LÀM ƠN ĐỪNG CÓ AI VÀO QUẢNG CÁO DÙM TUI CÁI ĐI, CHÁN QUÁ...

Tâm trạng

Đóng

Tâm trạng

Từ 10-06-2009 đến 27-08-2009

Danh sách bài đã đăng

Sửa Đóng
Thư mục: Chung |
Quan trọng
Đăng ngày: 15:16 27-08-2009

Dinh Thầy Thím tồn tại cách đây 130 năm - là di tích có giá trị nhiều mặt: Văn hoá, lịch sử, nghệ thuật điêu khắc. Song, vượt lên những công trình hiện hữu ấy là những giá trị văn hoá phi vật thể. Đó là đạo đức lối sống nhân ái, đạo nghĩa của vị Thần được thờ, mà bao năm qua đã trở thành biểu hiện văn hoá, cách ứng xử của người làng Tam Tân giàu lòng yêu nước và của đông đảo đồng bào chúng ta.


 

Dinh và sự tích Thầy Thím là một tài sản vô giá của làng Tam Tân. Tài sản đó không phải bỗng dưng có, mà nó được tạo dựng từ rất nhiều đời. Không phải được tạo dựng một cách đơn giản mà là quá trình lâu dài mang tính lịch sử, với sự đóng góp biết bao tình cảm và công sức của nhiều thế hệ.

Để hiểu đúng giá trị đằng sau những công trình mang tính lịch sử, chúng tôi sưu tầm và giới thiệu cuốn sách "Dinh Thầy Thím - 130 năm hình thành & phát triển".

Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng những thiếu sót trong quá trình biên soạn là không thể tránh được. Tôi hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc, chúng tôi sẽ sửa chữa, bổ sung ngày một hoàn chỉnh hơn.

Theo truyền thuyết: Ngày xưa, ở tỉnh Quảng Nam có một đạo sĩ  giàu lòng nhân ái, võ thuật hơn người, thường có những nghĩa cử cao đẹp được dân làng mến mộ. Vì bị nhà Vua xét xử oan ức, nên đạo sĩ cùng vợ phiêu dạt vào phương Nam lánh nạn. Tam Tân một vùng quê xa xôi và trù phú trở thành nơi dừng chân cuối cùng của vợ chồng đạo sĩ. Và cũng từ đây, những truyền thuyết, đức độ của vợ chồng đạo sĩ được hết lòng ca ngợi, dân làng Tam Tân thân thiết gọi vợ chồng đạo sĩ là Thầy - Thím.

Thầy sinh vào những năm đầu của thời Gia Long, thuở thiếu thời, Thầy vừa cần mẫn dùi mài kinh sử, vừa tầm sư học đạo, nuôi chí giúp đời, ước muốn thoả chí tung hoành ngang dọc. Việc lớn chưa thành, danh chưa toại thì Thầy gặp đại tang, Cha, Mẹ cùng lúc qua đời. Là người con hiếu thảo, Thầy ở lại quê nhà cùng vợ là người cùng phủ chịu tang Cha, Mẹ, sống những ngày tháng kham khổ. Làng quê Thầy - Thím nhiều năm liền hạn hán, mất mùa, đời sống của nhân dân cơ cực, cơm không đủ no, nước không đủ uống. Động lòng trước nổi khốn khổ của dân, Thầy lập đàn khấn nguyện. Trời đang trong xanh bỗng sấm chuyển ầm ầm, mưa như trút nước, cây cỏ hồi sinh. Từ đó, Thầy nổi danh là một đạo sĩ có tài, dùng phép thuật của mình để cứu giúp dân lành.

Một lần trong ngày hội đầu năm, dân làng mơ ước có một mái đình khang trang để thờ phụng thần hoàng như ngôi đình to lớn nhưng thiếu người thờ phụng ở ngôi làng bên. Như cảm thông với nỗi khát khao của những tấm lòng thành kính với thần linh, đêm hôm ấy, gió mưa dữ dội, chớp giật rung chuyển cả đất trời báo trước một điềm lạ. Quả nhiên khi trời yên, đất lặng, mọi người thấy ngôi đình mới toạ lạc ngay giữa làng, ngôi đình dột nát trước đây đã không còn nữa. Dân làng kinh ngạc rồi reo hò vui mừng. Niềm vui ấy chưa được bao lâu, thì làng bên kia trống giục liên hồi, cấp báo về Triều đình tố cáo Thầy dùng phép đánh cắp đình, âm mưu gây bạo loạn.

Thế là nhà Vua nghiêm trị Thầy ở mức cao nhất. Song, cảm thông trước khí khái quân tử, nhà Vua gia ân cho Thầy được chọn trong ba tội hình: xử trảm, uống thuốc độc hoặc tự thắt cổ. Thầy xin một tấm lụa đào và chọn hình thức sau cùng. Kỳ lạ thay, khi tấm lụa đào đến tay Thầy bỗng trở nên có sức sống kỳ lạ. Thầy múa xong một bài cũng là lúc lụa biến thành rồng nâng Thầy và Thím bay bỗng lên không trung trước nổi kinh ngạc của quan lại và dân làng. Khi bay qua quê mình, Thím còn làm rơi xuống một chiếc hài như một lời nhắn thưa từ biệt, rồi lụa rồng bay về phương Nam...

Từ đó, Thầy - Thím đến cư ngụ tại làng Tam Tân (nay là xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận). Dưới lớp áo của người xa quê đến lập nghiệp. Lúc đầu, Thầy - Thím ở trọ nhà ông Hộ Hai. Ngày ngày làm các nghề đốn củi, đóng ghe, bốc thuốc chữa bệnh cứu người.  Có điều lạ là lúc nào bên Thầy cũng có quả bầu khô, người ta nói Thầy có phép "sái đậu thành binh" (gieo đậu thành binh lính). Một hôm nhân lúc Thầy vội vã vào rừng mà quên đem theo chiếc bầu , chủ nhà tò mò lấy ra xem, bỗng lửa phụt ra thiêu trụi cả căn nhà. Sau khi làm lại căn nhà mới cho ông Hộ Hai và để tránh sự chú ý của nhiều người, Thầy Thím vào ở hẳn trong rừng sâu gần Bàu Cái.

Thế nhưng, càng ở xa dân cư, danh tiếng của Thầy càng lan rộng, Thầy nhận đóng ghe cho ngư dân và giao rất đúng hẹn. Quanh khu rừng vang lên tiếng đẵn gỗ, đục đẽo cả ngày, nhưng chưa bao giờ người ta thấy  được một người giúp việc của Thầy. Từ cánh rừng nơi Thầy đóng ghe ra đến biển dài hơn 3km có mạch nước nhỏ đổ ra biển, dân địa phương tương truyền đó là dòng nước Thầy dùng gậy tạo ra để đưa ghe ra biển. Lạch nước ấy ngày nay vẫn còn, dân thường gọi là đường lướt ván.

Còn nhiều câu chuyện về lòng nhân ái của Thầy như trừng phạt bọn buôn gạo lợi dụng năm mất mùa bóp chẹt dân nghèo, cứu giúp dân chài trong cơn sóng to gió dữ... Không dừng lại ở đó, Thầy còn cảm hoá cả thú rừng là nỗi nơm nớp  lo sợ của nhiều người khi buổi đầu khai phá thiên nhiên hoang dã.

Một ngày mùa thu, được tin Thầy Thím qua đời, dân làng loan báo tin buồn, vội vã vào đến nơi, thì thấy hai ngôi mộ bằng cát trắng phau được thú rừng vun đắp thành mộ ở gần nơi Thầy Thím tạ thế. Hằng năm, cứ đến mùng năm tháng giêng âm lịch, người ta thấy có đôi Bạch - Hắc Hổ thường xuyên về tảo mộ, phủ phục gần đó canh gác cho ngôi mộ. Về sau khi đôi Bạch - Hắc Hổ qua đời, dân làng an táng ngay sau ngôi mộ Thầy - Thím để tưởng nhớ hai con vật có nghĩa, tận trung với người.

Tỏ lòng nhớ công đức của Thầy - Thím, nhân dân địa phương chung sức lập đền thờ ở khu rừng Bàu Cái gần nơi hai người tạ thế. Ngày 15/9 âm lịch hằng năm là ngày lễ tế thu Thầy - Thím. Qua khói hương, trong tiếng chuông trầm mặc, nghĩa cử Thầy - Thím vẫn được dân gian lưu truyền. Thế nên đến đời Vua Thành Thái năm thứ 18, nhà Vua đã xem xét lại án xử trước đây và ban sắc phong cho Thầy - Thím là "Chí Đức Tiên Sinh, Chí Đức Nương Nương Tôn Thần".

Sự tích Thầy - Thím là một truyền thuyết dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nội dung mang nhiều yếu tố tích cực và có giá trị giáo dục. Sự tích còn đề cao tính nhân nghĩa, đạo đức, nhân cách cao cả qua nhân vật Thầy - Thím. Sau những câu chuyện thần thoại ấy, ta có thể tiếp cận được ý nghĩa và giá trị đích thực, nhằm đề cao lẽ phải, sự công bằng và chuẩn mực của xã hội, góp phần giáo dục truyền thống, nhân cách và lối sống tốt đẹp cho mọi thế hệ, giữ gìn nét thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc.

Ngày nay, khi đến tham quan quần thể di tích Dinh Thầy - Thím, chúng ta còn gặp nhiều di tích gắn liền với truyền thuyết ấy như: Gốc cây Thầy ngồi đẽo thuyền, đường lướt ván, bốn ngôi mộ bằng cát trắng phau, tượng đôi Bạch - Hắc Hổ ngồi chầu.

Mỗi năm, Dinh Thầy - Thím có hai ngày lễ lớn: Lễ Tảo Mộ (nhằm ngày mồng năm tháng giêng âm lịch) và Lễ Tế Thu (kéo dài từ ngày 14 - 16 tháng 9 âm lịch). Khói hương nghi ngút, tiếng chuông trầm bỗng như đưa du khách vào sâu thẳm của thế giới tâm linh. Lễ hội có nhiều trò vui cuốn hút mọi  người như: chèo bã trạo, diễn xướng tích Thầy, biểu diễn võ thuật, lân múa thi tài, ... tạo nên tâm thế ngày hội vô cùng sôi động. Xin lộc Thầy, phóng sanh thả chim về rừng, cùng làm công tác từ thiện,... Âu cũng là cách thế tạo dựng niềm tin, tìm sự thanh thản cho tâm hồn.

DINH THẦY THÍM - 130 NĂM HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN

Sự tích Thầy Thím có tự lâu đời và không ngừng bồi đắp trong suốt quá trình hình thành và phát triển Dinh Thầy Thím. Song, lịch sử Dinh Thầy Thím thể hiện bằng công trình cụ thể, bằng hoạt động của Ban quản lý thì có cách đây hơn 130 năm. Đó là lịch sử gắn với sự thăng trầm của đất nước, có thể chia thành 03 giai đoạn lớn như sau:

+ Khai phá vùng đất và tạo dựng nơi thờ tự.

+ Dinh Thầy Thím trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ.

+ Dinh Thầy Thím phát triển di tích, lễ hội sau chiến tranh.

KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT VÀ TẠO DỰNG NƠI THỜ TỰ

Dinh Thầy Thím thuộc làng Tam Tân, thị xã La Gi, nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Thuận. Nếu như 300 năm trước, người Việt từ các tỉnh phía Bắc Trung Bộ đã xây dựng cơ nghiệp trên đất Bình Thuận, thì vùng Tam Tân vẫn chưa được biết đến. Có lẽ, phải nửa thế kỷ sau đó, người Việt mới đến khai phá trên đất này. Dù vậy, làng Tam Tân (gồm hai xã Tân Tiến và Tân Hải bây giờ) là một làng hình thành khá sớm của thị xã La Gi. Con sông Phan bắt nguồn từ núi rừng Tánh Linh chảy qua phía Bắc làng là con sông hiền hoà, tạo nên những cánh đồng màu mỡ và một cửa biển thuận lợi cho đánh bắt hải sản, giao lưu, buôn bán.

Qua truyền thuyết của làng, có thể thấy người Tam Tân giỏi đóng ghe, khai thác lâm sản và thường xuyên giao lưu với bên ngoài. Chính nhờ vị trí thuận lợi, làng Tam Tân trở thành nơi tiếp nhận nhiều nhóm di dân đến đây lập nghiệp. Ngoài những nhóm lưu dân đầu tiên tiếp quản nơi đây từ các tỉnh phía Bắc và vùng Nam - Ngãi - Bình - Phú, thì cách đây khoảng 140 năm, làng Tam Tân còn tiếp nhận nhóm di dân lớn thứ hai. Đó là nghĩa quân Trương Định, sĩ phu yêu nước và dân ở miền lục tỉnh Nam kỳ chọn Bình Thuận làm nơi "Tỵ địa" khi nhà Nguyễn dâng hai đầu đất nước cho thực dân Pháp (Trung kỳ được gọi là xứ bảo hộ).

Như vậy, về đặc điểm dân cư, làng Tam Tân được hình thành từ cuối các đời chúa Nguyễn (khoảng giữa thế kỷ 18) và cuối triều Nguyễn (1867), với hai nhóm di dân lớn đến từ các tỉnh phía Bắc và phía Nam Bình Thuận. Do vậy, người Tam Tân vừa có chất cần cù của người miền Trung vừa có nét phóng khoáng của dân Nam bộ.

Vạn sự khởi đầu nan, thiên nhiên nơi đây đủ điều kiện để phát triển lâu dài. Song trước mắt, những chủ nhân mới của vùng đất này phải đối diện với nhiều vấn nạn: bệnh tật và thú dữ. Hơn nữa, trước mặt là biển cả mênh mông, sau lưng là rừng già thâm u, tĩnh mịch, con người như càng nhỏ bé hơn trước thiên nhiên bao la. Trong bối cảnh đó, tìm chỗ dựa tinh thần ở đấng siêu nhiên là điều tất yếu. Đối với những người đi mở đất, xây dựng nơi thờ tự là nhu cầu tinh thần không thể thiếu được. Nó khẳng định sự tồn tại, tạo dựng thế đứng, gắn bó cộng đồng dân tộc vào càn khôn vũ trụ, nếu không thì mãi mãi chỉ là một dạng "lưu dân tập thể". Và, vị thần của làng phải là người có những đặc điểm giống cư dân ở đây: phải là dân di cư tự do, là người nghĩa khí rộng lượng, và trên hết là biết chữa bệnh cứu ngươì, diệt trừ muôn thú. Với điều kiện đó, Thầy Thím là hai nhân vật huyền thoại đáp ứng tất cả các yêu cầu trên. Hình tượng Thầy Thím mau chóng chiếm trọn tình cảm của dân làng và rộng hơn thế nữa. Đó cũng là lý do giải thích tại sao Thầy Thím không phải thành hoàng (vị thần cai quản trong một làng) nhưng được xem như thành hoàng của làng. Sự tôn vinh ngang thành hoàng là đền đáp công ơn của Thầy Thím đối với nhân dân, bởi trong tâm thức, mọi việc thành công đều có sự trợ giúp của Thầy Thím.

Tôn kính và thờ phụng Thầy Thím là hoạt động văn hoá xuyên xuốt của làng Tam Tân. Nhìn vào sự phát triển của Dinh Thầy Thím cũng có thể nhận thấy sự hưng thịnh của làng Tam Tân.

Dinh Thầy Thím khởi đầu được xây dựng bằng tranh tre vách đất, phù hợp năng lực của làng Tam Tân lúc bấy giờ. Theo quan niệm người xưa, dinh - đình không đặt nơi hẻo lánh như chùa, song cũng không được gần chợ và gần dân cư. Do vậy, lúc đầu Dinh Thầy Thím được xây dựng ở trong khu rừng Bàu Cái. Tuy ở xa dân làng, nhưng ngôi Dinh đơn sơ ấy, nằm giữa rừng cây bao la mênh mông màu xanh, lúc nào cũng có người hương khói.

Lần hồi cuộc sống khá hơn, người dân không ngừng vun đắp nơi sinh hoạt tinh thần của mình. Các tài liệu vật thể còn lưu lại di tích cho thấy xây dựng Dinh Thầy Thím là quá trình của nhiều thế hệ. Trong giai đoạn đầu, có thể kể đến hai lần xây dựng lớn. Lần đầu là xây dựng chánh điện vào cuối năm 1879 (năm Tự Đức thứ 32). Nhìn kiểu dáng tứ trụ được chọn lựa kỹ càng từ các danh mộc có trong rừng, được trau chuốt công phu của những tay nghề xứ Quảng, sẽ hiểu được sự lao động cật lực của các bậc tiền nhân.

Lần xây dựng thứ hai cách lần trước gần nửa thế kỷ (1924 - năm Khải Định thứ 9). Đây là lần tu bổ lớn với nhiều hạng mục: nhà võ ca, nhà tiền hiền, công trình phụ, cùng với hàng chục hoành phi, câu đối cổ, hương án, ... Những công trình mới đã làm cho Dinh Thầy Thím mang dáng dấp kiến trúc cung đình, uy nghi và bề thế.

Như vậy, đến cách mạng Tháng Tám năm 1945, làng Tam Tân có lịch sử khoảng 250 năm và Dinh Thầy Thím được xây dựng cơ bản hoàn chỉnh được 7 thập kỷ, trở thành nơi sinh hoạt văn hoá - tinh thần, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng Tam Tân.

DINH THẦY THÍM TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN.

Làng Tam Tân nơi có Dinh Thầy Thím đựơc xem là vùng đất tụ nghĩa. Đó là chốn mai phục của phong trào "Tỵ địa", nơi dừng chân của một số người trong phong trào Cần Vương, Đông Du ở các tỉnh phía Bắc vào đây tìm cơ hội, nơi ẩn trú của những người tù vượt ngục. Điều đó lý giải tại sao Tam Tân là nơi có Chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh Bình Thuận, nơi giành chính quyền đầu tiên của thị xã La Gi. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, trong hai cuộc kháng chiến, mảnh đất Tam Tân trở thành địa bàn, căn cứ quan trọng của cách mạng. Người dân kiên trung đã góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Trong trang sử đó, có nhiều nét son đáng chú ý.

Tháng 9/1945, Pháp tái chiếm nước ta. Năm 1946 ở Bình Thuận Pháp đã chiếm giữ các nơi trọng yếu, đầu năm 1947 chúng thực hiện âm mưu củng cố các vùng chiếm đóng. Dinh Thầy Thím là điểm chú ý trong kế hoạch của chúng. Do vị thế toạ lạc giữa một khu rừng già, nằm trong vùng căn cứ cách mạng, nên Dinh Thầy Thím trở thành cơ sở quan trọng cung cấp lương thực và thuốc men cho cách mạng. Đánh hơi được vai trò thiết thực của Dinh không những gắn với đời sống tín ngưỡng của nhân dân mà chủ yếu là phục vụ cho Việt Minh, nên Pháp có ý đồ lấy Dinh làm chỗ khống chế và cắt đứt liên lạc giữa nhân dân và Việt Minh. Trước tình hình đó, để đối phó với âm mưu của địch và góp phần phục vụ kháng chiến, nhân dân đã tháo gỡ các bộ phận kiến trúc chính của chính điện, võ ca, nhà tiền hiền theo chủ trương "Tiêu thổ kháng chiến". Ngôi thờ tự mái ngói rêu phong, trong giờ phút quyết định, người Tam Tân không ngần ngại tháo dỡ nơi thiêng liêng nhất của làng tiêu thổ, theo cách mạng kháng chiến.

Trong kháng chiến chống Pháp, dân làng Tam Tân không những đẩy lùi tất cả các cuộc tiến công của địch, mà còn kiên cường xây dựng thành công căn cứ cách mạng. Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn của mãnh đất bị bao vây tứ bề, người Tam Tân không tiếc sức người, sức của ủng hộ kháng chiến. Nhân dân tự nguyện đóng góp được 11 lượng vàng, 30.000kg gạo, để hưởng ứng lời kêu gọi của cách mạng. Đặc biệt trong năm 1947, hưởng ứng "Tuần lễ đồng", nhân dân đã tự nguyện mang những vật dụng bằng đồng góp cho cách mạng đúc vũ khí. Chỉ sau vài ngày phát động, người Tam Tân đã ủng hộ 300kg đồng, trong đó có những cổ vật quý giá từ Dinh Thầy Thím. Đó là những lý do vì sao nguồn di tích động sản bằng đồng của Dinh Thầy Thím hiếm hơn so với những di tích khác. Song, nhân dân làng Tam Tân và  Dinh Thầy Thím có quyền tự hào về biểu hiện thiết thực lòng yêu nước của mình.

Kháng chiến thành công, trong muôn vàn khó khăn gian khổ, công việc lúc này là phải nhanh chóng xây dựng lại Dinh Thầy Thím. Nhiều vật dụng thất lạc, hư hỏng trong chiến tranh, các nguyên vật liệu ở địa phương không có sẵn... Bằng quyết tâm cao nhất, trong hai năm 1954 - 1955, Dinh Thầy Thím tập trung tài lực, vật lực của cả làng để tu bổ nhà võ ca, tiền hiền, chánh điện... Nhờ vậy, Dinh Thầy Thím càng khang trang hơn, các yếu tố nguyên gốc của di tích vẫn được bảo tồn cho các thế hệ sau chiêm ngưỡng.

Tưởng rằng người Tam Tân sẽ có thời gian xây dựng quê hương, xây dựng Dinh Thầy Thím ngày càng bề thế hơn, nhưng kẻ thù không cho họ làm điều đó. Từ căn cứ kháng chiến, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã biến Tam Tân thành trung tâm của quận lị mới. Chúng dùng lực lượng quân sự, công an, mật vụ thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng. Trong đêm tối, lòng dân vẫn hướng về cách mạng. Dinh Thầy Thím trở thành nơi họp bàn việc lớn của những người yêu nước. Thông qua những lần cúng Dinh, ngày rằm và thường nhật, cán bộ cách mạng bí mật tiếp xúc và vận động nhân dân tiếp tục tham gia kháng chiến. Những người dân kiên trung dưới danh nghĩa đem gạo vào cúng cho Dinh, nhưng thực chất là để chuyển cho lực lượng cách mạng ở những khu rừng quanh đó.

Điều đặc biệt là trong giai đoạn này, việc tham gia các kỳ lễ hội không chỉ có dân riêng làng Tam Tân mà thu hút nhân dân trong cả thị xã La Gi và một số tỉnh lân cận. Quy mô lễ hội ngày càng lớn, uy danh của Thầy Thím càng lan xa, điều đó đồng nghĩa với việc ủng hộ cách mạng càng nhiều. Cũng như bọn thực dân trước đó, chính quyền tay sai Mỹ - Nguỵ luôn tìm cách huỷ hoại Dinh Thầy Thím. Dùng vũ lực là điều chúng không thể làm, ngăn cản lòng dân là điều chúng không có khả năng, cách duy nhất là lập một Dinh Thầy Thím khác để cô lập Dinh Thầy Thím hiện nay đang ở giữa rừng. Vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, chúng cho dựng một Dinh Thầy Thím ở gần đồn Quân cảnh, cạnh sân vận động (Phường Tân Thiện, thị xã La Gi ngày nay). Đây quả là một đòn thâm độc của kẻ thù nhằm chuyển một số sinh hoạt tín ngưỡng lâu đời của nhân dân về trung tâm Tỉnh Bình Tuy (tỉnh cũ của huyện Hàm Tân dưới chế độ nguỵ quyền) cho dễ bề quản lý.

Từ đây, hội viên Dinh Thầy Thím có thêm một nhiệm vụ mới nữa là chống lại các luận điệu xuyên tạc, giải thích cho nhân dân trong làng và khách thập phương biết âm mưu của kẻ thù, nhằm biến Dinh Thầy Thím thành nơi hoang phế. Nhờ thế, Dinh Thầy Thím dù ở nơi hẻo lánh xa xôi, các kỳ lễ tế vẫn chật kín người, và từ đây Dinh Thầy Thím vẫn tiếp tục có điều kiện tiếp tế cho cách mạng.

30 năm, hai cuộc kháng chiến trường kỳ, Dinh Thầy Thím lập nên nhiều kỳ tích, thật hiếm hoi nơi nào trên cả nước, người dân dỡ cả đình làng tiêu thổ kháng chiến. Vì Tổ quốc họ không tiếc đến những di vật thiêng liêng của một làng. Trong điều kiện bị bao vây, cô lập họ vẫn kiên trung, phá vỡ thế trận kẻ thù đã giăng cho họ, tiếp tục tu bổ ngôi thờ tự của mình. Và, cao cả hơn, luôn tìm mọi cách để hướng về cách mạng. Điều đáng trân trọng là từ năm 1945 - 1975, dù thời thế thay đổi, chiến tranh tàn phá, khó khăn muôn vàn nhưng làng Tam Tân chưa bao giờ bỏ một kỳ tế thu nào của Thầy Thím. Trong những lúc khó khăn nhất không thể tổ chức lễ hội một cách quy mô, thì từng hội viên của Dinh Thầy Thím vẫn tự nấu nướng chuẩn bị lễ vật ở mỗi gia đình, rồi đến giờ họ rủ nhau gánh vào Dinh cúng kính rất nghiêm túc.

Như vậy, giai đoạn thứ hai của Dinh Thầy Thím kéo dài chỉ 30 năm, nhưng đây là giai đoạn thăng trầm. Nếu không có một tập thể Ban quản lý giỏi, tập thể hội viên kiên cường, thì Dinh Thầy Thím có thể bị san bằng trong thời Pháp chiếm đóng hoặc hoang phế dưới thời Mỹ nguỵ. Với tình cảm yêu nước nồng nàn, lòng thành kính dành cho Thầy Thím, các thế hệ tiếp tục có sự đóng góp để Dinh Thầy Thím bảo tồn được kiến trúc các bậc tiền bối để lại, phát triển lễ hội lên một tầm cao mới, một phạm vi rộng lớn nhất mà trong điều kiện lúc đó có thể làm được.

DINH THẦY THÍM SAU CHIẾN TRANH.

Trong chiến tranh, tuy Dinh Thầy Thím giữ gìn được các công trình của mình, nhưng sau ngày giải phóng (1975) thì các công trình kiến trúc trong quần thể di tích cũng có tuổi thọ một thế kỷ và ít nhất cũng trên 50 năm. Cùng với tác động của thời gian, chiến tranh, nhiều hạng mục cũng xuống cấp. Đời sống của đại bộ phận nhân dân còn rất khó khăn. Nạn phá rừng không chừa cả những cây cổ thụ xung quanh khu vực Dinh. Cánh rừng dầu, rừng tràm bát ngát một màu xanh, tô điểm cho vẽ đẹp di tích đã biến mất, đêm đêm nghe tiếng cây đổ rầm rầm, những người yêu khung cảnh di tích không khỏi xót xa. Ban quản lý lúc này đứng trước những khó khăn chồng chất.

Việc làm đầu tiên của Ban quản lý là củng cố về mặt tổ chức và phát triển hội viên nhằm tập trung sức người cho di tích. Tất cả hội viên được sắp xếp theo từng Chi hội theo địa bàn cư trú, sinh hoạt thường xuyên và chặt chẽ theo một nội quy thống nhất. Nhờ vậy, với hơn một trăm hội viên làm nòng cốt, Ban quản lý di tích đã huy động tiềm lực của cả làng sửa sang lại Dinh Thầy Thím. Ngoài ra, Ban quản lý còn tập trung phát triển mạnh lực lượng hội viên "Tán trợ" là những mạnh thường quân trong và ngoài tỉnh để đóng góp xây dựng di tích. Các mạnh thường quân đáng chú ý trong giai đoạn này có Bà Bảy Ngà, một Việt kiều ở Pháp thường về Việt Nam sinh sống. Dành trọn đức tin ở Thầy Thím và yêu mến khung cảnh nơi đây, Bà Bảy Ngà đã tài trợ hàng trăm triệu đồng tôn tạo di tích. Trong điều kiện khó khăn lúc đó, nghĩa cử của những hội viên như Bà Bảy Ngà, ông Nguyễn Văn Mến,... thật đáng trân trọng.

Đến năm 1988, các hạng mục xuống cấp cơ bản khắc phục xong. Tường rào bao quanh Dinh, chu vi 1.000m cũng được xây dựng. Đây cũng là vòng đai xác định khu vực I của di tích. Riêng nóc chính điện được cách điệu thành một cổ lầu để đẩy khói hương mù mịt trong những ngày lễ hội ra ngoài. Tuy vậy, phần thượng lương và những thành phần nguyên gốc của di tích vẫn được giữ nguyên. Khu mộ Dinh Thầy Thím nằm cách khoảng 3km cũng được xây dựng Miếu thờ và vòng thành bảo vệ 04 ngôi mộ của Thầy Thím và hai đệ tử. Điều đặc biệt, Ban quản lý di tích đã biết hướng đến việc xây dựng, mở rộng các công trình. Lần đầu tiên các công trình phục vụ du khách tham quan được đầu tư xây dựng (nhà nghỉ, nhà vệ sinh, ...) đã giữ chân khách hành hương được lâu hơn. Qua đó, tiềm năng, giá trị của Dinh Thầy Thím được khai thác và phát huy.

Bằng những nổ lực của mình, Dinh Thầy Thím dần dần được khôi phục và nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền, thu hút đông đảo du khách gần xa. Nếu khởi thủy chỉ có dân trong làng, thời kỳ chống Mỹ có thêm nhân dân một vài tỉnh lân cận, thì đến giai đoạn này, lễ hội Dinh Thầy Thím đã có hàng chục vạn người từ khắp các tỉnh thành phía Nam về đây dự hội. Con số đã nói lên quy mô của một lễ hội. Sách "Từ điển lễ hội Việt Nam" do tác giả Bùi Thiết được ấn hành năm 1991, đã xếp lễ hội Dinh Thầy Thím vào hàng lễ hội đặc sắc của phía Nam đất nước.

Từ lễ hội nhỏ của làng trở thành lễ hội lớn của khu vực, từ lực lượng hội viên chủ yếu là người làng đến những hội viên trong và ngoài tỉnh, từ Dinh Thầy Thím xuống cấp trầm trọng sau chiến tranh đến một di tích được bảo tồn chu đáo là cả một quá trình. Quá trình đó diễn ra hơn 10 năm, song nó đã thể hiện được một định hướng lâu dài của sự phát triển di tích, thể hiện tư duy đổi mới của những người kế tục. Những đổi thay trong giai đoạn này gắn với tên tuổi của những người lãnh đạo Hội Tam quý, Ban trị sự, Ban quản lý Dinh Thầy Thím qua các thời kỳ.

Những năm 90 của thế kỷ trước, tuy đã phát triển mạnh mẽ, nhưng hoạt động của Dinh Thầy Thím vẫn thiếu một cơ sở pháp lý đó là việc công nhận đây là di tích. Để làm được việc này quả không đơn giản chút nào, vì phần lớn các tư liệu, hiện vật đều thất thoát trong chiến tranh, nhận thức của một số hội viên chưa đúng đắn. Song, bằng quyết tâm và tầm nhìn, những người đứng đầu Ban quản lý đầu tư cho công tác nghiên cứu lập hồ sơ khoa học. Năm 1993, Bảo tàng Bình Thuận và Sở Văn hoá Thông tin căn cứ vào những giá trị vốn có của di tích đã tiến hành khảo sát nghiên cứu và lập hồ sơ kiểm kê di tích phổ thông, tham mưu cho UBND tỉnh Bình Thuận ra quyết định bảo vệ. Kèm theo quyết định là hồ sơ di tích bao gồm biên bản khoanh vùng bảo vệ di tích do chính quyền địa phương từ xã đến tỉnh phê duyệt.

Đó là cơ sở pháp lý bảo vệ di tích có giá trị nhất từ xưa đến nay, đồng thời, những việc làm trên thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến việc giữ gìn, bảo vệ những di sản văn hoá dân tộc. Đó cũng là nền tảng để tháng 9/1997, Dinh Thầy Thím được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là "Di tích kiến trúc nghệ thuật" cấp Quốc gia. Trên cơ sở pháp lý đã được duyệt, Dinh Thầy Thím hiện nay đang lập hồ sơ để mở rộng Dinh Thầy Thím trên 10ha, đáp ứng khả năng du lịch, xây dựng các công trình phụ gắn với việc bảo vệ khu rừng đang có nguy cơ tàn phá hiện nay.

Cùng với việc củng cố cơ sở pháp lý, làm phong phú lễ hội được Ban quản lý quan tâm. Do điều kiện chiến tranh, lễ hội không được tổ chức thường xuyên, nên nhiều sinh hoạt dân gian đã bị mai một. Bên cạnh đó, xây dựng các lễ hội luôn luôn mới mẽ, hấp dẫn, là đòi hỏi chính đáng từ công chúng phải được đáp ứng. Lễ hội trước đây thường  đơn điệu, thì hiện nay lễ hội đã mang màu sắc hiện đại, nhưng vẫn không mất đi nét cổ truyền. Có nhiều ho&đt động thú vị diễn ra trong suốt 03 ngày như: Nghinh thần bằng xe hoa đi khắp làng, thi làm cổ, thi xe hoa, diễn lại tích Thầy, thả chim, diễn xướng,...

Song song với việc đầu tư các hoạt động trên, Ban quản lý Dinh Thầy Thím còn tiết kiệm chi để đầu tư hàng loạt công trình như: đường điện thắp sáng, đảo ngói võ ca, chánh điện, tiền hiền và xây dựng lại nhà hậu hiền, miếu thờ Bạch - Hắc Hổ,... Chỉ trong vòng 15 năm, từ năm 1990 đến nay, Dinh Thầy Thím đã đầu tư hàng tỷ đồng để nâng cấp, quy hoạch toàn bộ di tích, giá trị hơn 100 năm trước cộng lại. Không chỉ đầu tư trong khuôn viên của mình, Dinh Thầy Thím còn đầu tư các hạng mục quan trọng để phát triển di tích. Nếu như trước đây muốn vào Dinh Thầy Thím phải lội bộ qua những quảng đường rừng, lầy, cát hoặc phương tiện duy nhất là xe bò, thì hiện nay đã có bến xe và đường nhựa chạy vào di tích.

Các phương án bảo vệ, quản lý và sử dụng di tích được đặt ra và thay đổi kịp thời với yêu cầu phát triển văn hoá, kinh tế của địa phương. Hiện nay, Dinh Thầy Thím là một trong những trọng điểm du lịch của tỉnh. Tất nhiên không chỉ có Dinh mà còn kết hợp với các thắng cảnh xung quanh, giữa núi rừng và bờ biển, tạo thế liên hoàn các tuyến du lịch, thu hút khách từ nhiều nơi về đây thưởng ngoạn. Từ khi Dinh Thầy Thím được xây dựng, lúc đầu quản lý, bảo vệ là sự tự nguyện của dân làng, nhưng càng về sau, việc quản lý, bảo vệ đó đã vượt quá khả năng của một làng. Hiện nay, Dinh Thầy Thím đã có Ban quản lý di tích (trước đây là Ban trị sự), Ban này do cuộc họp của hội viên bỏ phiếu tín nhiệm, UBND thị xã ra quyết định công nhận. Ban quản lý đầu tiên được chính quyền cấp thị (huyện Hàm Tân cũ)  công nhận vào năm 1995, do ông Nguyễn Hữu Lê làm Trưởng ban.

Như vậy, sau chiến tranh, cùng với cả nước, dân làng Tam Tân vượt qua muôn vàn khó khăn, tiếp tục xây dựng quê hương, tôn tạo di tích. Họ là những người kế tục xứng đáng với các bậc "Tiền hiền khai khẩn". Không chỉ là "Hậu hiền khai cơ" mà họ còn có những việc làm sáng tạo, đưa di tích Thầy Thím lên một tầm cao mới.

Kết luận: Trong quá trình phát triển hơn 130 năm của Dinh Thầy Thím là quá trình phát triển không ngừng. Đó là quá trình khẳng định niềm tin, đồng thời với việc xây dựng cơ sở vật chất để xứng đáng là một lễ hội lớn của khu vực phía Nam, xứng đáng là di tích cấp Quốc gia. Trong ba giai đoạn phát triển đó, có ba mốc son đáng chú ý sau:

+ Các bậc tiền nhân chuyễn Dinh Thầy Thím từ tranh tre vách đất sang gỗ, ngói. Giai đoạn này, trân trọng ghi nhận công lao đóng góp của vợ chồng ông Nguyễn Nhiều (ông Bộ) và các bậc tiền bối.

+ Lập hồ sơ công nhận di tích Dinh Thầy Thím là di tích cấp Quốc gia, từ đây tạo cơ sở pháp lý để Dinh Thầy Thím phát triển toàn diện. Thành quả trong giai đoạn này gắn với sự nổ lực của ông Nguyễn Hữu Lê, Nguyễn Văn Mười, Văn Công Sơn, Nguyễn Hữu Quý, Triệu Nguyễn Lực và tập thể thành viên Ban quản lý...

+ Mở rộng Dinh Thầy Thím, quy hoạch tổng thể một cách khoa học, mở rộng Dinh Thầy Thím đủ đất phát triển lâu dài, tổ chức lễ hội hoành tráng, phong phú, quảng bá hình ảnh Dinh Thầy Thím trên phạm vi Toàn quốc và ra nước ngoài. Thời kỳ này, phải kể đến và trân trọng ghi nhận sự đóng góp của các ông Văn Công Sơn, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Xinh cùng tập thể Ban Quản lý và các Ban Chi hội.

Ba thế kỷ, bao nhiêu thế hệ tiếp nối nhau đổ mồ hôi và cả máu của mình để khai phá một vùng đất, để tạo lập nên Dinh Thầy Thím, tạo dựng một thế đứng riêng cho mình. Lịch sử đó có lúc thăng trầm, nhưng người Tam Tân có quyền tự hào về những gì mình đã làm cho quê hương và bảo vệ, phát triển nơi thiêng liêng nhất của làng mình, đó là Dinh Thầy Thím.

Làng Tam Tân nay là xã Tân Tiến, Thị xã La Gi, Tỉnh Bình Thuận.

NÉT ĐẸP QUẦN THỂ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT DINH THẦY THÍM 

Toạ lạc giữa một khu rừng trầm mặc, yên tĩnh cách biệt với cuộc sống đời thường, Dinh Thầy Thím càng trở nên lắng đọng, tôn nghiêm giữa khung cảnh thiên nhiên huyền ảo. Kiểu dáng kiến trúc và và những hoạ tiết trang trí nghệ thuật ở ngoại thất cũng như cách bài trí, thờ phụng ở nội thất thể hiện rõ tín ngưỡng dân gian. Đặc biệt là nội dung sự tích Dinh Thầy Thím, nội dung tôn thờ và các hình thức sinh hoạt, lễ hội dân gian hàng năm tại Dinh gắn với tập quán, tín ngưỡng và đời sống tinh thần của nhân dân địa phương.

Dinh Thầy Thím một trong ba cụm di tích danh thắng và có thế mạnh trên lĩnh vực văn hoá du lịch và an dưỡng của Tỉnh Bình Thuận (ở phía bắc có chùa Cổ Thạch và đình Bình An, ở trung tâm có Lầu Ông Hoàng và chùa núi Tà Cú). Trong đó, Dinh Thầy Thím là nơi thu hút đông đảo nhân dân trong tỉnh và du khách các tỉnh miền Trung và Nam bộ đến thăm viếng, an dưỡng.

Đường vào Dinh Thầy Thím xa xôi, vất vả nhưng du khách sẽ quên đi mệt nhọc trước khung cảnh thiên nhiên, non nước hữu tình của một vùng quê miền duyên hải. Du khách như bị cuốn hút vào những cánh đồng xanh, những dãi rừng xanh ngát vươn lên trên những động cát trắng phau và bên tai vọng tiếng sóng vỗ rì rào như mời gọi của biển. Những âm sắc ngọt ngào của đồng quê, núi rừng và biển cả như nâng gót du khách đến Dinh.

Quần thể kiến trúc của Dinh được bao bọc bởi một bức tường hình thang vuông, chu vi gần 600m như tôn thêm vẻ trang nghiêm của Di tích. Vòng thành trổ ba lối vào Dinh, cổng chính ở phía trước và cổng phụ ở hai bên tả hữu. Cũng như các công trình kiến trúc tôn giáo khác ở Bình Thuận, Dinh Thầy Thím trước kia được xây dựng bề thế, trang nghiêm bằng những nguyên vật liệu cổ truyền sẵn có tại địa phương. Trong kiến trúc, gỗ đóng vai trò chủ đạo, chất vữa kết dính được pha trộn từ vôi, cát, mật đường, nhựa cây, mái lợp ngói âm dương cổ, nền lát gạch Bát tràng.

Các công trình kiến trúc chính của Dinh Thầy Thím đều quay về hướng Tây, gồm có: Cổng chính, Võ ca, nhà tiền hiền, bình phong, khu mộ Thầy - Thím và một số công trình phụ cận. Nét tương đồng mang tính chất đặc biệt trong kiến trúc của Dinh là toàn bộ các công trình chính như Chánh điện, Võ ca, nhà tiền hiền đều sử dụng lối kiến trúc "tứ trụ", một mô hình kiến trúc tôn giáo rất phổ biến ở Bình Thuận trong các thế kỷ XVIII - XIX. Điểm độc đáo mang sắc thái riêng của Dinh là kiểu dáng "tứ trụ" (4 cột chính ở trung tâm nhà) được trau chuốt và tạo dáng rất tinh tế, đạt đến đỉnh cao của sự hoàn mỹ trong nghệ thuật điêu khắc gỗ, ở đây toàn bộ chân đế của các cột chính được gờ chỉ, cách điệu dạng một bình hoa mềm mại, phần thân cột vát thành hình trụ vuông vức, phần đỉnh cột thu nhỏ dạng hình trụ tròn. Nét kiến trúc này là một trường hợp hiếm hoi và lý thú trong gần 300 di tích ở Bình Thuận.

1.Chính điện: Nằm ở vị trí trung tâm, đây là công trình kiến trúc bề thế, tôn nghiêm so với các công trình khác trong quần thể di tích. Chính điện có diện tích 70m2, bộ nóc kiến tạo thành hai tầng, mỗi tầng bốn mái. Tầng trên thu nhỏ vút cao như một cổ lầu, trang trí hình tượng "Lưỡng long chầu nguyệt" đắp nổi trang nghiêm. Dọc theo các bờ quyết của hai tầng máigắn kết các phù điêu đắp nổi như "tứ linh", giao long và nhiều hoạ tiết hoa lá vừa thâm nghiêm, cổ kính nhưng cũng hết sức mềm mại, uyển chuyển.

Bộ khung chính điện được gắn kết với nhau theo lối "tứ trụ", 4 cột gổ chính ở trung tâm vừa hợp lực nâng đỡ đỉnh nóc và cổ lầu bên trên, vừa liên kết giằng giữ lấy các vì cột con toả đều bốn hướng xung quanh, tạo nên một bộ khung vững chắc và cân đối. Ngoài các cột chính ở trung tâm được chạm khắc và tạo dáng độc đáo như chúng tôi đã mô tả, các bộ phận còn lại như kèo, trính con đội (cột trốn), ... đều được trau chuốt, gờ cạnh công phu. Ở đây con đội được chăm chút khá tỉ mĩ, phần đế toả rộng có dáng dấp như mặt hổ phù, phần thân phình ra và phần đỉnh tóp tại như một chiếc bình cắm hoa.

Nội thất chính điện chứa đựng nhiều hiện vật cổ như: hoành phi, câu đối, bao lam, hương án, khám thờ được bài trí trang nghiêm. Tất cả những hiện vật ở nội thất ngoài chức năng thờ phụng còn có giá trị về lịch sử, văn hoá và điêu khắc, tạo hình. Những mảng điêu khắc gỗ với nhiều đề tài, hoạ tiết phong phú như "tứ linh", thiên nhiên, muôn thú, hoa lá, ... vừa thể hiện được chức năng tôn giáo, tín ngưỡng thiêng liêng, nhưng cũng hết sức gần gũi với cuộc sống và sinh hoạt thường ngày của chúng ta. Chính điện còn chứa đựng nhiều văn tự Hán cổ có giá trị về mặt lịch sử, văn học dân gian, nội dung chủ yếu ca ngợi công lao, tài đức của Thầy Thím và những lời hay ý đẹp giáo dục nhân cách, đạo đức và thuần phong mỹ tục cho hậu thế. Đặc biệt, ở chính điện còn bảo lưu được những tư liệu quý giá ghi lại niên đại tu bổ Dinh chạm khắc trên thanh xà gồ, giúp cho các nhà nghiên cứu và những thế hệ đi sau có cơ sở xác định thời gian tạo dựng và tu bổ di tích này.

Sưu tầm + tổng hợp

  • Thư mục: Chung |
    Đăng ngày: 10:16 27-08-2009
    Ngày xửa ngày xưa, tại một ngôi làng nọ có đôi trai gái yêu nhau rất thắm thiết. Nàng xinh đẹp, là con gái của một gia đình giàu có, một tiểu thư khuê các, còn chàng chỉ là anh ...
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: Chung |
    Đăng ngày: 17:13 07-08-2009
    Lời bình (0) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: Chung |
    Quan trọng
    Đăng ngày: 19:25 30-07-2009
    Lời bình (1) | Trích dẫn (0)
  • Thư mục: Chung |
    Quan trọng
    Đăng ngày: 12:00 07-07-2009
    Vợ đánh mà không khóc là: Bất Khuất.Vợ Chửi mà làm thinh là: Bất Bạo Động.Tài Sản của Vợ là: Bất Động Sản.Em Gái của Vợ là: Bất Khả Xâm Phạm.Ý muốn của vợ là : Bất Di Bất Dịch.Q...
    Lời bình (2) | Trích dẫn (0)

Bình luận mới nhất

Sửa Đóng

Website yêu thích

Sửa Đóng

Website yêu thích

  • http://autopro.channelvn.net

Thống kê

Sửa Đóng

Thống kê

  • Khách hôm qua: 1
  • Tổng số khách: 25
  • lượt xem hôm nay: 1
  • Tổng lượt xem: 1077
  • Bài viết: 394
  • Hình ảnh: 8
  • Lời bình : 12

Mô-đun 4

Sửa Đóng

pets

blogTrangHa

Bài mới nhất

Sửa Đóng

Thư mục riêng

Sửa Đóng

Thư mục riêng

Lịch

Sửa Đóng
S M T W T F S
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30  

Bình luận nhanh

Đóng

Bình luận nhanh

  1. nguyenha

    nguyenha

    Chào! phutran-auto, Thùng rác mà không cần dùng tay hoặc chân... - 05:10 27-11-2009
  2. TỶ PHÚ ĐÔ LA

    TỶ PHÚ ĐÔ LA

    Kiếm tiền từ máy tính của bạn. Bạn muốn kiến tiền... - 11:34 25-11-2009
  3. VCOIN VTC

    VCOIN VTC

    Chào mừng phutran-auto đến với blog của VCOIN VTC. Web hack VCOIN... - 12:41 24-11-2009
  4. Thuy

    Thuy

    ... - 09:42 24-11-2009
  5. tuvanhuongnghiep

    tuvanhuongnghiep

    Bạn có băn khoăn về nghề nghiệp tương lai của mình không?... - 12:14 23-11-2009

Mô-đun 1

Sửa Đóng

Couter

users online

Tìm

Sửa Đóng

Tìm


 

R H
G S
B V

#