Chào bạn! Rất vui vì bạn đã vào thăm blog của tôi:-)

Tâm trạng

Đóng

Tâm trạng

Từ 13-03-2008 đến 02-05-2009

Mô-đun 1

Sửa Đóng

thoáng chút kỉ niệm






Mô-đun 2

Sửa Đóng

vợ yêu àh - anh iu nhỏ nhiều


Danh sách bài đã đăng

Sửa Đóng

Câu 2 :Trên cơ sở chiến lược thế vị trong ma trận TOWS , ta sẽ triển khai chiến lược phát triển sản phẩm: đa dạng hoá hàng ngang

Việt Nam có hơn 80 triệu dân và những người có thể tiếp cận với dịch vụ ngân hàng còn rất ít. Đây là một mảnh đất hoang - có nghĩa là còn rất nhiều “đất” để khai thác. Nhưng nếu nhìn vào số lượng ngân hàng đang hoạt động và tiềm năng thực sự nhưng chưa được tận dụng hết của 80 triệu dân Việt, thì có ý kiến cho rằng thị trường ngân hàng Việt Nam là quá chật chội...

Nhưng hầu hết các ngân hàng quy mô còn nhỏ, dịch vụ còn thô sơ nên tiềm năng của thị trường ngân hàng ở Việt Nam còn rất lớn vì nó chưa được khai thác nhiều, tức là còn rất nhiều chỗ trống cho các dịch vụ mới, cho việc mở rộng thị trường. Số lượng các ngân hàng quốc doanh, ngân hàng tư nhân, ngân hàng cổ phần, ngân hàng nước ngoài hiện nay ở Việt Nam rất nhiều nhưng nếu các ngân hàng biết cách khai thác tôt thị trường  thì còn mở rộng thị phần của mình được rất nhiều.

Còn những người còn lại mà phải vật lộn mới có thể tồn tại trong nó thì có thể đối với họ thị trường này là chật chội. Theo tôi thì bất kì người dân nào cũng là khách hàng tiềm năng của dịch vụ ngân hàng dẫu là người nghèo. Vấn đề là người ta dùng bao nhiêu và dùng như thế nào. Khi người dân được tiếp xúc với các dịch vụ ngân hàng, thì họ có khả năng làm giàu nhiều hơn, làm kinh doanh dễ hơn và lúc đó nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn.

Ở Việt Nam , dịch vụ ngân hàng thương mại chỉ mới thực sự hoạt động khoảng gần hai chục năm trở lại đây. Trong khoảng thời gian từ đó đến nay, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã có những sự phát triển rất mạnh. Ở các nước phát triển mạnh họ có vài ba nghìn sản phẩm khác nhau còn ngân hàng Việt Nam được gọi là mạnh lắm thì cũng chỉ có được dăm ba trăm loại. Quan trọng nhất đây là một ngành dịch vụ, mà đã là một ngành dịch vụ thì sự phong phú của nó nó hoàn toàn phụ thuộc vào đầu óc của những người tạo ra sản phẩm đó. Tuy rằng phát triển rất nhanh nhưng vẫn còn sơ khai và đi sau các nước khác rất nhiều. Dịch vụ của ngân hàng ở Việt Nam còn thiếu, nghèo nàn, sơ khai và là mảnh đất rất là hoang để cho người nào có công cụ, người nào có đầu óc, người nào nhanh nhạy có thể khai phá. Đó là một cơ hội không nhỏ.

 Ví dụ 1: về chất lựợng cung cấp dịch vụ ngân hàng của một ngân hàng:
           Vào lúc 8h sáng ngày 8/4/2008, một khách hàng mang thẻ Incombank đến một điểm đặt máy ATM của Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy trên đường Kim Liên - Ô Chợ Dừa kéo dài.
Khi chuẩn bị đút thẻ ATM vào máy thì nhân viên trong chi nhánh hớt hải chạy ra xin lỗi vì máy đang bị kẹt tiền và giới thiệu sang máy ATM của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) phía đối diện vì cùng mạng Bank Net.
Khi sang máy ATM của BIDV - Phòng giao dịch chi nhánh Đông Đô thì nhìn thấy màn hình máy ATM hiện lên dòng chữ: "Xin lỗi, máy tạm ngừng hoạt động".

Như đã thấy trên ví dụ trên, với chất lượng dịch vụ như thế thì thử hỏi khách hàng sẽ thấy bất tiện như thế nào về chất lượng của dịch vụ ngân hàng mà minh đang sử dụng và được hưởng cơ chứ. Và từ đây ta có thể đưa ra một số nhận xét sau:

- Các ngân hàng thương mại mới chỉ chú ý đến mặt số lượng thẻ, quy mô thẻ. Để cạnh tranh thu hút khách hàng, không ít ngân hàng thương mại tặng không thẻ cho khách hàng, tức là không thu phí phát hành thẻ, mà chi phí để sản xuất phôi thẻ và các chi phí khác có liên quan ít nhất cũng tới 30.000 đồng/thẻ. Tuy nhiên chất lượng dịch thẻ thì không quan tâm đúng mức.

- Trình độ và chất lượng dịch vụ thẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam đang đi sau so với đòi hỏi của thực tiễn và càng tụt hậu so với khu vực và quốc tế.

Chưa tổ chức đồng bộ các khâu trong dịch vụ thẻ. Tức là chưa chú ý đến đào tạo trình độ chuyên môn cho cán bộ vận hàng, duy tu, bảo dưỡng, bảo trì và các dịch vụ khác có liên quan đến dịch vụ ATM.

Các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn mới chỉ chú ý đến hoạt động tín dụng. Bởi vì lĩnh vực kinh doanh này đem lại 95% - 97% nguồn thu nhập cho nhiều ngân hàng thương mại. Trong khi đó, dịch vụ thẻ ATM chưa thu phí phát hành thẻ và chưa thu phí rút tiền mặt tại máy ATM, mà các ngân hàng thương mại mới kỳ vọng vào sử dụng tạm thời số dư tiền gửi không kỳ hạn với lãi suất thấp của chủ thẻ để trên tài khoản để cho vay mà thôi.

Trên chỉ là một ví dụ về dịch vụ thẻ ATM mà thôi, chúng ta đã thấy rất nhiều bất cập, điểm yếu cần phải thay đổi nếu các ngân hàng thương mại VN muốn cạnh tranh trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt trong thời buổi mở cửa thị trường như thế này.

CÂU 3: ĐƯA RA MỤC TIÊU NGẮN HẠN VÀ CHÍNH SÁCH PHÙ HỢP ĐỂ TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC ĐÃ LỰA CHỌN

 

1. Mục tiêu ngắn hạn

1.1.  Nâng cao tiềm lực tài chính: Theo thống kê thì năng lực tài chính của 3 ngân hàng lớn nhất Việt Nam chỉ tương đương với năng lực tài chính của một ngân hàng trung bình trong khu vực. Điều này chứng tỏ một điều rằng hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã lép vế về vốn so với các ngân hàng trong khu vực khá nhiều thì so với các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh trên thế giới thì các ngân hàng Việt Nam có khả năng tài chính quá thấp. Chính vì thế, mục tiêu trước mắt của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là nâng cao khả năng tài chính. Hơn nữa, chỉ khi nào có khả năng tài chính thì các ngân hàng mới có thể thực hiện được các chiến lược của mình.

1.2.  Phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ:                                                                                                                                                                                                

                                                                                                                                                Ví dụ: Hiện tại, hầu hết các ngân hàng hiện nay đều có trang websites riêng và một số cung cấp dịch vụ online để khách hàng gửi thắc mắc, góp ý kiến cũng như xem tỷ giá, lãi suất tiêng gửi tiết kiệm, số dư tài khoản, liệt kê giao dịch và hướng tới thực hiện chuyển khoản, thanh toán hóa đơn,… chỉ với động tác click hoặc enter.

 Nhưng đó chỉ là trên lí thuyết thôi, chứ thực tế thì khách hàng chỉ có thể xem được số dư tài khoản là hêt rồi. Trước đó, ngoài internet banking, mốt số dịch vụ khác như Phone banking, SMS banking, mobile banking và home banking cũng được các ngân hàng giới thiệu khá rầm rộ về dịch vụ trên. Ngoài tình trạng trên thì mức độ bảo mật và an toàn của các tài khoản ngân hàng được các ngân hàng thực hiện chưa tốt. Đã từng xảy ra các trường hợp bị hacker rút hết tiền mà ngân hàng không biết gì. Cuối cùng thì trách nhiệm thuộc về ai? Câu hỏi còn bỏ ngỏ. Đó chỉ là hai ví dụ về chất lượng sản phẩm dịch ngân hàng chưa cao, ngoài ra còn có nhiều dịch khác nữa: thủ tục vay vốn, gửi tiền còn nhiều giai đoạn, tốn thời gian, công sức; việc thiếu hệ thống máy rút tiền – chưa rộng rãi đã làm hạn chế việc sử dụng thẻ ATM, ….. Từ nhiều điểm bất cập như trên mà một tiêu không thể không thực hiện đối với các ngân hàng thương mại VN là nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng

1.3.  Mở rộng, đa dạng hóa sản phẩm.: Hiện nay, ở VN chưa có nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng hay nói cách khác sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn sơ khai. Hơn nữa, sự cạnh trạnh từ các ngân hàng ở nước ngoài sẽ càng gia tăng, chính vì thế chúng ta phải đi trước đón đầu đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng để tạo cho một mình một lợi thế cạnh khi mà chưa có cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài đó. Nếu giờ mà chúng ta không tận dụng cơ hội để đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong hiện tại và trong tương lai thì sẽ quá muộn để cạnh tranh khi mà các ngân hàng nước ngoài đã tràn ngập ở Việt Nam . Qua đó ta thấy được tính bức thiết của mục tiêu đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

 

 

 

 

 

 

2.     Chính sách

2.1.  Chính sách tài chính

a)      Tham gia huy động vốn từ thị trường chứng khoán: hiện nay chưa có nhiều ngân hàng tham niêm yết trên thị trường chính thức (ví dụ như ngân hàng đông á, ngân hàng á châu,…) chủ yếu là trên sàn OTC. Tuy nhiên, trong hiện tại và tương lai thì thị trường chứng khoán vẫn là một trong những nguồn thu hút vốn chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam

b)     Một cách khác để các ngân hàng thương  mại huy động vốn đó là huy động từ ngân hàng trung ương.

c)     Thị trường vàng: Hiện nay, được sự cho phép của nhà nước thì một số ngân hàng thương mại đã đưa ra một loại hình dịch vụ mới là sàn giao dịch vàng. Mỗi một lần thực hiện giao dịch người tham gia giao dịch phải đóng một khoản phí là 2000đ/ 1 lượng vàng, trong một ngày thì lượng vàng giao dịch là rất lớn do đó lợi nhuận thu được của các ngân hàng rất lớn. Đây là nguồn thu nhập không nhỏ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong hiện tại và tương lai.

d)     Một trong các kênh thu hút vốn không thể thiếu được của các ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng đó là thu hút vốn nhà rỗi trong dân. Thực tế hiện nay, lợi nhuận người gửi vào ngân hàng là âm do tốc độ của lạm phát cao hơn lãi suất tiền gửi. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán thì đang phải chứng kiến một thảm cảnh sau 1 năm thị trường chứng khoán nóng bỏng – năm 2006, thì 2 năm tiếp theo giá chứng khoán giảm nhanh chóng xuống dưới 500 điểm tại thời điểm hiện tại, thị trường nhà đất và các thị trường khác thì không hấp dẫn lắm, chính vì thế mà cuộc chạy đua lãi suất các tháng đầu năm 2008 đã thu hút một lượng vốn nhãn rỗi không nhỏ từ trong dân. Và tôi xin lấy một ví dụ cụ thể cho tiềm năng thu hút vốn nhãn rỗi của các ngân hàng Việt Nam: tại thời điểm hiện tại và trong tương lai có rất nhiều các khu công nghiệp được xây dựng ở rất nhiều nơi, và dân cư ở nơi đó sẽ bị mất đi một phần đất canh tác, đất ở; bù lại họ lại được nhận 1 khoản đền bù đất tương ứng, và số tiền đền bù của họ thì không ít, hơn nữa họ chưa biết đầu tư vào đâu cho hiệu quả, thì một địa chỉ rất an toàn, đáng tin cậy đó là gửi vào ngân hàng. Tiền của họ có thể giảm thiểu được tác động của lạm phát, có thể có lãi nữa, lại không sợ bị mất tiền hay điều không may nào khác. Bởi lẽ đó, huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ trong dân là một chính sách hữu hiệu giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam tăng khả năng tài chính của mình nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.

2.2.  Chính sách nhân sự

a)      Tại sao lại cần phải có chính sách nhân sự để thực hiện chiến lược phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và mở rộng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ? Câu trả lời thật đơn giản: bởi lẽ, khi có một đội ngũ nhân viên có năng lực làm việc hiệu quả thì sẽ tăng được chất lượng dịch vụ ngân hàng, có thể đưa ra được các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng kịp thời, tối đa mọi nhu cầu, ước muốn của khách hàng.

b)     Một trong những cách để có được một đội ngũ nhân viên giỏi đó là: các ngân hàng có thể liên kết đào tạo với các trường đại học trong nước, hay liên kết với các ngân hàng nước ngoài có năng lực quản lý, nhân sự giỏi trong lĩnh vực nhân lực.

1.      Đối với các trường đại học, đặc biệt là các trường kinh tế thì các ngân hàng thương mại VN nên đưa ra các chương trình liên kết đào tạo, đưa nhân viên giỏi, có kinh nghiệm vào giảng dạy theo các chương trình liên kết đào tạo có tính thực tiễn cao nhằm cung cấp cho sinh viên những kĩ năng, sự hiểu biết cần thiết cho công việc thực tế sau này nhằm có được hiệu quả cao nhất. Bởi lẽ, thực trạng hiện nay thì các sinh ra trường, kể cả những sinh viên giỏi khi đi làm việc thì ngân hàng đều phải đầu tư thời gian, công sức, chi phí để đào tạo lại cho những sinh viên này có được kĩ năng thực tế; như vậy nếu các ngân hàng thương mại VN không đưa vào thực thi chính sách này thì sẽ còn phải tốn tiền, tốn của, tốn thời gian không cần thiết.

2.      Các ngân hàng thương mại VN có thể gửi nhân viên của mình đến các ngân hàng nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm quản lý, nghiệp vụ, và công nghệ ngân hàng; sau một thời gian số nhân viên này sẽ quay trở lại làm việc cho ngân hàng, như vậy là ngân hàng đã có được những nhân viên giỏi có kinh nghiệm quản lý, nghiệp vụ, tiếp cận công nghệ cao. Những nhân viên có thể thổi một gió mới vào phong cách làm việc, môi trường làm việc trong ngân hàng.

c)     Một cách khác là các ngân hàng thương mại VN có thể thuê các chuyên gia nước ngoài về làm việc cho mình, trong thời gian họ làm việc tại ngân hàng họ có thể giúp làm tăng số lượng khách hàng, đổi mới phong cách làm việc – làm cho môi trường làm việc trở nên cạnh tranh hơn, năng động hơn,… Nhưng điều quan trọng hơn cả là họ sẽ có thể gây ảnh hưởng, truyền đạt kinh nghiệm quản lý, nghiệp vụ của họ cho những nhân viên hiện tại của ngân hàng, do đó sau khi các chuyên gia này không còn làm việc cho ngân hàng thì ngân hàng đã có một đội ngũ nhân viên giỏi hơn trước.

d)     Điều quan trọng không kém là chế độ đãi ngộ cho nhân viên. Hiện nay khi các ngân hàng thương mại VN thi nhau bành trướng mạng lưới của mình bằng việc mở thêm rất nhiều các chi nhánh ở khắp mọi nơi. Do đó bài toán nhân lực ngân hàng là chủ đề nóng hỏi trên các tờ báo, bài toán này không thể giải quyết được trong thời gian ngắn, vì thế một giải pháp được các ngân hàng đưa ra là níu kéo các nhân viên, đặc biệt là nhân viên giỏi, có kinh nghiệm của các ngân hàng khác với một chiêu thức không bao giờ cũ đó là một chế độ đãi ngộ hấp dẫn khi họ đến làm việc cho ngân hàng của mình, đó là chưa kể đến việc làm này của các ngân hàng nước ngoài, chế độ đãi ngộ của họ hấp dẫn hơn so với các ngân hàng thương mại trong nước nhiều. Thế sao các nhân viên giỏi ại không bỏ hết sang các ngân hàng nước ngoài đó là do họ là người Việt Nam , họ vẫn có sự gắn kết với các ngân hàng trong nước. Vì thế các ngân hàng thương mại trong nước phải:

1.      Có một chế độ đãi ngộ tốt đối với nhân viên giỏi, đặc biệt là nhân viên giỏi, có hiệu quả làm việc cao.

2.      Phải xây dựng một nền văn hóa doanh nghiệp mạnh, như thế mới có thể giữ chân được nhân viên.

2.3.  Chính sách marketing

a)      Theo thống kê của một cuộc điều tra gần đây bởi nhóm tư vấn của UNDP về phản ứng của khách hàng khi ngành mà các ngân hàng nước ngoài đang tràn vào VN, thì

1.      Đối với hoạt động cho vay, có 45% số khách hàng được hỏi, kể cả khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp đều trả lời sẽ chuyển sang vay vốn ngân hàng nước ngoài chứ không vay vốn của ngân hàng VN.

2.      Trong trường hợp lựa chọn ngân hàng để gửi tiền, hơn một nửa số khách hàng có ý định gửi tiền vào ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là ngoại tệ

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy rằng, khách hàng sẽ không rời bỏ các ngân hàng VN ngay lập tức để chuyển hướng sang các ngân hàng nước ngoài vì họ có tính đến sự gắn kết mang tính văn hóa và sở thích của họ tin tưởng vào các ngân hàng trong nước.

            Thời điểm hiện tại các ngân hàng đã bắt đầu để ý đến việc marketing thương hiệu của mình. Ví dụ ngân hàng Vietcombank đã lập nên 3 đến 4 phòng chuyên phụ trách về mảng marketing, quảng bá thương hiệu của ngân hàng minh.Từ đó, ta thấy rằng việc làm cần thiết hiện nay của các ngân hàng thương mại VN là phải tạo được niềm tin từ phía khách hàng, tăng cướng hoạt động quảng bá thương hiệu, vừa nhằm củng cố lòng tin của các khách hàng hiện có, vừa tìm kiếm nơi những khách hàng tiềm năng lòng tin vào chất lượng dịch vụ của ngân hàng, những lợi ích của họ khi họ trở thành khách hàng thân thiết của mình. Nhờ hoạt động quảng bá thương hiệu, các ngân hàng có thể đưa hình ảnh của mình tới khách hàng gần hơn, đi xa hơn, sâu hơn.

 

2.4.  Chính sách sản phẩm

a)      Qua ví dụ 1 ở phần 2 và ví dụ 2 ở phần 3 , ta thấy rằng chất lượng dịch của các ngân hàng thương mại VN hiện  nay có nhiều bất cập, còn rất thấp, chính vì thế các ngân hàng thương mại cần có một một chính sách sách cải thiện chất lượng sản phẩm, cụ thể như: nâng cao dịch vụ an ninh tại các điểm rút tiền, điểm giao dịch, tránh tình trạng khách vừa rút tiền ra thì đã bị cướp giật; nâng cao độ bảo mật của hệ thống thông tin mạng, thông tin khách hàng, thủ tục vay cũng như rút tiền phải được rút ngắn nhằm tạo sự thuận tiện và tiết kiệm thời gian cho khách hàng,…. Và rất nhiều điểm, bất cập khác mà các ngân hàng phải làm.

b)     Song song với việc nâng cao chất lượng dịch vụ các ngân hàng cần phải đi trước đón đầu đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới nhằm có được lợi thế trong cạnh tranh trước khi các ngân hàng nước ngoài tràn ngập VN. Có rất nhiều sản phẩm dịch vụ mới mà các ngân hàng thương mại VN có thể đưa ra như:

1.      Các lĩnh vực thương mại điện tử, bán lẻ, chứng khoán, viễn thông,… phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động của ngân hàng.

2.      Đa dạng hóa dịch vụ như kinh doanh vàng trên tài khoản, mua bán vàng có kỳ hạn, kinh doanh ngoại tệ…

3.      Các dịch vụ về quản lý quỹ đầu tư chung

4.      Các dịch vụ tư vấn trung gian và dịch vụ hỗ trợ về tài chính như tài chính cá nhân, đầu tư, sáp nhập và chuyển nhượng, các ngân hàng trong nước hầu như chưa làm được

5.      Một ví dụ cụ thể: những công ty có hệ thống đại lý, cửa hàng trải rộng, có nhu cầu cần tập trung một lưu lượng tiền mặt lớn về công ty trong một ngày để phục vụ cho nhu cầu thanh toán tiền hàng thì dịch vụ thu hộ tiền mặt của ngân hàng sẽ là lựa chọn an toàn, tiết kiệm và hiệu quả. Phí thu hộ tiền mặt được tính tối thiểu 0.02%/ tổng số tiền thu hộ. Tuy nhiên, phí thu hộ sẽ được tính tùy theo từng hợp đồng ký kết.

6.      Hiện nay thu nhập của người dân đang tăng dân (thu nhập bình quân đầu người năm 2008 ước tính là 960 USD, năm 2007 là khoảng 850 USD), dân từ các tỉnh đổ về các thành phố lớn làm ăn lâu dài, đã làm phát sinh nhu cầu nhà ở rất cao. Tuy nhiên, họ chưa đủ tiền để trả 1 lần và tất yếu dịch vụ mua nhà trả góp đã được các ngân hàng đưa ra để đáp ứng nhu cầu này.

7.      Ngoài ra, còn có nhiều sản phẩm dịch vụ khác mà các ngân hàng có thể đưa ra.

  • Thư mục: Tổng hợp |
    Đăng ngày: 13:50 13-10-2004
    Marketing căn bản: Câu Hỏi Dạng Kết Mở   1.Xác định thị trường của 1 công ty cần phải đáp ứng các câu hỏi a.Mua cái gì b.Ai mua c.Tại sao mua d.Mua ntn e.Mua với số ...
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: english |
    Đăng ngày: 13:58 13-06-2004
    Stocks and bonds.   1.      Theory of stock and bond. Ø      There are, in fact, many concepts of bonds and stocks depe...
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: tin học |
    Đăng ngày: 15:34 13-09-2003
    Đăng ngày: 15:21 25-09-2008 Khi soạn văn bản, chúng ta thường tự viết kí tự đầu dòng như: -, +, ->, =>,....Trong khi trong word lại có chế độ đánh dấu đầu dòng tự động...
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: tin học |
    Đăng ngày: 13:40 13-09-2003
    Bước 1: Chọn lựa hàng hóa Truy cập website của nhà cung cấp dịch vụ, và chọn lựa hàng hóa, dịch vụ Bước 2: Đặt hàng Sau khi chọn lựa xong các sản phẩm cần mua, người mua sẽ ...
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)

Mô-đun 3

Sửa Đóng

welcome

chào mừng bạn đã ghé thăm blog của Mr Trường. Ai có gì hay thì cứ comment vào blog nhé chia sẻ chút thui mà kí tên: Mr Truong




Hình ảnh trong blog

Sửa Đóng

Danh sách bạn bè

Sửa Đóng

Danh sách bạn bè

Thống kê

Sửa Đóng

Thống kê

  • Khách hôm qua: 2
  • Tổng số khách: 160
  • lượt xem hôm nay: 0
  • Tổng lượt xem: 917
  • Bài viết: 42
  • Hình ảnh: 339
  • Lời bình : 29

Bài mới nhất

Sửa Đóng

Thư mục riêng

Sửa Đóng

Thư mục riêng

Lịch

Sửa Đóng
S M T W T F S
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30  

Cập nhật ngày

Sửa Đóng

Cập nhật ngày

11:55 09-08-2009

Bình luận nhanh

Đóng

Bình luận nhanh

  1. ddoongtaf

    ddoongtaf

    Xuân 2010 đang đến! Bạn muốn in lịch? Bạn đang cân... - 22:28 25-11-2009
  2. ddoongtaf

    ddoongtaf

    Xuân 2010 đang đến! Bạn muốn in lịch? Bạn đang cân nhắc... - 22:13 13-11-2009
  3. iDoody Kool

    iDoody Kool

    Hii, thank bạn rất nhìu vì đã ủng hộ nhé, mình bận quá... - 21:48 06-11-2009
  4. tratuvn20093

    tratuvn20093

    Xem clip cài tiện ích tra cứu nhanh rất kool của Baamboo... - 15:26 28-10-2009
  5. a

    a

    Mời bạn ghé thăm Http://ZestShop8x.com ... chọn được những... - 05:17 23-10-2009
 

R H
G S
B V

#