đất tốt thêm” – mẹ tôi trả lời ngay. Sang hôm sau, tôi sang nhà Chú họ chơi, Chú khoe: “ mấy năm nay được mùa nên nhà Chú đã sắm được tivi, quạt điện, bếp ga và cả nồi cơm điện nữa”. Nồi cơm điện ư?, tôi tự hỏi khi tựa lưng vào đống rơm bên cạnh. 
&nbsp; Chưa lúc nào tôi nhớ bà như lúc này, tôi rút ào một nắm rơm to, mùi rơm bốc lên ngọt ngào và chạy vào bếp: “ mẹ ơi, mẹ để con nấu cơm cho”. Mẹ tôi bảo: “ bếp than mẹ đã quạt cháy hồng rồi, đây này”. “ không, con nấu bằng bếp rơm cưa ạ”. Tôi sung sướng ngồi bên bếp lửa, những ngọn lửa nhẩy nhót như múa vui, hương lúa ngào ngạt quanh tôi và thấy đâu đây đôi mắt đang nheo cười của bà…tôi thì thầm khẽ gọi: “ bà ơi! Cháu đã về”. 
 &nbsp; 
Hồng Quân ]]></description>
            <pubDate>2009/06/25 19:02:32</pubDate>
            <guid><![CDATA[Nhớ về hương lúa Thái Bình:17]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Nhớ về hương lúa Thái Bình]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=16]]></link>
            <description><![CDATA[
Nhớ về hương lúa Thái Bình 
&nbsp; 
Tôi sinh ra ở một làng quê nhỏ, nơi có con sông Trà Lý thơ mộng chảy qua. Mẹ tôi thường nói tôi sinh vào cuối mùa xuân, đúng vào mùa lúa reo xanh. Có lẽ chính vì thế, từ khi chào đời cùng với dòng sữa và tiếng ru ngọt ngào của mẹ, tôi đã được bao bọc bởi hương lúa dịu êm. 
&nbsp; 
Khung trời đầu tiên còn đọng lại trong trí nhớ đầu tiên của tôi là mênh mang một màu xanh và cánh đồng bát ngát, chiếc Cầu Cất bắc qua sông Trà Lý, cánh diều trắng và những con thuyền lấy cát, “món ăn” mà tôi thích là những quả sung, quả ổi hay quả mít mới ra thôn quê. Trò chơi đầu tiên mà tôi tham gia chính là trò đuổi bắt hay chốn tìm bên đống rơm nếp ngày mùa thơm nức. Đôi khi, chúng tôi bắt gặp được một ổ trứng gà trong đống rơm, có khi lãng quên đi, đến lúc gà mẹ dẫn về sân một đàn gà con kêu liếp chiếp thì cả nhà mới biết. 
Vào mùa gặt, tôi thường theo các bạn trong xóm đi mót thóc, ẩn trong những gồi rạ là những bông lúa dù bé nhỏ cũng là niềm vui lớn lao của chúng tôi. “ năng nhặt chặt bị”, mẹ thường bảo vậy, nên tôi đi mót rất chăm chỉ, ở những nơi mọi người bó lúa hoặc chất lúa lên xe thồ…, là nơi có nhiều thóc rơi. Những hạt thóc rụng như thế thường rất “mẩy”, bọn trẻ chúng tôi thường lấy đất sét nhão chấm những hạt thóc vàng óng đó và mang về đãi. Tôi và hai em gái đã nuôi được nhiều gà, vịt từ số thóc mót ấy. Sau mỗi lần bán gà, vịt, mẹ thường mua cho anh em tôi những bộ quần áo mới, những đồ dùng học tập. 
Và mùa Đông tới, mùa Đông trong trí nhớ của tôi dường như rét hơn bây giờ. Rét căm căm, gió tạp vào mặt càng làm rét buốt hơn. Vậy mà mẹ vẫn phải sục chân xuống nước, xuống bùn lạnh cóng, gặt về những bó lúa vàng, nặng trĩu. Còn chúng tôi, được náu mình trong ổ rơm góc nhà tránh rét. Để làm được chiếc ổ rơm này, cha tôi phải chọn những đám rơm nếp sạch nhất, phơi khô, sau đó rải thành một tấm nệm dầy ở góc nhà. Tôi thường nằm thật yên lặng, úp mặt xuống tấm nệm rơm đó hít đầy lồng ngực, hương thơm ngọt ngào của rơm nếp và hơi nóng ấm của rơm truyền sang tôi từ lúc nào, làn từ chân đến đầu, ru tôi vào giấc ngủ êm đềm. Sau này, được đắp chăn bông, chăn len, nằm nệm mút, ga ấm hơn nhiều, tôi cứ thấy thiếu vắng mùi ổ rơm nồng ấm thân thuộc ấy. 
Con đường đến trường học của tôi dọc qua cánh đồng, ven theo con sông Trà Lý. Chính vì thế, tôi có thể cảm nhận và phân biệt rõ hương lúa khi đang trổ đòng khác với hương lúa khi đang ngậm sữa hay khi lúa đã chín. Những chiều mùa đông mưa rét, khi đi qua cánh đồng, tôi thường phải bỏ dép ra lại bộ. Bàn chân dầm trong nước lạnh buốt nhưng hương lúa khi đó dường như nồng hơn. Những bông lúa nếp trĩu hạt, vàng óng như chuỗi cườm đung đưa trước mắt như những bàn tay khẽ vẫy, an ủi, động viên tôi. Vào những ngày đó, bọn trẻ nông thôn chúng tôi rất thích ăn thóc nếp rang hay gọi là cắn chắt. Những hạt thóc nếp vừa rang xong, nóng hổi, nở bung như những bông hoa trắng lấm tấm, dòn tan. Nhưng “ mưa rét là chuyện của trời”, với chúng tôi nằm trong chăn và cắn chắt là môt niềm thích thú. Tôi lớn dần qua từng mùa lúa, đến lúc phải rời xa cha mẹ và hai người em gái đi học đại học, rồi đi làm. Mỗi mùa lúa chín, tôi nhớ nôn nao mùi hương đồng nội quen thuộc và thường mơ được ăn bát cơm trắng thơm phức ngày mùa. Ngày xưa nhà nghèo, thường phải ăn cơm độn khoai, độn sắn, đến ngày mùa mới được ăn bát cơm trắng, không có thức ăn gì ngoài cá tép cha tôi cất võ bè được, anh em tôi ăn bốn, năm bát, no rồi mà vẫn thấy ngon. Mới rồi tôi được về thăm quê sau bao năm tha phương để học tập và lao động trên mảnh đất Sài Gòn tràn đầy những cạm bẫy nhưng cũng nhiều cơ hội để khẳng định bản thân. Lại đi qua con đường với những cánh đồng lúa bát ngát. Những kỷ niệm tuổi thơ “ùa” về, tôi như thấy cảnh bà nội đang ngồi trong bếp nấu ăn, ánh lửa hồng làm khuôn mặt của bà như trẻ lại. Nồi cơm đang được vùi trong đống tro rơm thơm nồng. Khi bắc ra, bà khẽ hớt lớp cơm trên cùng có vương ít tro bếp, rồi lấy đũa cả đánh tơi nồi cơm, hương cơm bốc ra thơm nức. Trong hương thơm ấy, đợm cả hương của rơm nếp…tôi về đến làng vào lúc chiều tối, vậy mà làng xóm yẫn yên tịnh, không thấy vương làn khói mỏng quen thuộc ngày nào, những cây rơm chỉ còn lác đác. Tôi xuống xe chạy ào vào bếp, mẹ tôi đang nấu cơm trên bếp than ( bếp khò ). Tôi ngạc nhiên hỏi: “ sao mẹ phải nấu cơm bằng bếp than?”, mẹ tôi mỉn cười bảo: “ bây giờ ở quê mình, cả làng nấu bằng bếp than hết cả rồi, con à”, tôi lại hỏi: “ thế còn rơm rạ thì để đi đâu ạ?”, rơm rạ, bây giờ người ta thường đốt luôn ở cánh đồng để cho đất tốt thêm” – mẹ tôi trả lời ngay. Sang hôm sau, tôi sang nhà Chú họ chơi, Chú khoe: “ mấy năm nay được mùa nên nhà Chú đã sắm được tivi, quạt điện, bếp ga và cả nồi cơm điện nữa”. Nồi cơm điện ư?, tôi tự hỏi khi tựa lưng vào đống rơm bên cạnh. 
&nbsp; Chưa lúc nào tôi nhớ bà như lúc này, tôi rút ào một nắm rơm to, mùi rơm bốc lên ngọt ngào và chạy vào bếp: “ mẹ ơi, mẹ để con nấu cơm cho”. Mẹ tôi bảo: “ bếp than mẹ đã quạt cháy hồng rồi, đây này”. “ không, con nấu bằng bếp rơm cưa ạ”. Tôi sung sướng ngồi bên bếp lửa, những ngọn lửa nhẩy nhót như múa vui, hương lúa ngào ngạt quanh tôi và thấy đâu đây đôi mắt đang nheo cười của bà…tôi thì thầm khẽ gọi: “ bà ơi! Cháu đã về”. 
&nbsp; 
Hồng Quân  
 &nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/06/25 19:00:31</pubDate>
            <guid><![CDATA[Nhớ về hương lúa Thái Bình:16]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[“Chè Việt”: Đẩy Mạnh Xuất Khẩu, Bỏ Quên Thương Hiệu]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=14]]></link>
            <description><![CDATA[

“Chè Việt”:
Đẩy Mạnh Xuất Khẩu, Bỏ Quên Thương Hiệu
&nbsp;
Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, ít có mặt hàng nào của ngành nông nghiệp đề ra mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu (xk). So với nhiều mặt hàng khác đều đưa ra chỉ tiêu giảm so với năm trước. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội chè Việt Nam (Vitas), với mức tăng 21% về sản lượng và 18% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008, chè đã trở thành một trong số ít mặt hàng tăng trưởng trong 5 tháng đầu năm 2009, đạt 1.237 USD/tấn.
&nbsp;
Năm 2009, mục tiêu XK của ngành chè là 117.000 tấn, với kim ngạch khoảng 167 triệu USD, tăng 13,6% so với năm 2008. Năm 2008, khối lượng chè XK mới chỉ đạt 104.000 tấn, trị giá đạt 147 triệu USD, giảm 5,4% về lượng nhưng tăng nhẹ 0,2% về giá trị so với năm 2007. So với cùng kỳ năm trước, XK chè đã tăng 9,7% về lượng và 8,9% về giá trị. Ngành chè Việt Nam, bắt đầu vào niên vụ thu hoạch chính nhưng đến nay có rất nhiều doanh nghiệp trong ngành đã ký được nhiều hơp đồng XK tới hết năm 2009, dự kiến kim ngạch sẽ đạt khoảng 145 triệu USD. Thị trường chủ yếu của Việt Nam từ trước đến nay, chủ yếu là: Đài Loan, Trung Quốc, Nga, Pakistan, Afganistan, Ấn Độ…đây là những quốc gia và vùng lãnh thổ đứng đầu về nhập khẩu chè từ Việt Nam. Chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2009, sản lượng nhập khẩu chè của Pakistan đã tăng hơn 4.162 tấn, Nga tăng khoảng 3.368 tấn, Indonesia tăng 749 tấn, Ấn Độ tăng gần 572 tấn…
Hiện nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, thương hiệu “chè việt” đã dược đăng ký và bảo hộ tại gần 70 thị trường quốc gia và khu vực. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp mới chỉ dừng ở mức XK hàng thô nên giá trị mang về thấp, lại không phát triển, nâng cao thương hiệu chè Việt Nam đối với thị trường thế giới.
Theo ông Nguyễn Kim Phong - Chủ tịch Vitas cho biết: “ Mặc dù thương hiệu “chè việt”&nbsp; đã có từ năm 2004 nhưng chưa được quảng bá rộng rãi. Sở dĩ có tình trạng này là do, để trở thành ‘ chè việt” cần phải đáp ứng những tiêu chí như: vệ sinh, hàm lượng các chất trong chè phải được bảo đảm đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Điều này thì hầu hết doanh nghiệp chưa làm được”. Do vậy, để phát triển thị trường chè Việt Nam, đặc biệt là phát triển thương hiệu “chè việt” thì cần tăng cường quảng bá tại nước ngoài, tham dư các hội chợ, phổ biến và giám sát chặt chẽ Doanh nghiep chè... đi sâu vào những thị trường tiềm năng, những thị trường ít bị ảnh hưởng. Bởi thực tế hiện nay, tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác, sản lượng nhập khẩu lại có xu hướng giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2008. Cụ thể như, sản lượng nhập khẩu của Đài Loan giảm 446 tấn, Hoa Kỳ giảm gần 300 tấn, đặc biệt là các nước Tiểu Vương Ả Rập Thống Nhất giảm tới 1.500 tấn. Giải pháp nữa mà các doanh nghiệp cần quan tâm đó là đẩy mạnh tiêu thụ nội địa. Tuy nhiên, ông Nguyễn Kim Phong cho biết thêm: “bên cạnh những nỗ lực của doanh nghiệp thì cần sự hỗ trợ của Nhà nước, trong đó có các tham tán thương mại, đại sứ quán…có những chính sách giãn nợ thuế, kéo dài thời gian cho vay, cho vay với lãi suất thấp, xúc tiến các chương trình thương mại, hỗ trợ đi lại… để các doanh nghiệp có điều kiện đẩy mạnh XK, nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới và trong nước năm 2009 vẫn tiếp tục được dự báo là khó khăn. Vì vậy, để đạt mục tiêu trên thì ngành chè cần phải phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, địa phương, các Bộ, ngành để có hướng đột phá nâng cao chất lượng chè và vệ sinh an toàn thực phẩm. Bởi đây là vẫn đề hết sức quan trọng để ngành chè vươn ra thị trường thế giới. Về phía Hiệp hội chè Việt Nam, nhằm chủ động tháo ngỡ những khó khăn cho hoạt động sản xuất và XK. Hiệp hội đang đẩy mạnh kế hoạch xây dựng sàn giao dịch và bảo tàng chè Việt Nam tại Hà Nội tạo thêm nhiều cơ hội quảng bá thương hiệu cho chè Việt Nam cũng như đăng cai tổ chức Hội nghị chè Quốc tế năm 2009.
&nbsp;
Hồng Quân
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/06/25 18:20:19</pubDate>
            <guid><![CDATA[“Chè Việt”: Đẩy Mạnh Xuất Khẩu, Bỏ Quên Thương Hiệu:14]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Cảnh báo nguy cơ chết đuối ở trẻ em trong dịp hè]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=12]]></link>
            <description><![CDATA[












Cảnh báo nguy cơ chết đuối ở trẻ em trong dịp hè







11:49 PM, 18/06/2009


Nhân dịp tháng hành động vì trẻ em, chúng ta nhìn về những con số tai nạn thương tích (TNTT) ở trẻ em, khi mỗi ngày nước ta có trên 10 trẻ em bị chết đuối. Theo thống kê, mỗi năm cả nước có khoảng 35.000 trẻ em bị tử vong do các nguyên nhân như: dịch bệnh, tai nạn giao thông, đuối nước, điện giật... 




 Do nhiều sông hồ nên nguy cơ trẻ tử vong do chết đuối ở Việt Nam rất cao Ảnh:?TL 




Con số về TNTT ở trẻ em được đưa ra mỗi năm cũng có sự chênh lệch nhau khá xa so với thực tế. Đáng lưu ý trong đó là các cơ quan chức năng lại nắm số liệu không chính xác, thậm chí có sự chênh lệch giữa các bộ ngành. Ông Nguyễn Trọng An, Phó Cục trưởng Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thừa nhận: “số liệu thống kê về tình hình TNTT ở trẻ em vẫn còn tồn tại kiểu mạnh cơ quan nào, cơ quan đó làm, chưa có sự đồng nhất giữa các bộ, ngành”. 



Tại kỳ họp Quốc hội khóa XII, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng khẳng định: “Việt Nam sẽ đưa chương trình phòng chống TNTT ở trẻ em vào một trong những mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội, chỉ đạo các ngành truyền thông về TNTT, đặc biệt phòng chống TNTT trẻ em”.Trước thực trạng này, Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã đề xuất cần thống nhất cơ chế thu thập thông tin và công bố số liệu theo Luật thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em đã xây dựng và thực hiện việc thu thập thông tin qua hệ thống phần mềm, tập huấn cho các địa phương và từ Sở Lao động Thương binh và Xã hội của 64 tỉnh thành. Kết quả đã khiến cho các nhà quản lý giật mình về con số TNTT ở trẻ em vì thực tế số trẻ em bị TNTT cao gấp nhiều lần so với báo cáo trước đây. Năm 2005 – 2006, Bộ Y tế báo cáo có khoảng 35.000 trẻ em bị TNTT. Trong đó, có 9.000 trường hợp tử vong (trong đó có đến 51% là chết do đuối nước). Một báo cáo gần đây của Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em cho thấy, số trẻ em bị TNTT năm 2008 là 80.000 em. Ngoài trách nhiệm từ chính các cơ quan, ban ngành chức năng, để tháng trẻ em diễn ra an toàn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho trẻ vui chơi, đề nghị các bậc phụ huynh quan tâm tới con em mình, đặc biệt những gia đình sinh sống gần vùng sông nước có trẻ em khi đang trong thời gian nghỉ hè.
Vinh Quang]]></description>
            <pubDate>2009/06/19 19:26:06</pubDate>
            <guid><![CDATA[Cảnh báo nguy cơ chết đuối ở trẻ em trong dịp hè:12]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Mẹ Tôi]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=7]]></link>
            <description><![CDATA[Mẹ tôi
&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mẹ tôi cũng như bao người phụ nữ Nông thôn khác, quanh năm chỉ biết ruộng vườn và tất bật với những buổi chợ bán tôm, cá. Dù bận trăm công nghìn việc nhưng mẹ vẫn hết lòng lo lắng cho chồng con từ miếng ăn, giấc ngủ. Mẹ còn có thói quen giúp đỡ những người khó khăn, thiếu thốn. Tuy nhiên, chính lòng tốt đó đã đẩy gia đình tôi vào cảnh nợ nần với biết bao khốn đốn, khó khăn. Và mẹ lại tất bật hơn bởi phải lo trả nợ, lo đảm bảo cuộc sống hàng ngày, lo đối xử với mọi người trong gia tộc. Nhưng có ai biết và hiểu cho Cha mẹ mỗi khi màn đêm buông xuống, lại đơn côi ở ngoài túp lều ven sông, vừa kiếm sống bằng nghề cất Võ bè, vừa tính toán mọi chuyện để ngày mai sang hơn. Những kỷ niệm đó là động lực giúp anh em tôi vươn lên trong học tập. Mẹ luôn nói: “ nhà mình tuy vỡ nợ, cái ăn chưa đủ nhưng cha mẹ không bao giờ để các con phải thất học. Bởi có học mới hiểu được sai lầm, hạn chế của cha mẹ, tự rút ra bài học cho riêng mình”. Lúc đó, anh em tôi không biết nói gì hơn ngoài quyết tâm không phụ lòng cha mẹ. Hàng ngày, vừa đi học, chúng tôi vừa giúp cha mẹ mọi công việc nhà nông. Mặc dù thiếu thốn mọi bề nhưng chuyện học hành, anh em tôi luôn coi trọng, kết quả là cả hai đều học lớp chọn của nhà trường.
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thới gian trôi qua, tôi phải rời xa cha mẹ cùng em gái đi học Đại học, rồi đi làm trên mảnh đất Sài Gòn đầy cạm bẫy nhưng cũng nhiều cơ hội để khẳng định mình. Suốt thời gian xa mẹ, lúc nào tôi cũng nhận được tình cảm, lời khuyên qua những bức thư tràn đầy lòng thương của mẹ. Nhờ tình cảm đó mà anh em tôi đã có được thành công như hôm nay.
&nbsp;
Hồng Quân
Acer tung ra sản phẩm destop mới có nhiều lợi ích hơn
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhằm nâng cấp sản phẩm và tối ưu hóa lợi ích khách hàng. Một lần nữa, Acer đã gây được sự chú ý cho người tiêu dùng khi cho ra đời một sản phẩm desktop dùng CPU Intel® Atom™&nbsp; với kích thước máy nhỏ gọn 100×330×265 mm phù hợp cho mọi không gian thiết kế của gia đình và văn phòng, trọng lượng nhẹ và siêu tiết kiệm điện năng. Đặc biệt, kiểu dáng mới lạ và đẹp, chiếm gần hết mặt trước là lớp mặt nạ nhựa đen bóng vát cong. Tòan bộ máy chỉ có một nút nhấn Power được “ ngụy trang” bằng biểu tượng eMachines®&nbsp;cùng ổ đĩa quang nằm sau lớp “ mặt nạ” đèn, với 6 cồng USB phía trước và sau, các cổng giao tiếp audio, microphone. Thân máy dập chìm logo eMachines®&nbsp;khá tinh tế, lớp sơn cách điện dày có thể cảm nhận được độ nhám trên đầu ngón tay. Bên cạnh, thiết bị làm mát bằng cánh quạt nhỏ kích thước chỉ 2 inch nên khi máy khởi động rất êm, gắn liền với thiết bị đèn báo LED. eMachines™&nbsp; EL1600, phục vụ cho nhu cầu sử dụng đơn giản của giới văn phòng, nhưng với thiết kế cấu hình này khó có thể nâng cấp.
Hồng Quân
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/06/18 20:46:11</pubDate>
            <guid><![CDATA[Mẹ Tôi:7]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Bản lĩnh của người chiến sĩ - doanh nhân thời bình.]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=5]]></link>
            <description><![CDATA[


Bản lĩnh của người chiến sĩ - doanh nhân thời bình







Giám đốc Trần Quang Khải.KTNT - Nhiều năm qua, thương binh Trần Quang Khải, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân sản xuất - thương mại - dịch vụ Đồng Tiến - Việt Nhật đã trở thành niềm tự hào của Hội Cựu chiến binh TP. Hồ Chí Minh. Nhờ sản xuất, kinh doanh tôn kẽm màu, sắt thép, doanh nghiệp của anh đạt doanh thu 100 tỷ đồng/năm. 

Những ngày gian khó…
Sau 6 năm xông pha khắp các chiến trường, anh lính trinh sát Trần Quang Khải rời quân ngũ với chứng nhận thương binh hạng 1/4. Trở về đời thường, lúc nào anh cũng canh cánh nỗi lo làm thế nào để phát triển kinh tế giúp gia đình và bắt đầu khởi nghiệp bằng nghề buôn bán nhôm phế liệu. Tuy vậy, cuộc sống vẫn rất khó khăn. Nhìn căn nhà dựng bằng cây tràm, lợp lá dừa nghèo nàn, anh nghĩ: “Muốn làm giàu phải liều”. Vậy là sau 2 năm tích cóp từng đồng bạc, cộng thêm vay mượn bạn bè, anh quyết định mở cơ sở sản xuất vành xe đạp Đồng Tiến.
Với bản chất kiên định, táo bạo của anh bộ đội Cụ Hồ, Khải mạnh dạn đắp lò, mượn thợ nấu nhôm. Kết quả thật bất ngờ, mẻ nhôm đầu tiên đã cho sản phẩm đạt chất lượng cao, anh quyết định làm khuôn mẫu cán vành xe đạp mang nhãn hiệu “Đồng Tiến”. Sản phẩm làm ra không đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng. Không bằng lòng với mình, anh Khải quyết định thay đổi khuôn mẫu để cho ra đời mặt hàng mới: khung nhôm chất lượng cao.
Không quên đạo lý làm người
Sau thành công đầu tiên, anh quyết tâm tìm hướng đi mới bằng cách, nghiên cứu, tự chế máy ép thủy lực từ máy cán nhôm để thay thế sức người. 
Năm 1991, thời điểm ngành thông tin quân đội cần sản phẩm tản nhiệt cho máy móc, thay thế hàng nhập khẩu, anh tìm đến Nhà máy Z755 để tìm hiểu và ký hợp đồng cung cấp sản phẩm tản nhiệt với nhà máy. Lần thử nghiệm đầu tiên, máy ép không cho kết quả như ý, tuy nhiên, anh không nản chí mà tiến hành ép lại. Trời không phụ lòng người, ngày thắng lợi đã đến khi anh giao hàng cho nhà máy đúng tiến độ và trở thành đối tác lớn của đơn vị này cho đến nay.
Trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, anh lại thử sức với sản phẩm tôn tráng kẽm. Vừa làm, vừa học hỏi kinh nghiệm, đến năm 1994, anh Khải đã có dàn máy tráng kẽm tấm. Anh còn sang Hàn Quốc, Nhật Bản để tham quan, tìm hiểu và đầu tư dây chuyền sản xuất tôn màu và dàn máy cán thép điều khiển tự động.
Với 3 dây chuyền mạ kẽm, mạ màu và dàn máy cán thép công suất cao, doanh thu của Đồng Tiến - Việt Nhật liên tục tăng. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã đạt 86 tỷ đồng. Mặc dù ngành sắt thép đang gặp khó khăn về nguyên liệu đầu vào, song với nỗ lực và lòng quyết tâm, anh Khải vẫn không ngừng mở rộng sản xuất, đầu tư thêm dàn máy luyện phôi thép với công suất 250.000 tấn sản phẩm/năm, giải quyết việc làm cho trên 100 lao động với mức thu nhập bình quân 3,5 triệu đồng/người/tháng. 
Điều đáng nói là, trong doanh nghiệp của anh có tới 20 người là hội viên Hội Cựu chiến binh thành phố, còn lại là quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và con em các gia đình chính sách. Anh còn tích cực tham gia đóng góp cho Quỹ xóa đói giảm nghèo, trao học bổng cho học sinh - sinh viên nghèo vượt khó học giỏi, xây nhà tình nghĩa tặng Mẹ Việt Nam anh hùng.




Hồng Quân]]></description>
            <pubDate>2009/05/04 19:08:36</pubDate>
            <guid><![CDATA[Bản lĩnh của người chiến sĩ - doanh nhân thời bình.:5]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[&quot; Vua &quot; Cà chua kỹ thuật cao]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/nhabao-khonggiayto/article?mid=3]]></link>
            <description><![CDATA[


&quot;Vua&quot; cà chua kỹ thuật cao







Cà chua trồng bằng phương pháp thuỷ canh.KTNT - Cho đến bây giờ, bà con xã Phú An (Bến Cát - Bình Dương) vẫn bàn tán râm ran về mô hình trồng cà chua độc đáo của anh Nguyễn Văn Đẹp. Môi trường sống của cây không phải đất mà là nước. Cũng nhờ mô hình này mà mỗi ngày anh Đẹp thu bạc triệu. 


Nhắc đến vườn cà chua trồng theo phương pháp thủy canh của mình, anh Đẹp rất hoan hỉ, nói trôi chảy hàng giờ liền về cách chọn giống, hàm lượng phân bón pha vào nước, cách gieo để cây cho năng suất cao, chất lượng đảm bảo. Về “cơ duyên” đến với mô hình này, anh “bật mí”, một lần được người thân bên Australia “mở mang tầm mắt” khi giới thiệu về mô hình trồng cà chua theo kỹ thuật tiên tiến, anh Đẹp “mê” ngay. “Không mê sao được khi cây cà chua vẫn phát triển tốt mà không cần đất. Và đặc biệt là sản phẩm làm ra rất an toàn, mẫu mã đẹp, những điều mà hàng nông sản của ta đang thiếu”, anh Đẹp hồ hởi nói. Nghĩ là làm, anh quyết định đầu tư 400 triệu đồng xây dựng nhà lưới với hệ thống chăm sóc cây hoàn toàn tự động dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia Công ty Chuyển giao công nghệ Star Drip Irrigation (Australia). Mọi việc trao đổi thông tin, dữ liệu, hình ảnh về sự phát triển của cà chua với các chuyên gia đều thông qua internet.
Anh Đẹp cho biết, cà chua của anh là những sản phẩm sạch vì hệ thống ươm trồng và chăm sóc được thực hiện theo quy trình khép kín. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cà chua, anh không dùng bất kỳ loại chất kích thích hay thuốc trừ sâu nào. Chính vì vậy, cây không bị nhiễm độc. Cũng nhờ áp dụng kỹ thuật cao mà anh không phải tốn công chăm sóc vì tất cả đều được tự động hoá. Nếu nhiệt độ trong nhà lưới cao thì lập tức cho phun sương làm dịu, nếu lượng phân bón quá biên độ cho phép sẽ được máy dẫn thêm nước để điều hòa. Anh chỉ cần theo dõi sự phát triển của cây và thu hoạch.
Hiện, trung bình mỗi ngày anh Đẹp thu hoạch 250kg cà chua, với giá bán 8.000 đồng/kg, anh thu về 1,6 triệu đồng. Mỗi vụ thu được 30 tấn/2.000m2, như vậy chỉ cần 2 vụ canh tác là anh có thể hoàn vốn. Từ hiệu quả của mô hình, anh Đẹp sẵn sàng chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm để bà con nông dân có thể áp dụng. Nếu ít vốn, bà con có thể đầu tư với quy mô nhỏ, thay khung sắt bằng tre, gỗ; hệ thống tưới tiêu tự động thay bằng việc thiết kế các bình tưới nhỏ hơn để giảm chi phí ban đầu. Cũng theo anh Đẹp, Công ty Star Drip Irrigation đã có kế hoạch đầu tư xây dựng kho lạnh, nhà chọn cà chua, lập kênh phân phối để mở rộng thị trường nếu sản phẩm cà chua sạch được nông dân Việt Nam ưa chuộng.
Mô hình của anh Đẹp hiện trồng được 3 giống cà chua của Australia, Nhật Bản, Việt Nam; trong đó cà chua Việt Nam bán rất chạy vì quả nhỏ vừa phải, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Anh cho biết: “Trong tương lai, tôi sẽ mở rộng quy mô sản xuất; đăng ký thương hiệu và nâng cao sản lượng để đưa sản phẩm vào các hệ thống siêu thị ở Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh”.
Hồng Quân]]></description>
            <pubDate>2009/02/19 11:16:15</pubDate>
            <guid><![CDATA[&quot; Vua &quot; Cà chua kỹ thuật cao:3]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- w2.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Sat Nov 28 10:17:14 SGT 2009 -->
