<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[Blog Tin Văn]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay]]></link>
        <description><![CDATA[Đọc kèm với www.tanvien.net]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2009/11/27 03:20:32</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[Đêm Thánh Vô Cùng]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1051]]></link>
            <description><![CDATA[
 
Chúc Mừng Giáng Sinh










Đêm Thánh Vô Cùng
Đêm Giáng Sinh, làm sao Chúa bỏ quên lũ chúng tôi! Người cũng không quên mấy đứa nhỏ: tụi nó đã sửa soạn lễ Giáng Sinh cùng với mẹ, ngay từ đầu tháng, bằng cách cặm cụi làm côngfetti, không phải để ném lên đầu nhau, mà là để bán cho người dân Sài Gòn, đông nghẹt quảng trường Kennedy, đêm Chúa ra đời. Nếu khát nước, bạn có thể vừa mua côngfetti, vừa uống ly nước trà của bà mẹ chúng, trên chiếc bàn dã chiến, di động chung quanh tượng Đức Mẹ, có khi tới tận Nhà Hát Lớn trên đường Tự Do.]]></description>
            <pubDate>2009/11/27 03:20:26</pubDate>
            <guid><![CDATA[Đêm Thánh Vô Cùng:1051]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Istanbul]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1049]]></link>
            <description><![CDATA[
Trân trọng giới thiệuRa mắt độc giả đúng vào dịp Giáng Sinh năm nay.]]></description>
            <pubDate>2009/11/27 03:16:04</pubDate>
            <guid><![CDATA[Istanbul:1049]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Tô Hoài by VTN]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1046]]></link>
            <description><![CDATA[Tô Hoài nhìn từ một khoảng cách gần
&nbsp;
Vương Trí Nhàn
&nbsp;




Những suy nghĩ về tác giả và tác phẩm

Những cuộc trò chuyện với nhà văn 

Tô Hoài nói về nghề và nói về người khác 

Người khác nói về Tô Hoài 
&nbsp;
1986
&nbsp;
Những suy nghĩ khi nhớ lại Tự truyện 
&nbsp;Một xuất phát tốt là thiên hồi ức Cỏ dại. Hình như thời thơ ấu không may mắn đã giúp cho người trai ấy có sự tỉnh táo, biết vị thế của mình trong đời. Cái gốc của Tô Hoài là một linh hồn bơ vơ. Một người thợ thủ công “cỏ dại” chính cống. Sau mới có&nbsp; một con người cán bộ -- cán bộ&nbsp; viết văn – trùm ra ngoài. 
Cái giọng riêng của Tô Hoài bắt đầu từ đâu?&nbsp;Câu văn như bước chân người kéo lê đi, lại như tiếng thủ thỉ để chứng tỏ là con người đó vẫn sống, không bao giờ chấp nhận sự cùng đường. Văn Tô Hoài không gợi cảm giác sang trọng mà thường ăn ở cái vẻ miên man không cùng; sinh động tự tin, nhưng lại vẫn có chút hậm hụi, hèn hèn tội tội như thế nào đó. Một câu trong Xóm giếng ngày xưa “Tôi vẫn quen với những nhem nhọ”.
&nbsp;
Về kỹ thuật viết 
Như nhiều người đã nói (trong đó có Hoàng Tiến), Tô Hoài mạnh nhất khi tả phong cảnh, tả những ấn tượng của người viết. Từ đoạn này sang đoạn khác, nhiều khi chuyển rất đột ngột, không đếm xỉa gì đến người đọc. Nhưng vì cái duyên, người ta bị hút ngay vào những đoạn rẽ ngang rẽ dọc đó.
Tôi nghĩ rằng Tô Hoài không biết rõ nhân vật và ông không để ý đến nhân vật bằng phong cảnh. Nhân vật của ông như người qua đường không hiện lên như những tính cách mãnh liệt muốn thể hiện ý mình, mà chỉ để làm cớ cho tác giả kể chuyện. 
&nbsp;
Các loại nhân vật 
Chỉ có một lần, Tô Hoài tả nhân vật có chí khí và có tầm nhìn xa - Dế mèn.
Chỉ có một lần, Tô Hoài tả loại người quật khởi - đó là A Phủ. 
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Còn ngoài ra các nhân vật của ông đều là là sát mặt đất; pha tạp, không thuần nhất; mặt mày nhòe nhoẹt; tồn tại theo kiểu khật khà khật khưỡng. Người ta hơi khó nghĩ khi xếp họ vào những loại người cụ thể. Nhiều người là loại tầm thường.
&nbsp;
Sự tồn tại giữa đời 
Mỗi lần nghĩ đến Tô Hoài, tôi vẫn lạ vì sao có một người khinh người rẻ của như vậy, lạnh lùng như vậy, mà vẫn sống giữa người đời rất nhẹ nhàng, và đi đâu cũng lọt. Hay là sự chân thành của Tô Hoài và người đời cũng rất thật mà tôi chưa nhận ra (Phạm Thế Ngũ trong Việt nam văn học sử giản ước tân biên in ở Sài Gòn trước 1975 coi Tô Hoài thuộc loại ngòi bút nhân hậu bậc nhất hồi tiền chiến).
&nbsp;
Một số tác phẩm 
Tự truyện cho thấy cái đời thường duyên dáng của một người làm nghề.
Nét nổi bật của Một quãng đường đoạn tả nhà văn lang thang đi ăn xin. Chất “bạc nhạc”. Những đoạn không đâu vào đâu như thế, cung cấp tốt tài liệu cho những người viết tiểu sử ông. Cho người ta hiểu thế nào là một con người, nhất là loại ta hay gọi là “nhân dân lao động”.


hóm hỉnh, gần nhân tình, nhạy bén.

ngấm ngầm ham hố, cũng đi lừa mọi người sau khi đã bị người lừa.

không thể lớn được, nhưng không chết, lầm lụi dai dẳng, để rồi lại mãi mãi sinh sôi. 
Bề ngoài có tính chất dân gian, song thực ra đó cũng là một quan niệm hiện đại về thế giới này, ở đó con người vừa có mặt, vừa vắng bóng; mọi hoạt động vừa là làm, vừa là chơi; tác phẩm vừa là tinh tuý, vừa là độn; con người vừa là cán bộ, vừa là dân thường. Dễ từ bỏ nhau, dửng dưng với nhau, như đã dễ gần gũi với nhau. 
Những con người trong đó biểu hiện rõ cuộc Cách mạng này – Nảy sinh từ xã hội cũ, họ lại là động lưc chính phủ nhận nó và lang thang đi tìm một cái gì khác dù không biết rõ cái đích mình đến. &nbsp;
&nbsp;Trong bài viết về Nguyễn Bính, Tô Hoài bảo trong đời sống văn học trước 1945, người lẫn với ma, đó là cái thời nửa người nửa ma.
&nbsp;Theo nghĩa này có thể bảo&nbsp;chính ông như một con ma, trong ông có một con người nghĩ ngược với những điều đang viết.&nbsp; Lúc nào ông cũng có nhu cầu tố giác mọi người, lật tẩy mọi người - kể cả lật tẩy chính mình. Lúc nào ông cũng đắm đuối trong một vài ý nghĩ tinh quái nào đó.
Người sùng bái sự không thiêng liêng của cuộc đời&nbsp; ̶ Tô Hoài đáng được định nghĩa như vậy.Trong Tô Hoài luôn luôn có cái xu thế muốn xúi giục chúng ta viết văn thực sự, làm người thực sự, tuy ông vẫn nghĩ:
- Như thế thì mệt lắm, mà cũng chả đi đến đâu.
&nbsp;
Trong con mắt những đồng nghiệp 
Ý Nhi kể: Ông Tô Hoài thấy cái ảnh của mình ở 45 truyện ngắn cho một câu “Mình mà cũng đẹp nhỉ. Mình như Tây thế này còn gì.”
Kim Lân: Tô Hoài là người rất từng trải, chịu chơi với anh em lắm, đâu cũng đi (mà vẫn giữ được mình). Nguyễn Đình Thi khi làm Tổng Thư ký, không dám ra quán rượu thịt chó với anh em nữa. Tô Hoài thì làm tất. Dễ dàng lắm. Rồi lại vào kiểm điểm nhau như chơi.
Thợ Rèn có ý tương tự: Ông ta sẵn sàng uống rượu, nói bậy với anh em, rồi lại đứng lên thay mặt chi uỷ, phê phán anh em.
Lê Minh Khuê nhớ lại một lần bầu Quốc hội: Gớm, ông Tô Hoài ông ấy ra tranh cử, ông ấy nói cũng chẳng khác gì xã luận hết, điếc cả tai.
Vũ Hùng: Tôi đọc Chuyện đường xa, thấy lạ. Tô Hoài viết quá nhiều chuyện mà anh không biết, ví dụ chuyện vệ tinh, chuyện bay trên máy bay, đi ngược ngày thế nào. Cái gì anh ấy không biết, anh ấy phải hỏi người khác chứ?
Trong một số truyện ngắn, Tô Hoài luôn luôn thù ghét với những người không ở cái căng ( tiếng Pháp camp&nbsp; ̶&nbsp; chỉ phe nhóm, trận tuyến) của mình. Luôn luôn thấy căng của mình mới hay ho tốt đẹp, mọi nơi khác, không ra gì!
Tôi (Vũ Hùng) thấy anh&nbsp; ̶&nbsp; Tô Hoài&nbsp; ̶&nbsp; không bằng anh Võ Quảng. Anh Võ Quảng hôm nọ bảo tôi: Nhà văn không nên để mình quá bị ràng buộc vào một quan niệm nào đó. Chỉ có một quan niệm mà, theo Võ Quảng, chúng ta phải trung thành - đó là quan niệm nhân bản.
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tô Hoài cũng có cái nhân bản của mình, chỉ có điều cái nhân bản đó, không có được cái tầm như ở những ngòi bút kiệt xuất.
&nbsp;
Mối quan hệ với đồng nghiệp 
Sau 1975, vào Sài Gòn, Tô Hoài rủ Nguyễn Tuân thăm Vũ Bằng. Nguyễn Tuân không đi, coi như không trở lại chuyện cũ. Tô Hoài đã đi thăm thật. Cũng như Tô Hoài đã lặn lội về thăm Nguyễn Bính, sau khi Nguyễn Bính mất. Hình như việc gì người khác không dám làm, thì Tô Hoài dám làm, luôn luôn Tô Hoài muốn chứng tỏ rằng mình không sợ gì cả. Trong bụng dám cho rằng mình đi với ai cũng được.
Bùi Hoà nhớ một vài lần đến gặp nhà chính khách Nguyễn Văn Bổng, lại gặp Tô Hoài ở đấy. Hai ông trao đổi cho nhau mấy quyển tiếng Pháp. Sao Tô Hoài cứ lẩn lẩn, thằng Hân cũng có cái tính hay lẩn kiểu ấy, Bùi Hoà kết luận. 
Không chừng cái cách sống ấy có ở nhiều người. Chẳng hạn như Nguyễn Kiên. Né tránh mọi người, giữ miếng, không thích bàn kỹ về điều gì cả, vì ngại bộc lộ đến cùng con người mình trước người khác. 
&nbsp; 
Con người làm bằng chất dẻo 
Chuyện ở Hội Văn nghệ Hà Nội, báo Người Hà Nội. Bằng Việt kể: Ông Triệu Bôn có vẻ vùng vằng, nghĩ rằng mình đi vắng 2 tuần, ở nhà báo sẽ chẳng ra sao. Ai ngờ, cũng xong. Tô Hoài mủm mỉm cười, làm tuốt.
Bùi Bình Thi kể về thái độ chịu chơi của Tô Hoài. Tô Hoài đang có chuyện gì đó làm mọi người bực ra mặt. Văn Linh cáu. Muốn xin lỗi, thừa lúc Văn Linh quay ra phía khác, Tô Hoài thò tay bắt tay Văn Linh từ phía sau, nắm thật chặt. Văn Linh có cáu mấy cũng đành đặt tay mình trong tay Tô Hoài.
Nguyễn Minh Châu: Tô Hoài bao giờ cũng có xu thế muốn làm vừa lòng người nói chuyện với mình. Hễ mình nói cái gì động chạm là lão chuồn ngày, lảng sang chuyện khác ngay.
Tô Hoài hỏi Xuân Quỳnh:
- Có phải cô bảo tôi là vừa đá bóng vừa thổi còi phải không?
- Vâng, em bảo anh thế đấy! (có liên quan đến một giải thưởng)
Tô Hoài không nói gì, sau vẫn gửi sách tặng Xuân Quỳnh (cuốn Nhà Chử)
Nói chung, theo Ý Nhi, Tô Hoài tỉnh bơ như không, khi nghe người khác chỉnh mình, cười mình, vạch cái xấu của mình. Tôi nghĩ, ông như có cái khoá tốt, khoá tạch lại một cái, thế là mọi ý kiến về ông ở ngoài.
Theo nghĩa rộng, Tô Hoài rất khớp với xã hội Việt Nam hôm nay. Đọc lại Tự truyện, thấy tưng tức. Người tài quá, mà lại cũng khinh người rẻ của, ma giáo quá. Dương Thu Hương: Lão Tô Hoài là loại Hà Nội móc cống, xích lô, chứ đâu có chất quý tộc như dân Hà Nội thực thụ.
&nbsp;
Một kiểu làm ăn tùy tiện
&nbsp;Thỉnh thoảng liếc qua báo Người Hà Nội, tự nhiên thấy nhếch nhác quá. Mà do Tô Hoài làm đấy. Từ người phụ trách báo đã khinh thường tờ báo của mình biết bao.
Một lúc nào đó tôi buột miệng nói: nếu tất cả chúng ta đều là cặn bã, thì loại như Tô Hoài vừa là cặn bã của xã hội cũ, vừa là cặn bã của xã hội mới.
Đọc lại bài viết Núi Cứu quốc (Nguyễn Đình Thi), thấy có câu “Tô Hoài thú Việt Bắc nhưng không yêu Việt Bắc.”
Có lẽ với cả cuộc đời này cũng vậy, Tô Hoài đâu có yêu. Một mặt, đó là người chả có nguyên tắc sống gì (dân ngoại ô không có nghề chuyên, chỉ đi làm thuê, việc gì cũng có thể làm; người ta chỉ thuê một lần, sau này cũng chả nhớ mặt nhau nữa). Mặt khác, đó lại là một cán bộ biết vươn lên trong xã hội, cũng thích công danh lắm.
Phan Thị Thanh Nhàn bảo: Bây giờ Tô Hoài vẫn bảo là không phải làm báo cho bạn đọc, mà là làm báo cho tuyên huấn họ đọc. 
Nhàn: Tôi ngờ rằng lúc vào nghề, ông Tô Hoài đã bị những người trong nghề coi thường lắm nên bây giờ ông ta mới lang thang đủ nơi mà chẳng dính vào nơi nào hết. Kim Lân: Không, căn bản là vì Tô Hoài rất chịu chơi, lúc nào cũng sẵn sàng đi chơi với mọi người, tuy chẳng để làm gì, chẳng để yêu bạn bè hơn, nhưng cứ thích đi.
&nbsp;
Nói về người khác 
&nbsp;Thường chỉ cần một hai câu, Tô Hoài cũng đủ giết người ta rồi.
- Con người ta thật là buồn cười. Như cô Tú bây giờ, lúc nào cũng nói “in được một bài thơ, đối với tôi bây giờ, còn sướng hơn in một tập truyện ngắn”.
- Không ngờ đời sống làm cho ông Thông ông ấy đổ đốn như vậy chứ hồi ở Việt Bắc, ai cũng yêu nhớ. Trẻ này, chịu học này, đọc được cả chữ Hán lẫn chữ Pháp, nên cần gì là nghiên cứu được cái ấy, mà lại đặc biệt tín nhiệm về chính trị nữa. Mình vẫn ngờ cái loại nhà văn về Hà Nội bằng con đường Thái Nguyên. Ít nhiều vẫn có chất tỉnh lẻ của nó!
Tô Hoài kể về một kiểu người nhạt nhẽo.
- Chả là tôi cũng là loại tác giả được phân công có người chuyên môn theo dõi. Người ấy chính là cô X. Một hôm cô ấy bảo tôi “Em nghe người ta bảo anh với chị bằng mặt nhưng chả bằng lòng, mà anh lại lòng thòng với chị N. phải không?” “Mồm thiên hạ vẫn thế. Hay là để tôi gọi nhà tôi lên cho cô tin nhé!” “Nghĩa là không có gì?” “Toàn chuyện vớ vẩn đồn thổi!”. 
Thế là cô ta sung sướng như chính cô ta được minh oan. “Có thế chứ, có thế chứ!”
Về sau, Nguyễn Kiên bình luận: Ông Tô Hoài vẫn có cái lối đóng kịch kiểu ấy. Cứ làm như mình sòng phẳng lắm ấy!
&nbsp;
&nbsp;Nói về chữ nghĩa
- Tôi thấy luôn luôn người ta có thể viết cho gọn hơn. Từ 5 dòng, tôi có thể co lại, còn độ 3 dòng, hay 2 dòng. Trong ba chữ một cái đèn, thể nào cũng có thể xoá bớt, chỉ còn hoặc là một đèn, hoặc là cái đèn.
Tôi (VTN) nghĩ: đi mà xoá văn Nguyễn Tuân!
Nhưng một phát hiện khác của Tô Hoài thì có thể chấp nhận được:
- Cái bài Chữ và câu văn của tôi còn có đoạn nói đến biền ngẫu ở Nguyễn Khải. Thế mới biết biền ngẫu nó vào mình tự nhiên thật ( đoạn chê này, đến lúc in, thì trường Nguyễn Du, nơi in tập sách có bài Chữ và nghĩa nói trên họ xoá hết!)
&nbsp;
Tầm vóc văn chương
&nbsp;Đọc những nhà văn lớn ở nước ngoài, thấy rõ người ta định lớn - người ta muốn cạnh tranh cả với Chúa! Các nhà văn Viẽt Nam ở trình độ khác. Từ Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân tới Xuân Diệu Tô Hoài, luôn luôn ở người ta chỉ có cái ao ước là tìm ra một chỗ đứng trong đời sống, len lỏi để có thể bám trụ được, và từ đó nhìn ra với nụ cười hể hả: ta không chết.
&nbsp;Và nỗi lo lớn nhất là cạnh tranh với các đồng nghiệp ghi điểm trước đồng nghiệp.&nbsp;
Đọc lại truyện ngắn viết trước 1945, thấy nhà văn này có lý để tự kiêu, truyện rất hay, tự nhiên. Có một chút gì đó thanh thoát hơn các truyện của Nam Cao nữa. Nhưng thấy Tô Hoài ảnh hưởng đủ thứ kể cả Nguyễn Công Hoan (truyện Ma đè).
Ý nghĩa xã hội
Đọc Tô Hoài, thêm hiểu tại sao lại có Cách mạng tháng Tám. Tình cảnh dân ta trước 1945 khá rõ.
- Một xã hội đẹp nhưng quái gở. Đàn bà quyết định tất cả (truyện Một người đi xa). Thế nào người ta cũng có lý, cũng nói được.
- Một xã hội quá tù túng. Những yếu tố lạ, nhưng yếu tố ánh sáng, có le lói đến ( những đoạn tả người ở quê ra tỉnh, người ở tỉnh về) những chưa giải quyết được bế tắc. Tỉnh thành phố xá nào có ra gì, cũng buồn bã, yếu đuối, không đủ sức phá vỡ sự tẻ nhạt của nông thôn công xã.
Những trang Tô Hoài tả việc lên phố của mình (trong Cỏ dại), câu chuyện lên Hàng Mã ở, sao vẫn chỉ như là dấu hiệu cho thấy một sự bất lực. Ngưng đọng, trì trệ là đặc điểm chính của những xóm ngoại ô này. Có cố thì cũng đến thế thôi.
Có cả những bệnh không chữa mà khỏi, lẫn những bệnh không bao giờ chữa khỏi. Có cả những ao ước mơ hồ, lẫn lời hứa phiệu ngay từ đầu đã không ai tin.
Tô Hoài hay có lối tả con người dù đã qua nhiều bước phiêu lưu, vẫn trơ lại trước mọi tác động, con người mặc dù có vẻ rất nhạy cảm nhưng cuối cùng đâu vẫn đóng đấy, nhân vật đi qua cuộc đời mà rút cục mình vẫn là mình.
&nbsp;
Niềm tự tin
Lại Nguyên Ân kể về một ông bán sách cũ: bán ra thì rất đắt, coi như sách của mình đi khắp cả nước tìm không ra; mà mua vào thì nhìn dửng dưng, nhạt nhẽo, y như không cần, nhìn sách bằng nửa con mắt.
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi muốn mượn mấy câu này để nói về “thần thái” của Tô Hoài. Trong Tô Hoài có chất của dân buôn bán Bắc bộ, nghèo nàn, chắc lép; lại có chất của dân công chức thuộc địa, cốt làm xong việc lấy lương, còn đâu kệ thằng Tây; có triết lý của người người hư vô, thây kệ đời bởi hiểu mọi cố gắng chỉ vô ích, vậy thì cứ sống cho thoải mái, đến đâu hay đến đấy. Tô Hoài là một hãng hàng thật hàng giả đều làm được, cũng biết người biết của, mà nhìn chung đối với sự đời chả coi cái gì ra gì hết.
&nbsp;
Những năm chín mươi
&nbsp;
1/1990
Một chuyện đáng nhớ ở Đại hội nhà văn III: Tô Hoài mai đi Le Caire Ai Cập họp Hội nghị Á Phi rồi, hôm nay vẫn giữ tên trong danh sách bầu chủ tịch đoàn. Phan Hồng Giang tố ra giữa hội trường để còn dành chỗ cho người khác. Ai cũng nghĩ ê cả mặt.
&nbsp;Nhưng Tô Hoài coi như không có chuyện gì xảy ra. Sau Đại Hội vẫn đến Hội Nhà văn. Nghe đâu, số Tác phẩm văn học này, lại có bài điểm sách Tô Hoài.
Sức sống của nhà văn này cho tôi hiểu thế nào là sự phong phú của con người, nhất là loại người từng trải. Có thể nói ở mỗi con người loại này có những con người khác nhau. Trước công việc, một con người khác – đôi khi là Chúa – chi phối anh ta. Trong khi đó, thì ngoài đời, anh ta vẫn tiếp tục phiêu lưu, lang thang, hưởng thụ, hư hỏng.&nbsp;
Phan Thị Thanh Nhàn kể: Ông Tô Hoài làm ở cơ quan báo, lại Hội nữa, ăn hai lương như Bằng Việt, mà chả bao giờ đến cơ quan cả. &nbsp;
Theo Nguyễn Kiên, cái vụ Đại hội thì dơ thật. Nguyễn Kiên giải thích thêm, sở dĩ lúc bấy giờ ông Tô Hoài còn nấn ná chờ có được chút gì không, theo mình biết là vì ông nghe rằng hình như trên sẽ can thiệp vào Đại hội, nhân sự sẽ do trên xếp, và như vậy, thể nào ông cũng có phần. Ấy, kinh nghiệm xưa nay vẫn là như thế, chỉ có điều lần này kinh nghiệm đó không đúng nữa.
...
Nhân chuyện gì đó (à, chuyện về tạp chí của Hội), tôi bảo:
- Hình như ông Tô Hoài sẵn sàng làm.
&nbsp;Nguyễn Kiên: 
- Ông ấy thì cái gì chẳng nhận. Rồi cũng chẳng làm mà cũng chẳng bỏ, nghĩa là làm cứ như đùa.&nbsp;
Ngày thứ ba 20/2, Hội đồng văn xuôi họp. Nghe anh em kể thì Tô Hoài giở giọng ngang phè (Ma Văn Kháng gọi là “giả lão, bán lão”, cậy mình là già, lợi dụng tuổi già của mình) :
- Tôi bây giờ chả sợ gì nữa. Ông Tố Hữu còn sợ, tôi chẳng sợ.
- Đọc báo là tôi cứ tìm cái dở nhất tôi đọc. Đọc thơ. Mà lại thơ Huy Cận, thơ Nguyễn Xuân Sanh hẳn hoi. Toàn thơ in theo chiếu mà, nên muốn hiểu ai lên ai xuống ai đứng yên mình phải đọc .
- Thời buổi bây giờ hỗn loạn, bỏ cái minh hoạ hôm qua, thì lại minh hoạ cho cái đổi mới hôm nay.
- Thì những giải văn chương trên chính trường bây giờ, như giải Nobel, nó cũng đều là chính trị cả.
Có một chút gì trơ tráo trong tất cả những lời bộc bạch đó. Anh em người ta cãi lại, anh mà không minh hoạ à, anh mà không có chiếu à, chiếu lớn là đằng khác. Anh bảo giải Nobel chính trị, thế giải Bông Sen của anh (Phạm Thị Hoài: Bông Sen hay Hoa Sen tôi cũng không biết nữa), mà không chính trị à?&nbsp;
Nghe Đỗ Trung Lai nói lại, Bằng Việt bảo phải cho Tô Hoài về hưu thôi, Tô Hoài cũng 70 rồi (Bằng Việt vẫn là nhân vật số 1 của Văn nghệ Hà Nội ).
Chắc có lẽ thế, nên Tô Hoài chạy vạy đủ các nơi.
Hoàng Cầm: Tô Hoài đúng là một con chuột ngày, khôn lắm. Khi mà Tô Hoài muốn lấy lòng mình, lão rất khéo. Để rồi sau đó, lại phản ngay được.
&nbsp;
19/6/90
Loại như Tô Hoài -- đó là sản phẩm của quá trình dân chủ hoá trên thế giới này (quá trình dân chủ hoá tất yếu mà Likhatchev đã có lần nói tới cũng là một xu thế chung của văn học mình, từ thế kỷ XX ). Nhưng dân chủ mà thiếu phần quý tộc, chỉ là dân chủ trong tầm thường, nhảm, thấp.
&nbsp;
11/7/90
Ngồi cạnh Tế Hanh nghe ông nói với ai đó rồi quay sang gật gù bảo với tôi :
- Anh Tô Hoài còn trẻ mà nhanh nhẹn lắm.
Tôi máy mồm, không kìm được, độp luôn: 
- Nhanh nhẹn và tham lam nữa, nên đúng là trẻ thật.
Nguyễn Đình Nghi:
- Tô Hoài thường bảo rằng Tự lực văn đoàn không trả tiền mình. Nói thế chỉ là thấy việc nhỏ mà không thấy việc lớn. Lệ hồi ấy, ai mới gửi mà được đăng lần đầu đều không trả tiền. Còn về truyện Con gà ri (khi đăng trên Chủ nhật còn giữ cái tên là Mê gái – V.T.N.). Bố tôi là người đọc văn xuôi. Có đống bản thảo, tôi biết đã định loại đi, nhưng thấy tiếc moi xem lại lần nữa. Phát hiện ra truyện của Tô Hoài, thế là ông thuê xe lên ngay nhà Thạch Lam và hai ông cho đăng ngay ở số gần nhất. Sao lại bảo là ông vô trách nhiệm được.
(Cũng Nguyễn Đình Nghi: Đừng tưởng như Nguyễn Công Hoan mà là chân thực đâu. Trong Đời viết văn của tôi cũng khối chỗ nói dối!)&nbsp;
Người ta kể rằng, ở Hội nghị của Hội đồng văn học thiếu nhi, Văn Linh chửi ầm lên: Tôi chán các thứ hội đồng này lắm rồi. Lúc nào cũng từng ấy mặt chẳng nhẽ không ai thay được à? 
Quang Huy cũng phụ hoạ cái giọng đó. Nhưng Tô Hoài kệ.&nbsp; 
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong đầu óc mọi người ở Hội, Tô Hoài vẫn là một nhân vật không thể thiếu. Khi người ta có ý định lập ra tạp chí Văn học nước ngoài, thì ông Tổng biên tập mà người ta nghĩ tới lại là Tô Hoài.
Một buổi tôi ngồi nói chuyện với Hách, Khuê.
Hách: Mình còn nhớ lần đầu thằng Trần Ninh Hồ nó gặp ông Tô Hoài về, nó bảo ông ấy ghê lắm, hạch đủ thứ.
Khuê: Tôi viết cái truyện gì này này, nói về một nghệ sĩ. Ông ấy bảo đừng có viết về nghệ sĩ. Hãy viết công nông ấy.&nbsp;
Nhân bàn về thân phận, tôi nói đùa:
- Từ công việc của Tô Hoài đôi khi thấy toát lên cái ý văn nghệ phải được quan niệm như một công việc nhăng nhít, và người làm văn nghệ quá nhiều tay nhảm nhí. Mà người tài nhất trong cái đám nhảm nhí này trước cách mạng có Nguyễn Bính và có Tô Hoài. Nhưng mặt hàng Tô Hoài đa dạng hơn.
Trong bài Chữ và tiếng nói sách Sổ tay viết văn trang 119, bản in 1960, Tô Hoài nói về nghề: Người viết văn như cái cửa hàng bách hoá, càng nhiều mặt hàng càng dễ chạy.
&nbsp;
14/4/1991
Vũ Quần Phương kể: Ông ấy khôn lắm, không có cái gì bỏ qua, nhưng không dính vào việc gì cụ thể cả. “Lúc nào cần vắng thì tôi vào viện. Ở tuổi tôi thiếu gì bệnh để nằm viện”. Chính ông ấy nhận như thế.
(Bùi Bình Thi có lần nói: Tô Hoài như một con rán, đặc biệt nhạy cảm với mọi tình thế.)
Cơ quan có cô N. làm văn phòng. Ông Tô Hoài dùng nó, nể nó. Đùng một cái, nó xin vào Hội. Anh em thấy chuế, ông Tô Hoài cũng thấy chuế. Cho nó vào thì ra làm sao nữa.
Có người như Bằng Việt nói thẳng, thôi N. ơi chờ chút đã, để bọn này viết cho N. mấy cái truyện hoặc mấy bài thơ rồi ký tên N. đã, N. hãy vào. Nhưng N. nó không chịu.
Đến ngày Ban chấp hành bỏ phiếu thì ông Tô Hoài vắng một cách cố ý.
Ấy, ông cứ sợ một đứa khùng dại như vậy để rồi có lúc ông coi thường cả một đại hội.
&nbsp;Người khác tham lộ mặt. Ông ấy thì lẩn khuất kín đáo. Khi có hai bên tranh nhau thì ông ấy nhường ngay. Chỉ khi nào, ở chỗ nào không ai để ý, ông ấy mới bổ nhào, và người ta phải chịu.
Cái mà tuổi tác mới dạy cho ông ấy chăng? Không, từ trẻ ông đã thế.
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Là cái mà văn hoá Việt Nam nó thấm vào ông nữa.
&nbsp;
19/7/1991
&nbsp;
Con người trong Tô Hoài
Đọc lại Dế mèn. Đúng là có một tính cách, sự khao khát, ý tưởng hành động. Nhu cầu muốn làm việc lương thiện. Sự sòng phẳng, chấp nhận những lầm lỡ của con người mình.
Tính cách kiểu Dế mèn là tính cách thông thường của con người lập nghiệp, tuy không có cái sắc cạnh, cái quá đáng, cái gần như không thể bộc lộ được. Lại cũng đã bắt đầu thích chức vụ xã hội.
Nhưng ngoài Dế mèn, thì các nhân vật khác đều lặt vặt không có con người nào như Dế mèn. Trong truyện Tô Hoài trước cách mạng, loại con người hiện ra vớ va vớ vẩn đông hơn nhiều.
Trong một phiếm luận, tôi đã từng chứng minh những variant khác nhau mở ra trước nhân vật Tô Hoài trong việc mưu cầu hạnh phúc. Có vẻ như Tô Hoài muốn đưa ra cả loạt, một cụm mà lại không có một phương án nào là rõ rệt.
Tô Hoài không thật yêu một con người nào, một kiểu tính cách nào. Các loại nhân vật chỉ để vẽ phác, và đều nham nhở. Nhân vật không có những khao khát lớn. Nhân vật không có cái đắm đuối như các nhân vật của Nguyên Hồng. Bước đi loạng choạng, ý định thú tội – nhớ có một nhân vật Nguyên Hồng được tả như vậy. Gắn liền với ý thức về tội lỗi, khao khát chuộc tội. Sự thông cảm kỳ diệu với thiên nhiên, thấy ở đó một biểu hiện của Chúa, những cái ấy có ở những trang đặc sắc nhất của Nguyên Hồng.
Cuộc đời trong Tô Hoài thì lẩn mẩn rất nhiều chi tiết mà người bình thường quen thuộc nhưng lại hay bỏ qua. Đọc Tô Hoài người ta có thích thú nhưng không sửng sốt. Nhân vật trong Tô Hoài thiếu hẳn bản sắc riêng, cái thật nổi trội kỳ lạ. Có vẻ như họ sát ngay mặt đất, họ dễ lẫn đi giữa những người khác.&nbsp;
&nbsp;Nguyễn Kiên: 
- Tôi và Tô Hoài cũng là một thứ bạn vong niên. Hồi tôi còn ở chỗ 65 Nguyễn Du, ông Tô Hoài cũng hay đến chơi, thủ thỉ đủ các chuyện vẩn vơ. Gần đây tôi chỉ nghĩ sao mà bố mày liều thế, viết bừa viết phứa, có mỗi cái Hà Nội cũ mà viết mãi thôi.&nbsp;
Vào những ngày này (10/1991) Tô Hoài đang khoe là có một cuốn hồi ký mang tên Cát bụi chân ai kể lại chuyện Hội Nhà văn 1957-1987
Báo Tiền Phong Chủ Nhật đã trích đăng hai kỳ về Nguyễn Bính, bài viết cho thấy hình ảnh một Nguyễn Bính rạc rài rất đáng thương mà cũng đáng giận.
Lạ thật, một mặt thì Tô Hoài rất tiêu biểu cho lối làm việc của nghệ sĩ Việt Nam, loanh quanh tả cái cây cái lá với những chuyện vặt vãnh. Mặt khác, ông lại là người có lối làm việc của nhà văn hiện đại. Ông sớm viết hồi ký, viết ngay từ hồi 22-23 tuổi - tập Cỏ dại. Hình như ông hoàn toàn hiểu rằng nhà văn còn biết viết về những gì khác ngoài chính mình nữa!&nbsp;
&nbsp;Bên cạnh cái phần đôn hậu, sự ma mãnh là một thứ bản chất thứ hai Tô Hoài, nó giúp cho ông tồn tại nhưng cũng kéo thấp ông xuống.
- ma mãnh nghĩa là sẵn sàng làm bậy, nói dối, viết ẩu, len lỏi để sống.
- ma mãnh nghĩa là cứ tự nhiên mà thành, mưu mô lặt vặt xoay xở tầm thường cũng là tự nhiên, và không đủ sức vươn lên thành trí thức, vươn lên trong kiến thức, sách vở, phiêu lưu vào những khu vực thiêng liêng của đời sống tinh thần.
&nbsp;
1/1/1992 
Về quyển hồi ký Cát bụi chân ai
Từ hồi gặp nhau ở Moskva, Tô Hoài đã nói với tôi về ông Tuân, phải viết về ông ấy, viết chứ, nhưng không phải là kính viết mà viết một cách như là vẫn sống với ông ấy vậy. Lại Nguyên Ân thì lại còn được Tô Hoài rót vào tai đại ý là sẽ viết về một thế hệ các ông ấy gặp chủ nghĩa Mác như gặp một cái quán, tiện chân là vào, thế thôi.
Đọc trích đoạn Cát bụi chân ai trên báo Tiền Phong, cứ tưởng Tô Hoài viết theo kiểu Ehrenbourg, viết cho mỗi người một chương. Nhưng không phải. Cả quyển viết về Nguyễn Tuân. Mở đầu bằng câu tôi kém Nguyễn Tuân 10 tuổi. Và đến cuối là đoạn có người đến báo Nguyễn Tuân chết. Theo cách trình bày của Tô Hoài, thấy ông không định viết Nguyễn Tuân cho sang mà kéo Nguyễn Tuân gần với mình, để rồi, cũng vẫn không quên cái điều căn bản, thực ra Nguyễn Tuân là Nguyễn Tuân mà mình vẫn là mình. Cái hiện tượng Nguyễn Tuân với Tô Hoài không gì khác, là chính văn học, là chính đời sống, chúng ta không lựa chọn cuộc đời này, ta sống với nó, vừa hăng hái thiết tha, vừa uể oải chán chường. Chưa bao giờ, chưa ở chỗ nào, tôi thấy Nguyễn Tuân như ở đây, nghe giọng toàn là thứ thiệt cả. Mặc dù luôn luôn nghi ngờ Tô Hoài, cho Tô Hoài là khôn, ranh, giấu mặt, song Nguyễn Tuân vẫn không bỏ được Tô Hoài, vẫn thấy đấy là một phần của cuộc đời mình. Theo cách nhìn của Tô Hoài, ở con người khinh bạc ấy, vẫn có biết bao tha thiết. Nguyễn Tuân hiện ra không như người ta nghĩ - hoặc có ác, thì cũng là ác một cách rất hiền lành, giời sinh ra bởi lẽ cá nhân thì phải làm cách vậy, chứ đâu có vô lương tâm. Khỉ thật, cái việc mà Tô Hoài từ Tây Bắc về Hà Nội, Nguyễn Tuân phải đi tiễn mãi, rồi thư từ cho Tô Hoài nữa, đọc đầy lý thú. Hoặc cảnh họ lang thang ở phố xá Hà Nội. Chiều chiều gặp nhau ở một cái quán, trong chốc lát mà thấy cả đời. Suốt bao năm tháng, ý tứ mà sống với nhau, anh nào lo niêu cơm anh ấy, nhưng cũng nên sống cho người khác một tí nữa. Nhớ chi tiết Nguyễn Tuân cho Tô Hoài uống rượu, rót xong là cất chai đi. Lại nhớ cái cảnh Tô Hoài đến Nguyễn Tuân đi vắng, lúc chủ về, thấy khách ngồi đấy, hỏi một hai câu, tỏ ý khó chịu rồi lăn ra ngủ. Cái tài của Tô Hoài là tả, tả kỹ, khiến cho mình tin một con người như vậy, và nhất là tin rằng cuộc sống chỉ là một cái gì bình bình, xoàng xoàng, không nên cao giọng mà nói, mà quát (gần đây, gặp tôi, nhân nói chuyện về Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử cũng không quên nói rằng ông Mạnh nhiều khi cao giọng đấy, chả vừa đâu). Đoạn cuối, tả Nguyễn Tuân già yếu, bất lực, tiếc đời, lụn bại, đúng với tình thế một người hết thời, nhưng cũng cho thấy một cuộc đời qua đi, chớp mắt một cái, thế là đã xong hết cả. Nhưng mấy hôm nay, người trong giới bảo nhau (tôi nghe Nguyên Ngọc bảo) là sách không in được đâu, trên chưa định thanh toán cái hoá đơn này đâu.
&nbsp;Tô Hoài: Nhưng ở tuổi tôi, tôi phải viết thế chứ còn gì nữa!&nbsp;
&nbsp;





Phụ lục &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
&nbsp;
CON MẮT TÔ HOÀI BÓNG DÁNG NGUYỄN TUÂN(Đọc Cát bụi chân ai )
&nbsp;
Khi được mời viết hồi ký, không ít nhà văn ở ta thích trả lời: Khi nào già tôi sẽ viết. Nhưng trong phần lớn trường hợp, họ không giữ được lời hứa. Hoặc giả, theo nghĩa đen, không đủ sức thực hiện ý định. Hoặc giả theo nghĩa rộng, già cả, cũ kỹ đi, chỉ sợ người ta quên, nên khi viết ra sức tô vẽ cho mình. Những thiên tự thuật kiểu đó đánh mất đi gần hết giá trị chúng có thể có.
Về phần mình, Tô Hoài quan niệm hơi khác. Ông viết hồi ký từ khi còn rất trẻ. Cuốn Cỏ dại ra đời năm 1944 khi ông mới 24 tuổi.
Bước sang tuổi năm mươi, ông công bố Tự truyện (in báo từ 1971, in thành sách 1978, từ đó về sau nhiều lần tái bản ). Nay ở tuổi bảy mươi, ông lại có Cát bụi, chân ai. Sống đến đâu, viết đến đó - dường như ông muốn nói vậy. Và các cuốn hồi ký của ông chỉ tự nó trần trần đối diện với bạn đọc, người viết ra nó không cần nhân danh tuổi già, nhân danh năm tháng, kinh nghiệm để... “bắt nạt” ai cả.
Một cách nhìn, một cách viết
Thông thường ở ta hồi ký được hiểu là những cuốn sách người viết tự kể về đời mình. Có nói về những người khác cũng là nhân tiện mà nói, nói tạt ngang cho đậm câu chuyện. Hồi ký của Đặng Thai Mai hay Những năm tháng ấy của Vũ Ngọc Phan. Từ bến sông Thuơng của Anh Thơ hay Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng v.v đều chung một kiểu viết như vậy. Cho tới Tự truyện Tô Hoài cũng không ra ngoài thông lệ vốn có.
Chỉ tới Cát bụi, chân ai, nhà văn mới tạo cho thể tài một sự xô đẩy nho nhỏ. Khi còn trích in trên báo, người ta tưởng đây là loại hồi ký với nhiều chân dung liên tục xuất hiện, trong đó, mỗi người bạn từng đi lại thân quen với tác giả được ông dành riêng một chương: Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Xuân Diệu. Nhưng đọc cả quyển mới vỡ nhẽ ra Tô Hoài viết về Nguyễn Tuân là chính, chẳng qua học theo A. Malraux (trong Phản hồi ký) ông cũng gặp đâu viết đấy, nên ngòi bút mới đôi khi sa đà viết thêm về những người khác ít trang. Vẫn là hồi ký - chân dung, nhưng Cát bụi chân ai là bức tranh truyền thần khuôn mặt Nguyễn Tuân, như Tô Hoài được biết, một thứ Nguyễn Tuân nhìn gần ở khoảng cách rất gần, không bị tô vẽ, bị thiêng liêng hoá, có điều không vì thế mà mất đi vẻ khả ái và nhất là những nét đáng thông cảm.
Chỗ giống người của &quot;kẻ khác người&quot;
Tuy luôn luôn không quên điểm xuyết đôi nét về con người Nguyễn Tuân giai đoạn tiền chiến, thậm chí đi ngược lại mãi về một thời rất xa, khi Nguyễn Tuân cùng một người bạn định trốn qua Xiêm theo đường Campuchia rồi bị bắt, nhưng trên nét lớn, Cát bụi chân ai là để nói về cuộc đời dấn thân của Nguyễn Tuân như Tô Hoài biết từ sau 1945 tới nay. Đường đời sự nghiệp khác nhau, tâm tính càng không giống nhau, vậy mà giữa hai người đã có chung bao kỷ niệm. Hồi kháng chiến chín năm ở chiến khu sống chung trong một cơ quan đầm ấm, thân mật. Lần theo bộ đội vượt sông đánh đồn. Những năm tháng sau hoà bình 1954, đời sống văn nghệ Hà Nội ngổn ngang bao chuyện. Dăm chuyến đi dài lên các tỉnh miền núi phía bắc những năm chống Mỹ hào hứng, lý thú cũng có, mà giá lạnh đơn độc cũng có. Ai người quen nghĩ Nguyễn Tuân khinh bạc, ích kỷ nghênh ngang tự thị sẽ tìm thấy ở đây, qua những chi tiết rất thật, những giây phút Nguyễn Tuân cũng rất nồng nàn quý trọng tình nghĩa, cũng chi chút trong từng việc nhỏ của đời sống gia đình và của sinh hoạt văn nghệ. Hơn thế nữa, Nguyễn Tuân cũng yếu đuối, cũng làm dáng, điệu bộ, và cũng biết sợ như bất cứ ai. Cái tài của Tô Hoài trong cuốn hồi ký này là ở chỗ phác ra rõ rệt những nét độc đáo trong tính cách Nguyễn Tuân - một câu tiêu biểu “Ô hay, người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ” (tr. 7) - song vẫn cho thấy tác giả Vang bóng một thời thực ra rất gần với chúng ta, với tất cả những phiền luỵ tầm thường, những hy vọng dang dở, những trái khoáy vô lý... của kiếp người. Đã bước trong đời thì hỡi ai kia, chân người rồi cũng lẫn trong cát bụi như mọi chúng sinh mà thôi, nhất định là thế, không thể nào khác, không phải vì thế chúng tôi xa lạ, ngược lại, cát bụi khiến chúng tôi thêm gần gũi với người biết mấy!
Niềm cảm khái cuối cùng
Nhưng dẫu sao, Cát bụi chân ai vẫn là một cuốn hồi ký. Dù bóng dáng của Nguyễn Tuân có trùm lên cả quyển sách, thì cạnh đấy, vẫn hiện lên mồn một cái bóng dáng chính của người viết, một Tô Hoài lịch lãm, ý nhị, bắt vở hết các bậc đàn anh, biết thóp đủ mọi chuyện, khinh bạc, đáo để, song cũng lại biết thiết tha với từng chi tiết trong cuộc sống hàng ngày, lại càng tha thiết trước một chén rượu quý, mấy câu tâm sự bâng quơ, những lá thư cảm động. Công bằng với Nguyễn Tuân cũng tức là Tô Hoài có được công bằng với giới văn nghệ. Dẫu sao, những người này cũng đã có mặt trong suốt cuộc đời tác giả, cùng ông chia sẻ vui buồn, và suy cho cùng, giá mà chẳng tốt hơn, thì họ cũng chẳng xấu hơn những người khác. Với sự chính xác của một thứ bộ nhớ điện tử, đầu óc Tô Hoài thường khi nhớ lại vặt vãnh đủ chuyện. Ngòi bút ông sau những khoáng đạt chơi vơi với những cảnh tượng hùng vĩ ở miền núi, lại thản nhiên, thủng thẳng, mà vẫn không kém sinh động, quay về dựng lại những phút vắng lặng trong câu chuyện mấy bạn tri kỷ, giữa một hàng quán xô bồ của chốn thị thành.
Còn như cảm hứng cuối cùng về cuộc đời? Ở cuối chương Một chặng đường (in trong Tự truyện) Tô Hoài viết: “Trên sóng cát cuộc đời, mình đã từng sống cái kiếp phong trần, vào đâu nên đấy, của con phù du”. Ở cuối Cát bụi chân ai lại vẫn cái giọng mệt mỏi và biết điều ấy “Tôi ngồi lại đây trông vào mịt mùng nhìn thấy xa lắc xa lơ một thời đã qua. Âu cũng là cái nhộn nhạo được khuấy động chốc lát”. Tiếp đó là cái hình ảnh có sức khơi gợi: “Bãi tắm Cát Cò. Hai bên vách đá thẫm đen, không có bóng người. Con kỳ đà đủng đỉnh bò ra giữa đường hầm, bạnh mang, rướn chân nhìn quanh rồi lại nép vào mép những tảng đá... Vết chân người lẫn chân con kỳ đà in vân vân trên cát”. Một chút hư vô bàng bạc ở đây chỉ làm rõ thêm ấn tượng đã toát ra từ cả cuốn sách, ấy là dù hay dù dở thì tác giả cũng đã viết nó bằng sự thành thực và toàn bộ kinh nghiệm sống của mình, nên chi, nó đáng được đối xử một cách trân trọng và cả độ lượng nữa.
Bài in trên TT&amp;VH 1993, 
in lại trong Chuyện cũ văn chương 2001
&nbsp;
&nbsp;
&nbsp;
12/1/92
Tô Hoài là người thế nào? Tôi nói đùa, là người ngồi cùng mâm với mình ông ấy nhã nhặn, lịch thiệp lắm. Nhưng mình quay đi là ông ấy gắp tuốt.
&nbsp; Ông ấy dám làm cả những việc không ai dám làm.
Ở Hà Nội, có việc Trần Quốc Vượng đi Mỹ nói bậy, bị trên ghét. Có chỉ thị bảo là phải đến vận động để Trần Quốc Vượng rút ra khỏi Chủ tịch, hay Phó Chủ tịch gì đó, Hội sử học Hà Nội. Ai cũng sợ phải đi làm việc đó, chỉ có Tô Hoài là không sợ, cứ đi như thường.
Lại nhớ cái chuyện Nguyễn Khải kể từ hồi chống Mỹ. Nhà văn N. T. được một cái giải của bên Tổng công đoàn, nhưng giăng giện với ai đó bị người ta kêu, nên phải cắt giải. Nhưng đã chót gửi giấy mời đi rồi. Ngày phát giải , ban tổ chức lo, không biết làm thế nào. Tô Hoài bảo để tôi làm cho. Tô Hoài đứng đón ở cổng. Khi N.T. đến, Tô Hoài ra nói hai ba câu, thế là bà này giắt xe về. Hỏi nói gì mà tài thế thì Tô Hoài cười, tôi chỉ nói là cô về đi, họ nhầm đấy, thế là về thôi chứ sao nữa ! 
&nbsp;
31/1/1992 
Nói chuyện với Phấn Đấu về Tô Hoài:
- Thỉnh thoảng tôi cũng có dịp ăn uống với Tô Hoài, nhiều người đâu đâu rủ, Tô Hoài cũng đi. Phải nhận là ông ấy giỏi né tránh thật. Cứ có chuyện gì quan trọng là tránh hết. Rất hay cáo giữa buổi, đang chuyện dở thì bỏ về, bỏ một cách đột ngột.
- Anh em nó kêu là cô Thanh Nhàn hay quên bài lắm, Tô Hoài bảo ngay, chính cô ấy, cô ấy cũng quên nữa là bài với vở.
Tô Hoài cho in bài Sám hối bị anh em kêu. Cô Nhàn thích lắm, nói toang toác lên, ra cái điều mình làm cũng sai, mà Tô Hoài cũng sai, lão có hơn gì mình.
&nbsp; Tô Hoài cao tay hơn hẳn. Ông cũng lớn tiếng nói trong cơ quan, rằng đúng là có người kêu nhưng phải xem người kêu là ai đã, chứ cứ doạ tuyên huấn, tuyên huấn, thì không được đâu.
Cả công văn của Thành uỷ gọi ông lên, ông cũng không lên. Chỉ nhắn miệng: Bài Sám hối ấy là quan niệm của chúng tôi, chúng tôi chịu trách nhiệm.
Có ai làm gì được ông ấy đâu.&nbsp;
Nguyễn Quang Thân kể: Lần ấy trong một chuyến xe lên Đại Lãi, ai đó nói rằng Tô Hoài đã có một trăm cuốn, Tô Hoài cãi lại là không, tôi đã có hơn một trăm. Dương Thu Hương ngồi cạnh, như một kẻ tâm thần, lấy tay xoa đầu lão.
- Con ơi, càng viết nhiều càng khốn nạn đấy, con ạ.&nbsp;
Kim Lân kể là vừa rồi, tôi cũng có viết thư cho Tô Hoài, tôi bảo rằng thôi tôi với ông, cũng đã bảy mươi rồi, mọi việc có gì không phải, thì ông bỏ qua cho tôi. Và Kim Lân không đọc Cát bụi chân ai.
Nhàn: Tại sao Tô Hoài thân Nguyễn Văn Bổng vậy?
Kim Lân: Vì có một hồi Nguyễn Văn Bổng từ B ra, bị ghẻ lạnh. Tất cả những Thu Bồn, Liên Nam đều được đón tiếp rất linh đình, chỉ có Nguyễn Văn Bổng là không. Chính lúc đó Tô Hoài đến với Bổng, và được Bổng tri ân mãi.
&nbsp;
18/2/1992
Cái ý nghĩ chi phối một người như Tô Hoài - ý nghĩ rằng cuộc đời là một thứ trò chơi. Cốt chơi, cốt được, chẳng nhẽ mình lại thua, chứ thật ra, chẳng coi việc gì là nghiêm chỉnh, kể cả việc viết văn, kể cả làm cán bộ cách mạng.
Một mặt, có một chút gì đó như là sự tự lo liệu rất tài tình, mà không phải ai cũng biết lo cho mình như vậy. Tô Hoài kể có sáu con, ba trai ba gái. Một người bà con với tôi (VTN) kể là con của Tô Hoài, cậu Vũ, thuộc loại nhà giàu, đến nhà nó, từ lâu rồi đã uống bia thoải mái.
Mặt khác, trước mặt mọi người, Tô Hoài tạo cho người ta một cảm giác biết buông, biết bỏ, không cần gì, không việc gì làm ông tha thiết cả, tiền cũng vậy, chức tước cũng vậy.
Người có nghệ thuật sống bậc thầy này trước tiên lại là cũng có triết lý sống riêng, một thứ triết lý kiểu Việt Nam, chả tuyên ngôn tuyên bố, nhưng thật sự là có một cách đi cách dò dẫm của mình. Triết lý của Tô Hoài là một thứ triết lý dân gian, cuộc đời là vớ vẩn, là chả đâu vào đâu, nhưng cứ phải sống, được làm vua thua làm giặc, tức cuối cùng ai nhiều tiền hơn ai có tiếng hơn, người đó vẫn hơn. 
Vẫn lời Tô Hoài kể, ông là người hoạt động từ trước 1945. Ông có 8 năm hoạt động trong bóng tối. Bao gồm 4 năm ở Hội ái hữu và 4 năm ở Văn hoá cứu quốc. Ấy vậy, ông vẫn chơi bời đi lại với cánh Vũ Hòang Chương, Nguyễn Bính, vẫn viết như điên, vừa viết cho mình, vừa viết hộ mọi người. Lại còn lang chạ chơi bời với chị em nữa. Một câu cuối cùng mà tôi nhớ khi nói chuyện với Tô Hoài buổi chiều 17-2, đó là câu “Tôi cũng có duyên với chị em nhưng lại không có nợ” - quả là đúng thế thật, Tô Hoài chạy làng rất giỏi.
&nbsp;
22/3/1992
Tự nhiên có việc phải làm với Tô Hoài, việc ông Hồng Phong, đề tài Đề cương văn hóa Việt Nam. Được nói chuyện riêng với ông khá suồng sã.
Hồi ở Văn Nghệ quân đội, tôi đã nhiễm phải cái tính hay nói vỗ mặt. Bây giờ vẫn còn giữ thói nhà binh ấy. Trong một cơn điên, tôi nói mấy câu liều thế này:
- Anh cứ chê Xuân Diệu chứ anh mắc đúng những cái như thế.
- Anh nên làm một ít thứ để mà chết chứ. Cứ viết làng nhàng thế này, dơ lắm.
Tô Hoài không nói gì (không chấp?), sau chỉ thẽ thọt: 
- Tôi viết không mất thì giờ lắm, có khi ngày bốn bài. Này, những ông như ông Tuân ông ấy không viết được nhiều đâu. Cụ ấy chỉ nghe kể, toàn Vang bóng một thời các cụ xưa cả, chứ thời tây cụ Tuân lại chưa viết.
Nhàn: Theo tôi hiểu, cụ Tuân không kiếm chác như anh, cũng không hư vô như anh, nên khó viết hồi ký.
&nbsp;Tô Hoài lảng, không nói gì. Không chấp?&nbsp;
Nhân thể nói chuyện các vụ việc trong văn nghệ, Ngọc Trai nêu ra nhận xét: Ông Tô Hoài có đánh ai thì đánh giả vờ mà trên lại cứ tưởng đánh thật. Chứ cứ như Chế Lan Viên thì đánh người ta sặc máu mồm đấy nhá. 
Một cách hình ảnh, Tô Hoài có phải quỳ gối trước cấp trên, mắt vẫn liếc xéo, miệng vẫn cười tủm, thầm nói với anh em trông tớ quỳ có vui không?
&nbsp;Nguyễn Tuân: Hai đồng chí Tổng Thư ký và Phó Tổng thư ký Hội (Thi và Tô Hoài) đều có võ cả.
&nbsp;Nhưng võ Tô Hoài kín hơn – ông Tuân khái quát.&nbsp;
Tô Hoài tự khoe: 
- Này, tôi vẫn phải viết báo cáo cho Phạm Thế Duyệt luôn đấy. Có lần lão bảo mình thôi, trong văn nghệ, anh cũng là loại Bộ chính trị rồi, anh viết là được -Tô Hoài thú lắm.
&nbsp;
Tô Hoài nhận xét về người khác
Về Nguyễn Xuân Sanh: 
- Ấy, cái ông này, mình có hứng lên mời ông ấy đi ăn phở, thì độ nửa tháng, một tháng sau, thể nào ông ấy cũng mời lại mình bằng được. Nhất nhất với ai cũng vậy.
Về Tế Hanh: 
- Gặp ông ấy lên ông Tố Hữu, ông ấy bảo chẳng qua ông ấy nhân tiện rẽ vào. Nhưng sự thật là bố ấy đi từ ở nhà.
Tôi kể Vũ Quần Phương có bài hưởng ứng vụ đánh Trần Quốc Vượng trên báo Giáo dục và thời đại. Phương viết là nhờ báo lên tiếng, mới được biết.
Tô Hoài lật ngay :
- Chắc thằng ấy nó định kiếm chác nên mới viết thế. Chứ có tài liệu gì mình chả đưa nó đọc.
Về Nguyễn Đình Thi:
- Trong cả cuốn sách của tôi, tôi có thèm nói về Thi một câu nào đâu? Một lão loại ở đâu vào văn nghệ chứ có phải đâu là văn nghệ gốc. Này, giá kể có bảo lão ta viết một bài báo có khi cả tuần loay hoay không xong còn mình, mình có thể viết ngày bốn bài.
Ghi chú: đây là Tô Hoài nói về Nguyễn Đình Thi trong cuốn Tự truyện, phần Một quãng đường. Nhưng đó là khi đã thành sách. Còn bản in ở tạp chí Tác phẩm mới, 1971, viết về ông Thi đầy đủ. Số tạp chí này phần minh họa của Sĩ Ngọc vẫn có ông Thi.&nbsp;
Vào những ngày này, Tô Hoài lại trở lại cái giọng của những sáng tác ông đã viết từ trước cách mạng. Cô đào thương - Một cô đào xinh đẹp lắm, chuyên môn đóng những vai như Hạnh Nguyên cống Hồ. Nhưng sống hàng ngày thì nhếch nhác vô kể, chồng sai đi kiếm cái nhắm, bảo là tuột mất một con cá, thì là chồng đánh cho một trận.
Diễn viên mà như thợ cấy thợ cày.&nbsp;
Nghe nói ở cơ quan, Tô Hoài đang phải làm trưởng ban giảm biên chế. 
Lý luận của ông: Khối thằng sợ mình, tội gì không làm. &nbsp;
Tôi chợt phát hiện:
- Anh Tô Hoài có cái tài là biết thông cảm với sự tầm thường của con người.
Tô Hoài không nói gì. Trước đó, ông bảo rằng bài của tôi về Nam Cao (chất nghịch dị) là được, sự lạc quan phải đọc qua tác phẩm chứ đâu qua lời tuyên bố của ông giáo Thứ.
Tô Hoài khoe là tác phẩm nào cũng sửa, sửa rất kỹ. Nhưng lần này, cầm quyển Cát bụi chân ai mới thấy ông chỉ sửa lại vài câu, vài đoạn. Song vẫn có lúc sự tỉ mỉ đi tới quá quắt. Cần gì mà phải sửa đến thành tới nhỉ? Nhưng Lại Nguyên Ân phát hiện ra điều này khi cầm mấy trang Đề cương văn hoá của Tô Hoài.&nbsp;
Tô Hoài kể về Nguyễn Huy Tưởng. Hồi kháng chiến đến khổ vì ông ấy. Mỗi lần đi họp ở trên về là mấy ngày kể về anh Năm trước anh em cơ quan. Mệt mà không ai dám kêu.
- Nhưng sau hoà bình, tự nhiên tư tưởng của ông ấy chuyển. Có nhiều điều Nguyễn Huy Tưởng không dám ghi vào nhật ký nữa kia. ví dụ, Tưởng không thể chấp nhận việc Liên Xô vào Hungari, hoặc khai trừ Nam Tư khỏi Cục thông tin quốc tế.
Sau 1954, Nguyễn Huy Tưởng bật bãi, không được phụ trách văn nghệ nữa. Mà bị thay bằng Nguyễn Đình Thi. Lúc này Tưởng rất nể Nguyễn Hữu Đang và Phạm Ngọc Khuê (Đang là tay ăn nói giỏi nhưng bị ông Trường Chinh ghét, trong kháng chiến gần như không được làm gì).
Tô Hoài bảo hồi ấy chúng tôi thường bảo Nguyễn Huy Tưởng là anh cộng sản annamít. Lại kể Boudarel vẫn có gửi sách tặng mình. Lão Tây này ghét nhất hai người, ông Trường Chinh và ông Tố Hữu.&nbsp;
Nghe nói là vào những ngày này, Tô Hoài còn bốn năm bản thảo kẹt ở các nhà in mà không ai in cho.
Rồi Tô Hoài kể, hôm nọ báo Văn Nghệ đăng mấy cái thư Nguyễn Tuân đi thực tế gửi cho Tô Hoài và đếm chữ mà trả, Tô Hoài chỉ nhận được có hai mươi ngàn. Đành mang biếu cụ bà.
Cũng thời gian này, ông gửi truyện ngắn Cô đào thương báo đăng và ghi rõ “Hưởng ứng cuộc thi truyện ngắn”. Vậy mà, vẫn lời Tô Hoài: Khi cuộc thi kết thúc chả thấy có lời ơ hờ cảm ơn lấy một câu.
Nhàn (tự nghĩ ): Nghĩa là cái gì lão cũng nhớ, chân giò sỏ lợn hưởng rồi, nhưng con tôm con nhộng cũng không quên, ranh thế chứ.&nbsp;
Tô Hoài kể về Nguyễn Tuân: Chính vì Phùng Bảo Thạch mà Nguyễn Tuân bị bắt (trong Cát bụi chân ai, gọi là anh Phùng). Sở dĩ Nguyễn Tuân tức vì thật ra chẳng theo ai, chẳng qua chơi bậy mà bị bắt, và cũng không đáng bị bắt nữa.
Vì Phùng chỉ cần không phun ra là có Nguyễn Tuân ở đây là xong chứ gì.
Sau này, Phùng Bảo Thạch chết, Nguyễn Tuân nhất định không đi đưa.
Lại như trường hợp Vũ Ngọc Phan ở tù ra, Nguyễn Tuân túng tiền cho người đến hỏi Vũ Ngọc Phan. Vũ Ngọc Phan không những không cho vay, mà còn không trả lời nữa. Khi Vũ Ngọc Phan chết, Ngọc Trai đến bảo ông đi đưa.
- Thôi bác đi một tí, nghĩa tử là nghĩa tận
- Tôi với thằng ấy có nghĩa gì nữa mà tử với tận.
Nhưng rồi nói mãi, Nguyễn Tuân cũng đi. Đến nơi, không chào ai, cũng không vàng hương, chỉ trân trân ngó vào mặt Vũ Ngọc Phan một lúc rồi bỏ về. Vậy mà gia đình Vũ Ngọc Phan đã cảm động lắm.
Tô Hoài khái quát: Ông này phải cái cổ, cái gì cũng suy tính ngẫm nghĩ mãi mới làm.
Cũng liên quan đến chuyện Nguyễn Hữu Đang chuyện tiền nong và chuyện cách mạng, Tô Hoài kể: Nguyễn Hữu Đang tốt lắm, thấy Nam Cao và Tô Hoài khổ, vận động anh em Văn hoá cứu quốc cho ít tiền.
Chỉ có Như Phong và Nguyễn Đình Thi là không cho. Tại sao? Để nếu có bị bắt, sẽ khai là có ủng hộ Việt Minh, nhưng không đóng tiền. Đối với Pháp, năm đó có cái rộng về tư tưởng, chỉ không tham gia tổ chức là được. Mà đóng tiền tức là tham gia tổ chức.
Năm đó, gần cách mạng, cụ Mai cũng không đóng tiền, không gặp bất cứ ai, chỉ ở nhà, và gặp mỗi Vũ Quốc Uy. Tô Hoài kể thêm, và cũng nhếch mép cười nhạt đầy ngụ ý.
&nbsp;
Chuyến đi Hoà Bình 1 - 6/6/1992
&nbsp;Khi nào Tô Hoài nói không biết, thì mới thấy ở ông một cái gì ráo hoảnh đi, không cần, không quan tâm đến ai, cái miệng hơi dẩu lên, ích kỷ thượng hạng.
Nhưng hàng ngày, Tô Hoài là một người dễ chịu, dễ hoà nhập với mọi người biết đùa bỡn, sống được. Chỉ làm phiền ông là hơi khó.
&nbsp;Ngày trước Xuân Quỳnh hay kể Nguyễn Tuân toàn chuyện lặp đi lặp lại. Thì Tô Hoài cũng vậy, nhiều chuyện của Tô Hoài bao giờ cũng từng ấy chi tiết (chi tiết về Bùi Hiển cười chậm hơn anh em chẳng hạn). Đi mấy ngày mà nhiều lần Tô Hoài tự tái bản, nào chuyện Nguyễn Tuân, nào chuyện cuốn tiểu thuyết mới viết, nào chuyện tên Huỳnh Cự trong cải cách ruộng đất.
Về sáng tác của người khác, Tô Hoài bảo là có đọc, nhưng hình như chỉ đọc để biết. Không thấy phục ai, không thấy có gì xót xa với ai cả. Cái mong mỏi của một nhà văn rằng có người kế nghiệp, cái mong ước đó không có.
&nbsp;
Những lời tự kể
- Loại người như tôi, độ khoảng 2-3 giờ sáng là dậy rồi, lúc ấy rất tĩnh tha hồ mà viết.
- Về gia đình. Bà vợ tôi chả hiểu gì về nghề của tôi, bà ấy chỉ biết tôi đưa tiền về nhà thì là được. Ở nhà, tôi sống một mình trên cái gác xép, đến quần áo cũng phải giặt lấy vá lấy. Cả đời tôi chả xem Ti vi bao giờ cả, chỉ nghe đài, với đọc báo.
&nbsp;(Nhân bàn về sự đoảng của con người bây giờ). Ấy, vợ tôi cũng thế, toàn cho ăn mồng tơi rau đay. Tôi mà đi vắng thì ở nhà mâm dọn ra toàn xoong cả, để khỏi phải rửa bát mà.
(Sau này nghe tôi hỏi lại, cô Sông Thao nói với tôi là bố cô tố lên, chứ nhà đâu đến nỗi thế.)
Này, nhà tôi xưa nghèo lắm. Chính ông nội tôi tên là gì tôi cũng không biết cơ mà.
&nbsp;
Người và việc ở Hội Nhà văn 
Tôi làm việc với lão Thi, lão ấy lười, cái gì mình cũng làm thế là lão ấy thích. Còn tôi đi nước ngoài nhiều là do chỗ Ban đối ngoại nhân dân họ cho đi chứ đâu phải Hội.
Lão này (N.Đ.T.) có cái lạ là ngay cả với mình, người quen lâu rồi mà lão ấy cũng giở trò lập trường tư tưởng ra. Ai mà chịu được.
Ấy là người luôn luôn ở đâu rồi về, làm Tổng kết. Vụ Nhân văn Giai phẩm, lão ấy chả có một cái báo cáo rất dài là gì?
Vỡ bờ, đúng là một thứ hậu Tự lực văn đoàn, như thằng Trương Chính nó nói.&nbsp;
Về Chế Lan Viên: Năm 74, ông Hà Huy Giáp có cái giấy cho tôi và Chế Lan Viên thôi làm Tạp chí Tác phẩm mới, lão Chế còn không nhận, lão ấy bảo không đứng chung danh sách với tôi cơ mà.
Về Hoàng Trung Thông và Nguyễn Tuân: Cái vụ Nguyễn Tuân đuổi Hoàng Trung Thông là có thực, chả là năm đó Hoàng Trung Thông có viết cái chân dung cụ Tuân, lại nói là cụ gặp một bà cô đầu cũ, hỏi rồi khóc. “Nó làm như mình nhân tình nhân bánh với bà ấy, mà đâu có chuyện gì. Bà ấy chết vì bà ấy tự tử trong cải cách ruộng đất. Nó biết, nhưng nó cố tình im, để cho cải cách ruộng đất thắng lợi.”
&nbsp;Ông Nguyễn Tuân đuổi Hoàng Trung Thông lý do là như thế. Nhưng làm xong thì lại hối hận.
Về Nguyễn Tuân: Những lúc ăn uống, cụ Tuân hay nói là phải viết cái nọ phải viết cái kia. Nhưng cụ ấy chả viết. Vang bóng một thời cũng là chuyện nghe kể lại. Có vẻ như Nguyễn Tuân thích ngẫm nghĩ để viết, thích nung nấu muốn viết hơn là viết thực sự.
Số Nguyễn Tuân sướng ở chỗ này. Không bao giờ đi ăn phải trả tiền cả. Mà lại cứ như là chủ đám ấy. Mình bỏ tiền ra, nhưng bọn chủ hiệu nó lại hầu hạ cụ ấy mặn mà hơn mình. Chỉ được một việc ngồi vào bàn hút thuốc chờ rượu là ông ấy đứng lên. Đi mời thuốc lá chủ hiệu, xuống cả bếp mời đầu bếp, họ đang bận, thì tự tay cắm thuốc vào mồm họ, làm cho người nào người ấy ai cũng lâng lâng cả lên, thế là bảo nhau mà phục vụ cho tận tình. Hết việc. Từ đấy trở đi mình chỉ có sung sướng mà hưởng cái giá trị là được ăn bên một con người sang trọng. Khổ một nỗi dù có bỏ tiền ra, nhưng mình cũng không thể làm những việc ấy giỏi bằng, thôi thì chịu vậy.
Về Anh Thơ: Bà này luôn luôn có cái mặc cảm rằng mình quá đẹp người ta mê mình, thế mới chết chứ. Mỗi lần Marian Tkachev sang, bà ấy vẫn viết thư cho Hội Nhà văn nói rằng đừng để đồng chí Marian gặp tôi, vì đồng chí ấy rất mê tôi. Thôi thì mình càng phải bố trí để tránh tai vạ cho bà ấy chứ còn biết làm thế nào?!
Về Kim Lân: Đây vẫn là một người hóm, nói chuyện với Kim Lân bao giờ cũng rất thích. Nhưng sau này ông ấy ngại gặp tôi. Hình như có một chút mặc cảm, cùng dân tự học như nhau, thế mà mình lại hơn ông ấy, thế là ông ấy không thích rồi.
Về Nguyễn Văn Bổng: Thì ông tính ở Hội Nhà văn còn biết nói chuyện với ai nữa? Những ông như ông Đào Vũ, Phạm Hổ bao giờ cũng chỉ cười, không biết lúc nào các ông ấy thật, lúc nào ông ấy giả nữa.
Nguyễn Văn Bổng là người mà tôi có thể nói được mọi thứ chuyện, mà không có gì phải ân hận, phải lo lắng, phải giữ gìn. Bây giờ mà được một người như thế cũng khó lắm.
&nbsp;
Sáng tác mới 
Tôi mới viết xong một tiểu thuyết về cải cách ruộng đất. Chuyện ba người khác nhau, trong đó lại kể tôi đi cải cách ruộng đất, làm cán bộ đội mấy lượt và tôi đã làm bậy ra sao. Mà sự làm bậy của tôi cũng chẳng thấm gì với những người chung quanh. Người ta đã viết nhiều về cải cách ruộng đất. Như Ngô Ngọc Bội, ông ấy viết về gia đình ông ấy. Như cô Dương Thu Hương, cô ấy viết do nghe người khác kể lại. Còn tôi, tôi viết do tôi chứng kiến, tôi đã đi cải cách ruộng đất, đã sống, đã là một vai kịch.
Ý của tôi là, tôi đồng ý phải có cải cách, nhưng không thể cải cách theo kiểu ấy.
(Ở chỗ Tô Hoài nhấn mạnh “đây là chuyện của tôi, tôi có chứng kiến” thì lại có chút gì đó như là cổ lỗ. Với tôi –VTN --, thực ra sự chứng kiến chả có gì là quan trọng, nhấn mạnh sự có mặt, tức là lại rơi vào lý thuyết của mấy ông Tố Hữu, Hà Xuân Trường.)
&nbsp;
6/7/1992 
3-7, kỷ niệm 35 năm thành lập Hội nhà văn, Tô Hoài không đi, ông nói với Ngọc Trai rằng cái thông báo của Hội nói khá dài đến Xuân Sách là thối quá, không ra cái gì cả, không thể chịu được.
Trước đó, Tô Hoài cũng đã được mọi người cho xem lá đơn của mấy chục nhà văn ký, phản đối cuốn chân dung của Xuân Sách. Nhưng không để người ta rủ, Tô Hoài đã tỏ thái độ thế nào đó, một cách ý nhị, nhưng cũng là một cách không thể hiểu khác được, thế là họ không rủ Tô Hoài nữa.
Tô Hoài giải thích: Tôi cho rằng người ta không nên làm khủng bố với nhau nữa. Tất cả đã đủ.
Trong số báo Nhân Dân Chủ Nhật ra 5/7/1992 sau Vũ Tú Nam, Tô Hoài được người ta phỏng vấn. Ông nói đại ý từng ấy năm, Hội nhà văn cũng y như xã hội là cũng có tất cả những cái sai, những cái đúng. Hội nhà văn mấy chục năm không đại hội, không tạo nên một thứ giải thưởng ra trò...., thế mà cũng cứ là thành tích.
Về phần mình, ông bảo tôi công tác Hội, cũng viết báo viết văn, nay vẫn viết báo viết văn. Không cần họ - ý ông là thế - tôi vẫn tồn tại. Tự tôi là một thứ Hội Nhà văn.
Hình như công việc này, Tô Hoài mang vào nhiều giận dỗi cá nhân, người ta lại coi ông như mọi Hội viên khác, thế là không được.
Con người xưa nay vốn nhũn nhặn, phen này công khai tỏ thái độ. Và không thấy mình có lỗi gì cả.
Nhưng khi tôi nói chuyện này ra, thì mấy người như Ngô Văn Phú, Nguyễn Phan Hách nói ngay chính ông Tô Hoài quan liêu. Ông Tô Hoài không làm gì cả, nhưng sự hỏng của Hội có phần tội của ông. Không rũ tay đứng lên vô can được.
&nbsp;
23/7
Tô Hoài có cái tài là nói về những người khác bằng một hai chi tiết thôi. Mà đã giết người đó hoặc nếu không, cũng bắt đúng tính cách người ấy.
Nhân nói về chuyện ông Tế Hanh đã biết có nhóm làm cái chương trình nghiên cứu văn hoá KX. 06.
-- Ở nhà này có ba người rất hiền, hình như chả đi đâu, mà cái gì cũng biết là Tế Hanh, Nguyễn Thành Long và Phan Hồng Giang. Ông Tế Hanh này lại còn có cái tật hay mò mẫm, xà xẩm nữa, buồn cười lắm .
Nhưng một lúc sau, Tô Hoài lại ra ngồi cạnh Tế Hanh, làm ly bia chia tay để mai Tế Hanh đi Đà Nẵng. Lúc ngồi đấy, lại than thở các việc.&nbsp;
Nhàn: Đọc Cát bụi chân ai thấy anh cũng thương ông Tuân, thấy trong cuộc đời ông Tuân có cuộc đời mình, khổ cho nhà văn mình thật.
Tô Hoài: Tôi đọc số Người đưa tin UNESCO, một nhà văn nào đó còn than thở rằng văn học A rập không ai biết, thì còn nói chi đến văn học mình.
Tế Hanh: Các nhà văn Liên Xô cũng cực lắm, một người như Paustovski chết có được gì đâu.
Tô Hoài: Đọc tự truyện của Pau, thấy ông bảo là có lần ông suýt bị mang bắn rồi, đó là hồi Cách mạng. Rét quá, ông vào chố đám sinh viên, xin cái áo bọn nó mặc. Ta đến, tưởng là sinh viên, mang bắn tuốt. Sắp ăn đạn thì cậu đội trưởng người quen nó đến, nó bảo cậu này không phải sinh viên, thế mới thoát.
Tế Hanh: Thì mình cũng bắn Nhượng Tống bắn Khái Hưng chứ đâu có riêng ai?
Nhân tôi nói chuyện về Nam Cao, Tô Hoài nói ngay:
- Nam Cao đâu có được đi kháng chiến. Phải về làng. Sau ở trên kia tôi mới đề nghị anh Xuân Thuỷ viết thư về đưa lên đấy chứ.&nbsp;
Hồi ký của Tô Hoài gây ra xáo động ở nhiều người. Ai cũng cảm thấy tiếc đời mình bao chuyện mà giá kể mình viết được một ít chuyện đó. Nguyễn Kiên nhớ có lần đi với Nguyễn Công Hoan, hầu hạ Nguyễn Công Hoan vừa lố, vừa hài. Giá làm như Tô Hoài viết cả ra thì khối người đọc.
Nhưng rồi Nguyễn Kiên bảo:
- Ông Tô Hoài có cái lối là ông ấy cứ vân vi với kỷ niệm, rồi ông ta tạo nên cả một thế giới kỷ niệm, và ông ta viết dần, nào chân dung, nào lời tựa... Mình không làm thế được.
&nbsp;
14/9/1992
Hoàng Cầm cũng công nhận là về khoản gái, Tô Hoài ghê lắm, hơn bất cứ ai, chỉ có điều tâm ngẩm tầm ngầm như thế, nên chết voi, mà chả làm sao cả. Đến vợ cũng không ghen thì thôi chứ gì?
- Tô Hoài ăn ở, trên không ghét, dưới không ghét, bạn bè không ghét được, như thế kể cũng đã là khôn lắm -- Vẫn lời Hoàng Cầm.
Và Tô Hoài “đá” nữa. Tô Hoài vay Nguyễn Hữu Đang tiền, còn giấy tờ hẳn hoi, mà Nguyễn Hữu Đang nhờ Phùng Quán đi đòi, Tô Hoài đếch giả, ai làm gì được.
- Thế còn cái chuyện Tô Hoài hay đi lại với Đặng Đình Hưng lúc bị nạn?
- À, cái đó thì có, Tô Hoài có cái thế để làm việc đó.
&nbsp;
&nbsp;Sài Gòn cuối tháng 11 đầu 12/1992
Cùng đi công tác mấy lần, có một chuyện kể lại tôi không chán là chuyện bà Phượng. Bao giờ Tô Hoài cũng kể về nó với một chút cảm động khiến tôi phải nhận là chân tình. Đó là một trong những trang đẹp nhất trong đời Tô Hoài. 
Trong một lần say rượu trở về phòng, trên khách sạn Dâu tằm tơ trên Đà Lạt, Tô Hoài kể với tôi những chuyện linh tinh về đời tình ái của mình rồi kết luận:
- Thế thôi, cho qua ngày, cho đời có cái vẻ đáng sống mà nó phải có. Với tôi, đời đẹp và buồn.
Nhàn: Còn bao nhiều điều anh chưa viết hết về Nguyễn Tuân. Nhiều người bảo rằng có những điều, anh có thể viết khá hơn Cát bụi chân ai.
Tô Hoài: Cái đó có chứ. Ví dụ Nguyễn Tuân là một người rất tính toán và đã có lúc khổ về sự tính toán của mình.Tại sao Nguyễn Tuân trả lời với người ta rằng chỉ thân với Trần Hữu Tước? Vì nói thân tôi chẳng hạn, người ta ghét, không cho mượn xe nữa. Một lần Nguyễn Tuân vào thăm Tố Hữu nằm viện. Thằng Phạm Văn Khoa nó nằm ngay dưới, không vào thăm. Nó biết, nó chửi cho. Sau phải xin lỗi mãi. 
Nguyễn Tuân là thế. Những ngày trước khi chết, ông ấy buồn lắm.
Nhàn: Không phải là buồn vì chưa phục vụ được nhân dân, đất nước chứ?
Tô Hoài: Tất nhiên là không rồi. Chỉ tiếc là chưa được hưởng mọi thứ.
Thấy nói là có thể có Hội Dâu tằm tơ, Tô Hoài khều ngay, cho mình vào Hội với, mình cũng là dân thợ cửi cũ mà!&nbsp;
&nbsp;
Ý thức về mình
&nbsp;Một lần Tô Hoài đi dự chiêu đãi. Có người nói đùa: Hôm nay trông ông giống Võ Chí Công quá.
- Nói thế làm mình buồn chứ hay ho gì! Thực ra phải nói là lão ấy giống mình mới đúng.
Quan niệm về thời buổi này: Tôi cho không có gì là văn học lớn cả. Không thể có. Tốt hơn hết là viết cho nhiều vào, may ra có tài liệu để đời sau viết tiếp.
Khả năng phát hiện tính cách: Vợ sau Nguyễn Bính ở Nam Hà có cho tôi xem một tờ giấy Nguyễn Bính để lại. Ra tờ giấy đó là giấy ly dị với vợ cũ ở miền Nam. Cái thằng lạ thế, tất cả mọi thứ giấy tờ vứt đi, nhưng giấy ly dị thì còn giữ lại.
Có biết tại sao Nguyễn Bính đi tập kết không? Vì hồi đó, anh em tính thằng này mà ở lại thì hàng địch mất, cho nên phải cho ra ngoài này thôi.
&nbsp;
Một số suy nghĩ của tôi về Tô Hoài 
Luôn luôn, tôi khâm phục cái ngổn ngang nhiều vẻ mà tầng tầng lớp lớp của Tô Hoài. Hình như con người đó vào đâu có cái “tủ” ở đấy để đối phó. Và thật lắm mặt hàng!
Ông là nhân vật tiêu biểu của sự tha hoá với các nhà văn và cũng tiêu biểu cho khả năng của con người đối phó với sự tha hoá đó, khả năng vẫn là chính mình, không chịu hỏng, không chịu chết.
Sức sống, là tài năng; trong sức sống bao gồm khả năng thích ứng, và khả năng vẫn là mình. Đại khái nó cũng giống như cái cây, nắng gió mấy vẫn sống được, và vẫn cho quả. Chứ không phải là khả năng làm ra thứ quả ngọt hơn ngon hơn quả những cây khác.
&nbsp;(Trong các bản tin thời sự hàng ngày tôi vẫn được nghe người ta nói là đơn vị nọ, đơn vị kia, không đủ điểu kiện làm việc, thiếu tiền... song vẫn hoàn thành nhiệm vụ).
&nbsp;Luôn luôn trước mặt chúng tôi, là cái công thức của Pavel Korsaguin, hãy biết sống khi cuộc đời trở nên không thể chịu được nữa.
Tô Hoài giỏi sống kiểu này nhất.
Bảo con người Việt Nam làm được cái gì to lớn, họ không làm nổi. Nhưng bảo họ làm một việc gì vui vui, lại cần cho cuộc sống của họ nữa, họ làm ngay và thường là làm được.
Tô Hoài là người Việt Nam theo kiểu ấy. Có cái duyên dáng thân thuộc riêng, nó là cái phúc cái phận mà người nào cũng có, mà ông có đẹp hơn người khác.&nbsp;
Một hôm tôi hỏi Tô Hoài
- Có phải ông Tuân không chơi với Nguyễn Công Hoan?
- Phải. Vì cụ Tuân thích trưng mình ra, mà cụ Hoan thì lại sống lẩn, chỉ bằng lòng làm một kẻ đạo mạo.
Tôi chợt nhận ra một điều, hoá ra Tô Hoài là một gạch nối giữa Nguyễn Tuân và Nguyễn Công Hoan. Mà có vẻ nghiêng về Nguyễn Công Hoan nhiều hơn. Cũng bông lông ba la, bất cần đời, nhặt được cái gì thì nhặt. Chỉ có khác ở chỗ Tô Hoài có phần chơi rộng hơn, biết cái gì rộng hơn ở người mình. Đằm hơn, kín hơn, đỡ thô hơn. Cũng còn biết nhiều kiểu làm dáng nữa, chứ không độc một kiểu làm dáng trâng tráo như Nguyễn Công Hoan.
&nbsp;
16/2/93
Ngày 5/2, hội thảo Tô Hoài văn và đời,&nbsp;tôi bận không đi được. Ân kể là Vũ Quần Phương rất biết nói phải chăng về Tô Hoài - Tìm hiểu Tô Hoài là niềm say mê của thế hệ chúng tôi.
Hân ở dưới ngồi kể với Ân rằng bao nhiêu lần, Tô Hoài qua Liên Xô, bọn ở đấy được tổ chức mời ông nói chuyện, Tô Hoài đều từ chối.
Ngô Văn Phú đang ngồi trong cơ quan ông giữa ông lái xe với chai rượu. Thấy Tô Hoài vào, Phú cũng mời.
- Có uống thì uống loại nào cơ chứ loại này uống làm quái gì - Tô Hoài trả lời, thật là hách.
Ông Tế Hanh kể:
- Hôm mừng sinh nhật Tô Hoài, mình nói rất ngắn. Tô Hoài có chút gì đó như Picasso. Picasso có cái bút trong tay là vẽ. Tô Hoài là viết. Ông viết như một bản năng bẩm sinh.
Trong Truyện Tây Bắc, nhiều người thích Vợ chồng A Phủ, tôi lại thích Mường Giơn. Vì Mường Giơn buồn. Cuộc đời đẹp mà cứ thế lặng đi.
Tô Hoài bảo ông chỉ thích viết chuyện buồn. Và Tô Hoài còn thích viết những chuyện xa mình nữa cho nó đỡ phô ra vẻ nhếch nhác. Theo mình (Tế Hanh) trong O chuột, bên cạnh các giống vật, tác giả có ý khi đặt thêm một truyện về người, cu Lặc. Nhiều nhà phê bình chê, nhưng tôi (Tế Hanh) bảo đấy là hiện đại, là phương Tây thế kỷ XX, nhìn con người như một thực thể gần con vật. (Nhà phê bình nói ở đây là Nguyễn Đăng Mạnh.)
Phải Tế Hanh thấm văn học phương Tây mới nói được như vậy.&nbsp;
Trần Độ: Đọc Bố mìn mẹ mìn của ông, mình chỉ phục có nhiều chuyện, ông rất nhớ.
Tô Hoài: Cái cảm tưởng ấy có ở anh, là do truyện của tôi dùng được nhiều chữ của hồi ấy. Nếu không có chữ, không tạo được không khí.
Lê Đạt kể hồi kháng chiến, ông Tưởng là người phụ trách cơ quan văn nghệ, Tưởng thì tốt thôi, nhưng hách lắm. Tô Hoài phê bình.
- Tôi chỉ thấy khi nào cậu X (công vụ cơ quan) đi giặt quần áo cho anh Tưởng, trông có vẻ vênh vang lắm, như là được làm một việc rất oách.
Tưởng cười gượng.
- Nó chửi mình, nhưng không chửi thẳng, lại mang chuyện công vụ ra, thế mới xỏ lá.&nbsp;
&nbsp;Vẫn lời kể của Lê Đạt: Mình hỏi Tô Hoài đọc mấy bài thơ mới của Văn Cao chưa.
- Chưa. Nhưng mình nghĩ những bài hay của Văn Cao mình đọc cả rồi. Với lại mình không có thói quen đọc thơ nghiệp dư.
&nbsp;Nói về Hoàng Cầm: thơ chăng kim hàng mã.&nbsp;
Một nhận xét của Lê Đạt: Đúng Tô Hoài, cùng với Nguyễn Khải, là những cây bút chuyện nghiệp. Những cây bút bao giờ cũng nghĩ ra việc để làm, ra cách viết để viết, chứ không đầu hàng bao giờ. Sự gia công chữ nghĩa của Tô Hoài cũng đã ghê đây chứ. Chỉ lạ một nỗi là viết xuôi viết ngược thế, nhưng vẫn không đạt tới những cái đỉnh như Nam Cao.
&nbsp;
&nbsp;5/1/1994 
Tô Hoài khoe với bọn tôi, ông nhận được một lá thư của Vụ Văn học, Bộ văn hoá Pháp, xin dịch tất cả các tác phẩm của Tô Hoài đã viết, có liên quan đến làng Nghĩa Đô, và xin Tô Hoài cử cho một đại diện đang sống ở Tây Âu để tiện làm việc. Tô Hoài sẽ nhờ Đặng Tiến làm việc này.
Tô Hoài cũng vừa được Đặng Tiến gửi cho 1000 đô, do nhà Hồng Lĩnh trả, sau khi in Cát bụi chân ai. Nghe vậy, Nguyễn Huy Thiệp buồn lắm. 
- Lão ấy được đủ mọi thứ. Còn mình, nó gửi cho có 500, cũng bị cướp mất.
Tôi đã viết trong một bài báo, Cát bụi chân ai đạt tới cái mức cổ điển của Hồn bướm mơ tiên, Quê mẹ, O chuột. 
Liên quan đến giải thưởng Hội nhà văn, quyển Cát bụi chân ai đưa lên chung khảo, chỉ được có 4 trong 9 phiếu, nên hỏng ăn. Trước mặt mọi người, Tô Hoài hay nói đùa, mình dạo này cứ phải tỏ ra rỗi với Hội Nhà văn thôi. Định cho giải mà rồi lại không cho, buồn quá.
Nhưng ở chỗ riêng tư, Tô Hoài bảo:
- Chúng nó dốt, cư xử không bằng bên Hà Nội. Hà Nội họ cũng không dám tặng giải, sợ cấp trên phiền lòng, nhưng họ bảo thật tôi. Và đến đưa riêng 2 triệu. Còn ở đây, họ bảo nhau không bỏ phiếu cho tôi rồi lại tuyên truyền rằng như vậy là sách tôi không có giá trị. 
Tôi (VTN) nhớ mấy câu mà bọn Nhà xuất bản Thanh Văn ghi ở bìa đại ý: quyển sách không có tính chất chính trị. Đọc sách ta cảm tưởng như được nghe một người đàn bà nhà quê rỉ rả kể chuyện, thi thoảng lại đưa gấu quần lên chấm mồ hôi và hình như cả nước mắt nữa. Nhưng chính vì thế, sức phản công chính trị của quyển sách càng mạnh. 
&nbsp;
12/2/1994 
Tại buổi họp nhóm KX 06-17 trước tết, Tô Hoài bảo với mọi người:
- Thôi nhé, mùng 4 Tết ta gặp nhau. Tết các vị khỏi phải đến tôi. Nói chung là tết tôi không tiếp khách.
&nbsp;Giá người khác nói chuyện vậy, ông ta sẽ cho là kiêu ngạo là xa mọi người. Nhưng ông Tô Hoài nói được. Ở chỗ người ta tưởng ông bừa bãi thật, ông lại rất nguyên tắc (chẳng hạn ông thường đi họp đúng giờ, cần duyệt một bài báo ông cũng nguyên tắc). Nhưng ở chỗ người ta gắng sức ông lại nhởn nhơ làm bậy. Trong lúc họp ông hay ngồi viết các bài báo vặt. Ông cũng bia rượu, gái gẩm không kém ai.&nbsp;
Ngọc Trai kể Nguyễn Tuân có lúc ghét Tô Hoài lắm. Cái thằng ấy, không chơi được. Bố ai biết nó sẽ bán mình lúc nào. Thế nhưng rồi cụ Tuân vẫn phải nhận là không bỏ được Tô Hoài.
Thái Bá Vân kể là đến chơi Nguyễn Tuân, thỉnh thoảng vẫn gặp Tô Hoài, nhưng thường Tô Hoài không nói năng gì.&nbsp;
Một ý của Tô Hoài: Tôi cho là chả làm gì có nhà văn lớn với tác phẩm lớn. Cho nên cứ viết đi, viết làm tài liệu cho các thế hệ sau.
Tô Hoài thường không đi dự các buổi sinh hoạt Hội Nhà văn. Ông kể với tôi là ông không đóng cả Hội phí nữa, ông đã trả lời ông Vũ Tú Nam bằng thư rằng ông không đóng. Tôi không việc gì mà phải đóng cả. Ở nước nào cũng vậy, đến một tuổi nhất định là được miễn các việc nữa là tôi. Chúng nó thấy tôi khỏe, lại tưởng tôi bằng vai với chúng nó, nhưng thế là láo, tôi đẻ ra cái Hội này chứ tưởng à.
Có nhiều việc khiến ông bất mãn ra mặt. Từ chuyện vớ vẩn: Cấp trên cho các lão già ít tiền. Cho 50 người thì hội xẻ ra, thành cho độ 150 người. Tô Hoài cũng bị xẻ. 
Tôi cảm thấy Tô Hoài ghét Hội lắm, nên để ý từng tí một. Ví như cái chuyện nhà cửa bên Nguyễn Đình Chiểu, cho thuê như thế nào, bọn thuê có họ hàng với ai, chúng bị bắt vì chứa điếm ra sao, Tô Hoài biết hết. Làm thế nào để có thông tin tỉ mỉ như vậy. Tô Hoài kể: thỉnh thoảng đến ngồi chơi cả bọn. Bà Phượng, bà Phương, con Hoa, con Khánh. Tôi chỉ cần làm ra vẻ nhân tiện rủ bây giờ tất cả đi uống bia. Bia gì anh, bia tôi khao, thế là cười ầm lên, kéo nhau đi. Chuyện ở đấy mà ra chứ ở đâu nữa.&nbsp;
Cuối năm 1993, Trọng Hứa chết. Tôi đến viếng, xong, hỏi Linh Chi (em trai anh Trọng Hứa)
- Anh Tô Hoài có đến?
- Chưa thấy, chắc chiều anh đến.
Chiều có buổi họp. Tôi đoán chắc Tô Hoài nghỉ. Nhưng vẫn thấy tò tò kéo đến họp rất thản nhiên. Tôi hỏi anh không đi đám ma? Lặng đi một lúc, sau Tô Hoài mới cho biết.
- Hỏi thì biết thôi, Hội có cho Trọng Hứa được cái gì đâu. Mà anh ấy làm Chánh Văn phòng Hội từ kháng chiến chống Pháp. Về sau, chán Đài phát thanh lại quay về với Hội. Người ấy tự trọng lắm. Đến tuổi là về hưu thôi. Không có tiền, xin đi gác đêm ở một xí nghiệp, tưởng già thì tha hồ thức đêm, hóa ra phải thôi, gác đêm mệt lắm không làm được. Gặp, tôi vẫn cho tiền. Lâu rồi, mấy năm trước, tôi còn viết cả một bài dài về Trọng Hứa. Chả đâu in, tôi lại mang về in ở báo Người Hà Nội.
Đấy, tôi với Trọng Hứa có cái tình từ ngày xưa như thế. Bây giờ đến với họ ở Hội, chẳng hoá ra cũng như họ à. Đợi đám ma xong, tôi đến Linh Chi sau.
&nbsp;
1/5/1994
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;Những ý chính Tô Hoài đã phát biểu trong hội nghị những người viết trẻ : 
--Tôi viết văn từ năm 20 tuổi, đến nay vẫn tiếp tục viết. Mấy truyện ngắn của tôi mới viết cũng có may mắn gì. Con ma gửi báo Lao động họ không in, tôi mang về in báo nhà. Nghĩa là tôi có được hưởng quyền gì đâu, có cây đa cây đề gì đâu. Nhưng mà tôi vẫn yêu nghề, thấy nghề là khó. Vẫn cho rằng chưa viết được gì hơn Dế mèn phiêu lưu ký
- Tôi sống như thế nào? Đi thực tế có lẽ không ai đi hơn tôi. Tôi làm tổ trưởng khu phố mấy năm. Mà học chính trị, cũng không ai hơn tôi. Tôi đã học Nguyễn Ái Quốc 2 năm. Theo tôi hiểu, có nhiểu người không học, cả đồng chí Tố Hữu cũng không học. Nhưng tôi cảm thấy trước sau tôi vẫn là tôi, ở tôi không có nhận đường lột xác gì hết.
- Cách đây 12 năm, một đêm ở Krưm chia tay với các bạn Tbilisi tôi có đọc mấy câu thơ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là người viết chữ đẹp. Tôi chả yêu thơ Nguyễn Bính, cũng cứ để đầu giường và nhớ mấy câu chữ nghĩa quá đẹp.
Huyền Trân Huyền Trân Huyền Trân ơi
Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi 
Giờ đây chín vạn bông trời nở
Riêng có tình ta khép lại thôi
Rồi chúng tôi ôm nhau khóc, không rõ khóc vì sao, vì buồn vì phải xa nhau, hay vì nghĩ rằng nghề này khó quá, không bao giờ đi đến cùng. Tôi xin kết thúc ở đây.
&nbsp;
Trong chuyến đi Sơn Tây
Nhàn - Anh còn được đọc, vì có trong thời gian trước, nhiều khi anh như đứng ngoài chuyện thời sự, những cái anh viết ra thường có tính cách phong tục.
Tô Hoài - Mình viết cái gì mà không có tính chất phong tục không viết được.
Cũng như nhà văn của mình bao giờ cũng phải có một nghề gì đó. Và cái nghề đó ám vào ý nghĩ của anh ta, có mặt trong trang viết của anh ta.
Một lần nào đó, tôi hỏi rằng Tô Hoài làm sao có thể thượng vàng hạ cám gì cũng đọc.
- Đó là thói quen của người tự học.
Bí quyết sống của Tô Hoài là trừ việc viết ngoài ra, không bao giờ làm gì, mà cũng không bao giờ bỏ việc gì. Như chuyện bên Hội văn nghệ Hà Nội. Trong cái việc bị bật khỏi Hội, Vũ Quần Phương đến nay vẫn oán là Tô Hoài đã không ủng hộ hắn đến cùng.
- Thế nó quên là tôi đã ký giấy trước công an thì nó mới được vào Quốc Hội?
Còn bây giờ, tôi phải cứu Hội, trước khi cứu nó chứ.&nbsp;
Mặc dù chuyển đi không làm Tổng biên tập tờ Người Hà Nội nữa, nhưng Tô Hoài vẫn nhận làm chủ tịch Hội đồng Biên tập cho báo.
Khi tôi nhờ báo này đăng hộ mấy bài thơ cũ của ông cụ, bố ông Nguyễn Thao Lược, thì tự tay Tô Hoài chữa mực đỏ cẩn thận gửi cho báo. Và ông hứa, thể nào họ cũng đăng.
Tô Hoài hay nói với tôi.
- Nếu không có Cách mạng, ông Thi ông ấy đi làm quan huyện, ông Bổng đi làm giáo sư. Còn tôi, tôi vẫn là người viết văn.
Lê Đạt kể về Tô Hoài
- Có lần bàn chuyện gì đó, về Nguyễn Đình Thi. Mình mới bảo đối với Thi, mình hơi khó, không dám nói đến cùng. Vì hồi kháng chiến bọn mình rất thân với nhau. Có cái gì nó cũng kể với mình. Thi thường đọc thơ cho mình nghe. Thế là Tô Hoài cãi, sao tôi cũng thân với nó, mà nó không đọc. Có gì đâu, ông lúc ấy là thư ký của mấy ông to. Thi nó đọc ông nghe, để ông về ông nói giúp cho nó, đơn giản thế thôi.&nbsp;
Một chi tiết lặt vặt ở miệng Lê Đạt:
- Có lần, hồi kháng chiến, phải họp để phê bình Tô Hoài đánh vợ. Tô Hoài cho một câu gọn lỏn, các cậu không biết chứ đánh vợ xong, vợ nó chiều lắm. Hình như, cũng Lê Đạt nói, cái lão Tô Hoài ấy từ thuở trai tráng, đã sống trên sự nuôi báo cô của đàn bà, và sự thật là đã ngủ không biết bao nhiều đàn bà mà kể.
- Bởi lẽ -- tôi nghĩ -- ông Tô Hoài có cái thiết thực của đàn bà.
&nbsp;
16/10
Bài Vũ Quần Phương: Tô Hoài - văn và người trên tạp chí Văn học, số 8-1994 có đọan đại ý nói Tô Hoài đối xử giỏi. Người được yêu thì biết, mà người bị ghét, không thấy là cần báo thù. Có mặt Tô Hoài trong các buổi họp, người ta không cảm thấy bị lái. Không có mặt người ta không cảm thấy bị trống. Anh em làm việc với Tô Hoài thấy có thể hợp tác được.
&nbsp;
4/11/94
&nbsp;Đi Điện Biên với nhóm Đề cương văn hoá.
&nbsp;Ai đó định rủ đến nhà Lương Quy Nhân, nhưng Tô Hoài gạt đi.
- Đừng đến. Đến bây giờ, các anh ấy hay buồn, vì thấy mình cũng bằng tuổi các anh ấy, mà mình còn đi lại tung tẩy được.&nbsp;
Một cô soát vé máy bay gọi một cô khác đến xem mặt Tô Hoài, người đã viết Dế mèn mà bọn mình đọc hồi bé. Đi một quãng, Tô Hoài bảo:
- Không những nó, mà ông nó, cụ nó cũng đọc chứ chả biết chừng.
Nhân ai cũng nói Dế mèn, tôi bảo một tác phẩm như thế, tính bằng nửa sự nghiệp của anh, bằng tất cả các tác phẩm còn lại chứ chưa biết chừng.
- Điều đó, vừa là một niềm vui, vừa là một nỗi buồn của mình.
&nbsp;(Có một điều mọi người ít biết: Khoảng 1965-66, trong thời kỳ chống xét lại, Dế mèn bị nêu ra là có tư tưởng hòa bình chủ nghĩa , nên ở VN người ta cũng quên luôn, chỉ cho in lại mà không đề cao, không ai giảng giải phân tích gì hết. Từ đó thành lệ.)&nbsp;
Có một nhận xét chung là đến đâu Tô Hoài cũng có nhớ như in ngay mọi chuyện. Sau này, nói với mọi người, ông cũng chỉ lặp đi lặp lại những chi tiết cũ. Chứng tỏ sức nhớ của ông rất ổn định.
Tôi đọc Con ngựa. Ai đó đã khen Tô Hoài viết còn sinh sắc lắm. Tôi chú ý nhớ nhất những đoạn nói về cái thời bây giờ, một thời hỗn độn, mịt mù, mọi cái hay dở lẫn lộn, chính mỗi người cũng cảm thấy như mình đang hỏng đi, xấu đi, trong cái hỏng cái xấu chung của cả xã hội.
Đọc những tác phẩm khác, người ta còn cảm thấy bỡ ngỡ, sao mà cuộc đời bây giờ lại đổ đốn ra như vậy. Đọc Tô Hoài thì không, không việc gì phải thắc mắc cả, cuộc đời bao giờ cũng khốn nạn, sự khốn nạn là không thể sửa chữa.&nbsp;
Tô Hoài kể về gia đình Nguyễn Tuân:
- Tôi gửi biếu quyển Cát bụi chân ai, gia đình cũng chẳng có một lời cảm ơn!
Bởi tôi không thế là cái loại mà mang sách đến, rồi đặt lên bàn thờ, rồi khóc lóc. Tôi chỉ đưa tay cho bà cụ.
&nbsp;Sau khi cụ Tuân chết, ngày giỗ đầu, tôi đã bảo với bà cụ ngày này hàng năm, nên ngồi với nhau để tưởng nhớ cụ. Gia đình đứng ra gọi, còn mọi chuyện để bọn tôi lo. Nhưng có bao giờ gọi đâu.
Nghe chuyện này, Nguyễn Đăng Mạnh bảo: 
- Gia đình Nguyễn Tuân rất coi thường Tô Hoài, không muốn cho Tô Hoài dính vào cái việc bàn di sản Nguyễn Tuân, cho nên mới có chuyện tiểu ban này không thành. Còn như Xuân Diệu, Xuân Diệu thường bảo ở Tô Hoài, chẳng có một tư tưởng gì thành hình cả.
&nbsp;
28/12
Chắc chắn phải nói Tô Hoài là một con người có đến hàng chục bộ mặt.
- người thợ cửi cần mẫn và người người ngoại thành thớ lợ
- anh văn nghệ chuyên nghiệp và ông quan cách mạng, biết tất cả đòn phép
- kẻ trọng đời và kẻ khinh bạc, thô bỉ.
….
&nbsp;
11/1/1995
Báo Văn nghệ cuối năm 1994 mở cuộc hội thảo về cuốn Đổi mới và văn hoá của Phạm Văn Đồng. Mời cả những Nguyễn Đình Thi, Vũ Tú Nam, Tô Hoài, Hoàng Ngọc Hiến. Nhưng Tô Hoài không đi.
Từ năm ngoái năm kia, khi Phạm Văn Đồng đang viết cuốn này, nghe nói Tô Hoài có viết Đề cương văn hoá, Phạm Văn Đồng đã mời Tô Hoài lên gặp nhưng Tô Hoài không lên và Tô Hoài bảo với Trần Việt Phương là giá anh Đồng mời tôi lên ăn cơm thì tôi lên, nhưng chuyện này thì thôi, anh miễn cho.
Nhân đây, thử làm một sự thay đổi tính cách theo hoàn cảnh.
Tại hội nghị về văn hoá và đổi mới (sách của ông Đồng), Nguyễn Đình Thi cũng có dự, và ông Thi phát biểu rất hăng. Đây là lần thứ hai ông Thi dự buổi “sinh hoạt khoa học” kiểu này (trước đó, ông ở Sài Gòn, người ta đã làm, đã mời ông Thi), ông Thi bảo nghe được nhiều ý rất hay.
Ông Nguyễn Kiên còn nói là tại hội nghị này, ông Thi bảo có những người sinh ra đã là nhà văn hoá, trong đó có anh Tô.
Nhưng thử nhớ lại chuyện cũ.
Năm đó, ở Liên Xô, đang chế độ Breznhev, và người ta cho in ra mấy cuốn Đất nhỏ, Hồi sinh. Chính Bùi Văn Hoà - có vợ làm ở báo Nhân Dân - kể với tôi rằng báo này đặt một bài về cuốn sách, ông Thi không nhận, còn ông Tô Hoài thì nhận và viết luôn. Hồi ấy, bọn tôi vẫn sợ cái lối bất cần của Tô Hoài. Thế nhưng hai mươi năm sau, ông ấy lại cười vào mũi sự có mặt của Nguyễn Đình Thì, cũng như của những người khác. Có sự đổi vai.&nbsp;
Một chuyện khác, liên quan đến sự biến báo khôn ngoan của Tô Hoài. Gần đây, sách ông ra nhiều, ở đó, có sự ngẫu nhiên mà cũng có bàn tay tạm gọi là chịu xoay xở của ông. 
Ví dụ như 3 tập Tuyển tập Tô Hoài. Trừ tập một là truyện ngắn trước đây, đến hai tập sau toàn là truyện vừa, truyện dài, hồi ký (Quê nhà, Tự truyện, Cát bụi chân ai…) Tôi đoán: đó là vì ông muốn để truyện ngắn sang khu vực sách riêng. Đã có người in cho ông một tuyển tập truyện ngắn trước 1945. Giờ lại có người chọn cho sau 45 (2 tập). Vậy thì, với cái tính coi thường mọi thứ và lòng tham lam bẩm sinh, Tô Hoài tất phải làm thế. Nhưng khi tôi hỏi, có phải ý anh để tuyển tập cho truyện vừa, còn cái tập tuyển về sau cho truyện ngắn không, Tô Hoài lại bảo tất cả những việc này là do Hà Minh Đức tính cả, tôi phó mặc cho Đức mà không có ý kiến gì hết.
Có cảm tưởng Tô Hoài thấy cần thì họp, thấy không cần thì vắng, cố quên chuyện nào thì quên chứ thật ra chẳng quên chuyện gì -- tôi bảo:
- Anh còn chưa lẫn .
- Lẫn thì sống sao được.
- Như cụ Nguyễn Công Hoan, cụ ấy không những lẫn trong đời sống mà là lẫn trong văn học
- Anh Hoan suốt đời sống trong ảo tưởng.
&nbsp;
Tô Hoài “giết” mọi người
Về Nguyễn Xuân Sanh: Ông Tế Hanh làm thơ còn có lúc hay lúc dở. Ông Nguyễn Xuân Sanh này làm thơ, lúc nào cũng như lúc nào, lạ thế (Tế Hanh lúc ấy cũng có mặt, nói thêm: Đúng rồi, lúc nào ông ấy cũng gió lụa, trăng non mà. Với lại tôi nhớ, ông Nguyễn Xuân Sanh khi nói về ai, cũng chỉ nói rằng mình gặp ở đâu, lúc nào, mà không hề nói gì về tính cách người đó cả)
Về Vũ Tú Nam: Đọc ông này, không biết khi nào nhạt thật mà khi nào nhạt giả cả.
Về Sao Mai: Dộc (khỉ) lên làm người, cứ nhắng cả lên.
Mở lại sổ tay, một câu của Tô Hoài lúc nói chuyện ở Văn nghệ quân đội khoảng 1971: Nghề văn là một nghề phải biết huy động sức mình một cách đúng đắn nhất.&nbsp;
Lại chuyện Nguyễn Xuân Sanh. Buổi quay ti vi Vũ Đình Liên 70 hay 80 gì đó. Quay xong Tế Hanh, thì đã 11h30, tay quay phim nó đề nghị vậy thôi, trong kịch bản còn có mấy lời về Nguyễn Xuân Sanh, nhưng xin cũng thôi. Thế là Nguyễn Xuân Sanh kêu ầm lên.
- Tôi phản đối. Không thể gạt tôi ra ngoài được. Nếu thế này, tôi sẽ đi kiện.
Mọi người sợ quá, phải bào vậy thì chiều làm xong.
&nbsp;
21/2/95 
Một ông học việc ở Hội văn nghệ Hà Nội khoe:
- Cụ Tô Hoài vừa gửi cho một phong bì tướng. Hoá ra hơn một tháng tết, cụ tương ra đến hơn hai chục bài. Khối điều đáng đọc chứ tưởng.
Về sau Tô Hoài bảo tôi:
- Trong khi 3 cuốn tuyển tập được hơn năm triệu, thì 6 bài báo ở Sài Gòn đã được 6 triệu. Mà nó phải giả thế chứ. Nó yêu cầu tôi viết chứ tôi có gửi cho nó đâu.
Nhân chuyện báo Người Hà Nội, bị phê bình về đăng một bài liên quan đến pháo, rồi Vũ Quần Phương có ý kiến như thế nào đó, Tô Hoài hơi bực, bảo với bọn tôi: Thằng Vũ Quần Phương nó không giống như anh em mình ở đây đâu, nó nhảm lắm. 
Ngọc Trai: Anh em họ đồn anh Tô Hoài duyệt bài đợt này để hại Vũ Quần Phương.
Tô Hoài: Mình giết Vũ Quần Phương thì “như giết rận” , lúc nào chẳng được.
Bà Hoàng Ngọc Hà kể về việc báo Người Hà Nội bị phê bình. Ban đầu ông Tô Hoài định chống, nhưng sau bọn mình phải nói, ông ấy mới nhận. Tại hội nghị, ông ấy bảo tôi nhận là tôi khuyết điểm nghiêm trọng. Vì lúc nhập tôi chỉ nghĩ đến cái Đường Tăng. Tôi chỉ nghĩ đến Phật, hoá cái pháo nó hại tôi.
&nbsp;
8/3/1995
Tô Hoài kể: Mấy hôm trước Đại hội nhà văn, bọn Nguyễn Quang Thân, Cao Tiến Lê, gọi điện đến bảo phen này sẽ bầu Tô Hoài làm Tổng thư ký, Tô Hoài cười ruồi: Mình già rồi, làm sao được.
Tôi khái quát non: Tô Hoài rất phù hợp với tình hình bây giờ. Lúc này mọi chuyện đang rã ra, giống như chiếc xe hỏng, vặn chặt quá không đi được. Ông Tô Hoài mà làm thì ông ấy cũng chỉ lo tàm tạm một ít việc chính, còn mặc kệ, cái đó lại hay.
(Nhớ có lần, Nguyễn Khải kể Tô Hoài rủ Khải làm một cặp lãnh đạo Hội. Khải nói đùa :Thế thì ra hội Ba Giai Tú Xuất đích thực.)
&nbsp;
17/3/95
Trong Đại hội nhà văn kỳ này, Tô Hoài được mời vào chủ tịch đoàn. Ông cắt nghĩa: Nó phải dùng tôi, vì những mặt khác, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Bùi Hiển hoặc quá bệt, chả ra gì, hoặc như ông Thi lại ấm đầu thì chết.
Ban chấp hành bảo Tô Hoài tham luận, ông mặc cả: chỉ tham luận về văn nghệ Hà Nội. Lúc kíp Vũ Tú Nam bị thay, tôi hỏi chuyện, ông bảo, chả có cảm tưởng gì cả, bọn nó chết là phải.
Hữu Vinh khái quát, Tô Hoài, đó là tài năng, là sức bật, nhưng trước tiên, là một ông già thực dụng.
Sau Đại hội, Tô Hoài trả lời báo Tuổi trẻ, cho rằng Đại hội này là Đại hội tan rã. Ban chấp hành cũ đứng ngoài đời sống văn học, đứng ngoài các cuộc tranh luận, cuối cùng lại đứng ra phán xét, và trong trường hợp bị trên đánh, lại tố cáo nhau, đun đẩy nhau, như thế thì tan rã cũng đáng.
Thật là không phải Tô Hoài không ai dám nói, và người ta cũng không dám đăng. 
Không có gì lọt qua mắt ông cả. Theo Tô Hoài nhớ, trước khi bầu cử, Vũ Tú Nam còn nói với ông, anh về làm chủ tịch đi, tôi làm Tổng thư ký cho anh. Nhưng đến khi không được bầu thì lại bảo may quá tôi được thôi - thật là mỗi lúc một giọng.
&nbsp;
3/6/1995
Tô Hoài kể là đã viết một loạt bài điểm sách cho Văn nghệ quân đội, trong đó có bài về Thư mùa đông của Hữu Thỉnh.
- Thơ phải miên man, nhưng đây đã thành ra lan man ba vạ.
- Thơ phải có chữ (Lê Đạt: nhà thơ là phu chữ). Còn Hữu Thỉnh, có cả một bồ chữ quẩy đi, nhưng toàn chữ đồng nát.
Bài này VNQĐ không đăng, nhưng Hữu Thỉnh khá cao tay, vẫn mang về đăng ở báo Văn Nghệ hay Văn Nghệ trẻ gì đấy.
Tôi nghĩ ông già tai quái, và cũng biết tận dụng tuổi già của mình, nên mới dám viết thế. 
- Có phải anh từng viết một truyện tên là Tính ác?
- Ừ, tôi chỉ kể chuyện tôi thôi. Lúc nào cũng có trong cặp những hòn gạch. Gặp chó là ném.
&nbsp;
18/7/95
Tô Hoài, đó là văn xuôi, một thứ văn xuôi tự phát, cứ chảy ra, rỉ ra, lan ra chung quanh lan ra trong cuộc sống hàng ngày, mạch văn đó không bao giờ cạn. Giống như con người đó sống vui chơi viết văn không bao giờ biết mệt.
&nbsp;
27/12/1995
Từ sau khi “bảo vệ” cái Đề cương văn hoá thất bại (Đình Quang làm chủ tịch Hội đồng nghiệm thu), Tô Hoài không sờ đến cái bản đề cương này nữa thì phải.
Tháng 7 tháng 8, ông kêu nóng. Giờ thì lại kêu bận. Lại nhớ ý của Ma Văn Kháng: Lão này hay tạo ra cái sự già của mình, bán già, cậy già, thì làm gì được nữa.
Có một lần, tự nhiên Tô Hoài bảo tôi:
- Bọn Sài Gòn giải phóng nó biếu báo mình thường xuyên, mình không đến lấy được, ông ở gần đấy đến lấy đọc, rồi quẳng vào nhà mình lúc nào thì quẳng.
May quá, lần ấy tôi nghĩ ra kế từ chối.
- Chỉ mang đến nhà anh, tôi đã ngại rồi, cửa đóng im ỉm mà lại cửa phên, gõ không kêu, trong nhà không nghe tiếng, lắm lúc đứng mỏi cả chân ở ngoài.
Tô Hoài lảng ngay.
Nhưng quả thật, trong thâm tâm, tôi không bằng lòng, ông này coi thường mình quá, ai đi làm cái trò khỉ ấy hộ ông được.&nbsp;
Nguyễn Kiên kể, có một việc ông Tô Hoài làm tôi (N.K.) không phục. Đó là sau khi mất chức ở Hội, ông ấy lại gửi thư đến Thành uỷ, xin tiếp tục làm Tổng biên tập tờ Người Hà Nội.
Hỏi lại Bằng Việt thì đúng là có chuyện đó thật.
Đầu năm Bính Tý, ông Tô Hoài gửi thư đến Nhà xuất bản Hội Nhà văn, trách là sao không in cái nọ cái kia của ông và đòi lại mấy bản thảo.
Mọi người chạy cuống cả lên, nhưng tôi cứ ì ra. Sau hãy hay, tôi bảo Ân.
- Ông ta nói vậy để doạ thôi; người như thế, chỉ giơ cao đánh khẽ.&nbsp;
Tối nay 4-3-96, gặp nhau (= họp) ở chỗ Ngọc Trai về, tôi đi bộ với Tô Hoài một quãng. Trong buổi tối cuối đông, đường phố xao xác, Tô Hoài nhớ mấy câu thơ Tản Đà đề ở đầu bản dịch Liêu Trai
Nói láo mà chơi, nghe láo chơi
Vườn dưa lún phún hạt mưa rơi
... 
Tôi tự nhiên cảm động, cũng nhắc những chuyện biển dâu lạ lùng quanh mình. Ông Hoàng Ngọc Hiến nói làm nhàm về văn hoá, đã được mời đi Mỹ. Bằng Việt chết vợ, người vợ trụ cột của gia đình. Ông Văn Tâm đề cao Đoàn Phú Tứ đến mây xanh, và được báo ở Sài Gòn gọi là học giả. Cái lối nói bừa của một người như Phan Ngọc, ông ta tự nhiên trở thành nhà tư tưởng của đổi mới. Ở Thư viện, những người thủ thư trò chuyện như ngoài chợ, bất chấp chung quanh bọn tôi mầy mò trên từng trang sách. Thư viện nhiều sách cũ nát. Những con chuột mò vào tận ô phích và tha cả vỏ quýt lên phích để ăn. Dưới nhà tôi ở, mỗi buổi sáng người ta quạt lò khiến tôi không thở nổi nữa. Chiều 3-3, dẫn con đi trên chuyến tàu hoả của trẻ con, ở Công viên Bảy Mẫu, nhìn hai bên đường, thấy cỏ cây cũng gợi trong lòng nhiều bịn rịn, như những lúc khác đi trên chuyến tàu hoả thực sự.
.. Lúc này, trong buổi tối này, rằm tháng giêng, nhớ lại 20 năm qua, những buổi đi chùa, thấy như một kiếp nào khác, mình không còn là con người hôm qua, thời gian đã huỷ hoại mình tới mức không sao tìm lại được nữa.
&nbsp;Bởi đi bên Tô Hoài nên tôi mới nghĩ được như vậy. Tô Hoài là người rất hiểu cái phôi pha của kiếp người, Tô Hoài có cái chất nghệ sĩ riêng, mà khi vứt cái phần cán bộ bon chen đi, thì nó vẫn còn nguyên vẹn ở bên trong.
&nbsp;
9/5/1996 
Ngày 24-4, đề tài KX- 06-17 bảo vệ thành công cuộc nghiệm thu ở cấp cơ sở. Gặp tôi lần nào Tô Hoài cũng chỉ nói là ông oằn ra mà làm, chán lắm. Cứ ghép ghép bài của mọi người vào thành bài của mình, chỉ được cái - Tô Hoài cười mỉm - bây giờ tôi cũng vẫn không ngại viết, tôi chép tất cả bằng chữ tôi, nên không ai nghi ngờ được. Cứ nói mạnh về Cụ Hồ vào là đề tài nào cũng ăn tuốt.
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhân bàn về tình hình Hội, Tô Hoài kể tôi nhận được cái thư của Ban tổ chức sáng tác rồi. Trả lời ngay thôi. Nhưng các ông ấy lại bảo là trả lời của mình ngắn quá. Tô Hoài cười ranh mãnh.
- Tình hình Hội bây giờ chán lắm. Văn chương phải có cây cao bóng cả, chứ cứ cá mè một lứa thế này không được - xuất phát từ sự chán nản sẵn có tôi kêu phụ họa. 
Nhưng Tô Hoài phản ứng theo cách khác, và phản ứng cũng rất đúng.
- Cây cao bóng cả thế nào. Ngày trước Thế Lữ lừng lẫy là thế, mà khi Xuân Diệu xuất hiện, là Thế Lữ thôi hẳn. Bài thơ cuối cùng của Thế Lữ là bài Khói huyền lên, người tự tay chép để làm kỷ niệm.
Còn như Tản Đà, sau này người ta quý hoá Tản Đà thế nào không biết, nhưng lúc bấy giờ thơ Tản Đà không báo nào đăng. Tản Đà phải mở cừa hàng đoán số và đi dịch thuê. Tại sao không đăng, vì, với người ta, mấy năm ấy, của Tản Đà không còn là thơ nữa, báo nào đăng người ta cười cho.
Ở ta bây giờ bọn các ông Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh cứ chiếm chỗ sang trọng nhất ở các báo, như thế còn ra cái nghĩa lý gì .
&nbsp;
23/5/96
Đọc lại báo chí kháng chiến, báo Cứu quốc, thấy Tô Hoài lúc nào cũng có mặt viết cho thiếu nhi, viết cho người lớn, viết bài ngắn, viết bài dài, đủ cả.
Nguyễn Kiên kể về cách mắng mỏ của Tô Hoài. Chẳng hiểu sao, Xuân Tùng cũng lại dở dói ra in Cát bụi chân ai 800 bản. Ông Tô Hoài viết thư cho Nguyễn Kiên.
Ông Kiên 
In lại Cát bụi chân ai 800 bản thì in làm gì ? Tôi xấu hổ.
Ký tên: Tô Hoài
Nguyễn Kiên biết như thế là Tô Hoài giận lắm, phải trả lời thư đầy đủ.
Bà Phương phát hành thì bảo: Chính ông Tô Hoài này là to mồm nhất (về chuyện nhuận bút).
Tìm lại ghi chép về Tô Hoài thấy mấy ý của Nguyễn Minh Châu
- Đọc Tô Hoài, cứ có cảm tưởng người lớn mà còn chơi bi.
- Đọc văn tôi thấy không ai xa rời đời sống như lão ta mà không ai tha thiết với cuộc đời này như lão.&nbsp;
Lại Nguyên Ân đọc lại Tiên phong và bảo rằng hồi đó, Tô Hoài đã hiện ra như một tay hiểu hết sự đời. Vì thế mới có chuyện bá vai bá cổ kéo nhau đi làm cách mạng, vào thành Sơn Tây để mang về lấy một cái ghế.
Nhưng nhiều lúc lại thấy ông này có cái gì khinh bạc lắm. Cách mạng là gì, là một lũ lông bông, đi tìm cảm giác, và Nam tiến là như thế, cả cuộc chống Pháp là như thế.&nbsp;
Thứ bảy 27/7, Đặng Tiến từ Paris về Hà Nội, có tin vậy.
Lâu nay, thấy Tô Hoài coi Đặng Tiến rất thân mật. Nào là gửi sách đi cho Đặng Tiến, nào nhận thuốc do Đặng Tiến gửi về. Hoá ra, hai người chưa gặp nhau bao giờ. Những lần trước, toàn là trong thư từ. Nhưng Tô Hoài cũng khoe:
- Một công việc ông ta đang theo đuổi là dịch Cát bụi chân ai ra tiếng Pháp.&nbsp;
Sáng 1/8, Tô Hoài gọi điện cho biết Đặng Tiến về, kêu là bị “bám” ghê quá, biết thế không về. Nhưng theo Tô Hoài, Đặng Tiến cũng đã kịp đi gặp Lê Đạt, Trần Dần.
Nhân nói về sáng tác, Tô Hoài kể dông dài một hồi, rồi nói đến bản thân.
- Tôi đang định viết một quyển sách, đã đóng giấy xong rồi, sẽ viết được - mang tên Những câu chuyện với Lão Sóng. Trong đó, tôi dành một chương nói về việc đi thực tế ra sao, một chương nói về những chuyến đi nước ngoài ra sao. Đi xong rồi về lại kể cho lão Sóng -- một người chả đi đâu bao giờ.
- Có phải cụ Sóng ở Thái Bình?
- Đấy, cái nhân vật tôi từng ghi nhật ký đấy (đọan nhật ký trích in trong Một số kinh nghiệm viết văn của tôi, 1960. )Tôi sẽ viết về nửa thế kỷ làm văn chương, làm đủ mọi thứ trên đời, viết đủ mọi thứ mà thực ra, không hiểu rằng mình là người thế nào.
- Cái đề tài ấy của anh thì hay quá rồi.
- Tay Đặng Tiến nó bảo nó cũng định viết về tôi như thế. Tức là tôi cứ phập phù chơi bời, mà cũng được một cái gì đó.&nbsp;
Mùa hè này, 1996, Tô Hoài sống như thế nào? Tháng bảy, từ 10-20, lên Kim Bôi nghỉ với con cái. Tháng tám, lại lên Đầm Vạc, nghỉ theo tiêu chuẩn một cán bộ lão thành. 
Cười trong máy điện thoại. 
- Mình cứ nhênh nhang thế thôi.
&nbsp;
15/8/96
Có một việc nhỏ, tôi thấy Tô Hoài tùy tiện.
&nbsp;Sau khi Quê hương in ra ở NXB Hải Phòng (sách do tôi viết lời giới thiệu và chú thích) tôi nhờ ông liên hệ với Trần Xuân Trường (con Nguyễn Tuân) - việc này do chính ông đề xuất. Nhưng rồi, ông lại nhắn cho Vạn Lịch, Vạn Lịch nhắn cô Giang đến đòi tiền tôi - trong khi trước đó Tô Hoài lại bảo tôi đừng đưa cho cô Giang. Thế là cứ loạn cả lên.
Nguyễn Đình Nghi: Thà cứ như ông Hoài Thanh khiếp nhược, sợ hãi Tố Hữu, đằng này, Tô Hoài lúc thế này, lúc thế khác, không chịu được.
Nhưng này,-- vẫn lời ông Nghi-- suy cho cùng, lúc cuối đời ông Tô Hoài ông ấy phản tỉnh là có lợi. Vì ông ấy đã vào sâu trong giới rồi mà. Ai biết lãnh đạo văn nghệ bằng ông ấy được.
&nbsp;
&nbsp;7/9/96
Tự nhiên, nghĩ về già, Tô Hoài như muốn trả một mối hận là lâu nay, phải nói xấu mọi người một cách lén lút, phải ép mình sống với mọi người cho xong đi. Giờ đây, Tô Hoài muốn để cho cái con người lâu nay bị lép vế trong mình lên tiếng, nói công khai mọi chuyện, chả sợ mất lòng mất bề gì cả.
Nguyễn Đình Nghi: Trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài bảo rằng Nguyên Hồng mắng Tô Hoài (trong vụ Nhân văn) “Tiên sư thằng Câu Tiễn “ (hay đại khái một câu như thế). Nhưng tôi không tin, Nguyên Hồng không nói thế, Tô Hoài nói cho sang thôi.
1/12/96
Những chuyện của Tô Hoài, ghi trong chuyến đi Tiên Yên - Móng Cái.
Đứng trước biển Trà Cổ, buổi sáng:
- Bãi biển hoang sơ tới mức mình nghĩ cứ như miếng gỗ tươi, chả biết dùng vào việc gì.
Mà đây là lần thứ hai tôi đến với Trà Cổ đấy nhé. Lần trước, tôi đi làm cho hãng Bata, phải ra đây cộng sổ cho nó vài tháng một lần. Ngỡ như từ lúc ấy đến giờ, bãi biển vẫn vậy.
Nhân đó, nghĩ về các đồng nghiệp.
- Này, Nguyễn Tuân từng có một truyện ngắn đề là tặng ông Nguyễn Ngọc Côn thư ký giây thép, nhớ Móng Cái. Nhưng hồi ấy đã đến Móng Cái đâu, chỉ nghe ông ấy nói trong thư mà viết lại. Chính cụ ấy bảo với tôi như thế.
- Hôm nọ, Tố Hữu mới đến chơi mình, ông ta chửi ghê lắm. Ông ta bảo 10 năm nay là gì, là sắp xuống hố cả một lũ.
Cái quyển Cát bụi chân ai này, tôi cũng chẳng mang tặng, lão ta mượn đâu của lão Bổng mang về đọc. Đọc xong nghe đâu bảo tôi (tức là Tô Hoài) toàn nói chuyện lăng nhăng. Nhưng gần đây trong một buổi họp (hình như trao giải Hồ Chí Minh), ông ấy mới bảo rằng hồi ấy bao nhiêu anh em có sáng tác của người ta, và đấy mới là cái mà một người viết hồi ký phải viết.
Xưa nay, những khi gặp Tố Hữu, tôi cứ đủng đỉnh suy nghĩ theo cách của mình. Ví như cái lần ông ấy bảo, để nguyên mình nói về Định Công cho cậu nghe, tôi nghe một lúc rồi hỏi lại.
- Thế những thằng cũ làm sai có sao không, hay chính các ông sai hôm qua hôm nay lại trở thành ông đúng.
Thế là Tố Hữu cụt hứng, lão vẫn chửi mình là cái thằng hoài nghi mà.
Nhưng tôi cũng vừa chơi cho Tố Hữu một vố. Tôi đến rủ lão cùng Kim Lân về quê Nam Cao (nhân kỷ niệm 45 năm ngày mất của ông ?). Sáng hôm nay là đi đây. Nhưng đi với các ông rồi thì còn đi sao được. Hôm qua, tôi đến viết cho Kim Lân mấy chữ, bảo rằng hôm nay tôi bắt buộc phải đi theo một chương trình nhà nước. Giờ này, chắc hai lão đã đi rồi.&nbsp;
Nói chuyện với Tô Hoài khi về già, thể nào cũng phải có vài câu dính tới chuyện ngủ nghê trai gái. Hình như ông không làm được nữa thì nói cho sướng miệng chăng?
Tôi nhớ ông hay kể lại câu chuyện một lão gìà, sống bằng cái nghề đi kiếm rác và bảo những quả bóng cao su là làm bằng ca pốt mà trai gái ngủ nghê thải ra. Thật tởm.&nbsp;
Kể về Xuân Diệu:
- Lão ấy hay có lối bắt mình khép hai đùi lại, để lão ấy nhổ nước bọt vào và cui, coi mình như đàn bà.
Chính tôi (Tô Hoài ) là người được Xuân Diệu mời đi dự cuộc nói chuyện văn chương đầu tiên. Đó là buổi nói chuyện thanh niên với quốc văn. Lần ấy, Xuân Diệu còn lắp bắp lắm, ngay câu đầu đã nói nhịu, tâm hồn Việt Nam thành tâm l… Việt Nam, mình nghe sợ quá, nhưng được cái lão ấy nói giỏi, lướt ngay sang ý khác, nên cuốn được người nghe theo ngay.&nbsp;
Bàn chuyện in ấn:
- Này có lẽ kỳ này vào Sài Gòn mình quăng mẹ nó cuốn Ba người cho một nhà xuất bản nào đó, có được không?
Nói về Vương Trí Nhàn và Hoàng Ngọc Hiến:
- Hiến nhiều lúc có nhiều khía cạnh ngây ngô, nhưng cậu ta tận tuỵ với tư tưởng của mình. Còn Nhàn thì ông blaser quá, tức là chai sạn mất rồi, có nhiều ý tưởng nhưng chưa làm đã chán, thì còn nên được trò trống gì !
&nbsp;
23/2/97
Sau khi đi Đông Bắc về, Tô Hoài viết được một cái ký, cứ rỉ rả mà kể. Gặp đâu kể đấy, vừa tả cảnh trước mắt vừa cài chen ý nghĩ của mình, vậy mà đọc có duyên lạ.
Hôm nay, nhân việc giới thiệu thể tuỳ bút, đọc lại Cát bụi chân ai, tự nhiên tôi đâm buồn. Tôi không có cái cốt cách nghệ sĩ như các nhà văn. Một người như Tô Hoài, là một cái gì kỹ càng mà lại tự nhiên lắm. Ông sống những cái hàng ngày, một cách bình thản, và ghi nhận nó trên giấy, như là gặp đâu viết đấy, ông không có cái sự cố ý muốn tổng kết muốn lý sự của bọn nghiên cứu. Cũng không lo quá những sự liền mạch, những chuyển đoạn, sang đoạn mới. Cả câu cú cũng linh tinh nữa, chỉ được cái duyên dáng kéo đi và những đoạn nhung tuyết nó che đi những đoạn tầm phào. Cái gọi là bản lĩnh làm người bao giờ nó cũng quyết định văn chương. Cái điều ấy thấy ở nhiều người, với Tô Hoài lại càng là rõ. Sự run rẩy chỉ nên là bên ngoài, còn bên trong có cái căn cốt thật vững, thì việc đời mới giải quyết nổi.
Lại nhớ những lần gọi điện cho Tô Hoài. Bao giờ tôi cũng nghe đâu đấy bên kia có người nhấc máy lên, nhưng không định nói. Chờ tôi nói trước đã. Tô Hoài đây rồi, chắc là ông làm thế, để nếu nghe bên này một người xa lạ với ông, một người ông đang ghét, là ông bỏ máy xuống luôn. Nói chung, ông đã có nhiều thứ quan hệ quá, nên phải tìm cách tự vệ, tức là cái làm sao cho đỡ làm phiền mình. Có việc đến nhà, ông dặn nếu thấy khoá cửa cứ bấm chuông.Tức là ông vẫn ở nhà, nhưng vợ đi chợ có khoá cửa lại và chỉ những người khách có dặn trước mới tiếp. Cũng chẳng buồn rót nước mời khách nữa.
- Nhà anh có cây quất đẹp quá.
- Người ta cho đấy, chứ mình không mua bao giờ. Tuyệt đối không.
Luôn luôn là thế, một cách dửng dưng với đời, nghĩa là không hết lòng với cái gì cả. Đúng thế, nhưng hỏi thăm đám ma Trần Dân, ông vẫn kể là ông có đi đàng hoàng, lại có theo xuống mộ về tận Hà Đông nữa.
&nbsp;
15/3/97
Đọc S. Zweig viết về ba bậc thầy và nghĩ tới Tô Hoài. Xưa nay, những nhân vật lớn có gì quá khổ, và sự kỳ lạ của cái thế giới hiện đại này là cả những nhân vật hầu như chẳng lớn gì, cũng là những thứ quá khổ. Tô Hoài kỳ lạ lắm.
Nói tới Tô Hoài hồi kháng chiến bao giờ Nguyễn Đình Nghi cũng nói rằng ông Tô Hoài rất đúng quy lát, Tô Hoài nói về thi đua rất hay. Và cái lạ nhất theo Nguyễn Đình Nghi là trong thời kỳ ấy, Tô Hoài viết Lão đồng chí bằng cách lấy truyện Những người bất khuất của Gorbatov ra làm lại.
Tôi muốn suy ra rằng nếu chất người của một số người Việt Nam ta là ma, thì Tô Hoài là một thứ ma thượng thặng, ma đến tận đường gân thớ thịt. Là ma, nên sống thế nào cũng được. Nên không biết sợ là gì. Nên cảm thấy mình có mặt ở mọi nơi. Nên lẩn khuất, sợ hãi, mà lại hăm hở hưởng thụ. Và có cả cái tiểu nhân của sự hơn người, đúng ra là ta chẳng kém gì người.
Sáng nay, 15/3, tôi có công việc phải làm với con gái Tô Hoài, và tôi lại chợt nhớ ra chất ma nơi ông.
- Làm việc với ông già, chỉ có cái thú là ông không giận lâu, có cái gì ông cũng tha ngay được.
- Ừ, bố em tiếng thế mà quên nhanh lắm, có gì là quên luôn.
&nbsp;
19/4/97
Lại Nguyên Ân kể về làm phim Ngày ấy bây giờ tạp chí Tiên Phong
- Ông Tô Hoài tỏ ra khá dị ứng với ông Học Phi. Ông không ngồi chung với Học Phi. Tôi phải bố trí quay riêng.
Nhưng bỏ lão Học Phi làm sao được. Trên giấy tờ chính thức, hồi ấy Học Phi vẫn là Tổng thư ký Hội văn hoá cứu quốc.
Ân: Nói chung, nét tâm lý chính của Tô Hoài khi nói chuyện hồi tìền khởi nghĩa, là coi cái gì cũng nhảm cả, bản thân lão ta cũng nhảm nốt. Tuyệt đối không thần thánh hóa như những người khác.
&nbsp;
29/4/97
Thứ sáu 25/4, bọn tôi mấy người gặp nhau. Nguyễn Nguyên ở Sài Gòn ra,gọi thêm Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân. Nhân đó lại bàn về Tô Hoài.
Ông Nguyễn Nguyên: Tôi chưa đọc lại những cái Tô Hoài viết sau 45, nhưng những cái viết trước 1945 ghê thật.Tôi nhớ một truyện ngắn mang tên Xóm ao sen, một anh chồng giận vợ đánh vợ vì có lần, gánh chèo đến hát ở làng, vợ lại cứ cười cười với cái thằng diễn Sở Khanh. (Nhàn: cái chính là Tô Hoài tả được cái vô lý của cuộc đời). Hoặc những trang rất nồng nhiệt trong Xóm giếng ngày xưa, cái đó ghê chứ. Hoặc Quê người. Toàn những cái khá cả.
Hoàng Ngọc Hiến: Ông Tô Hoài hơi thiệt vì người ta chỉ nói đến Dế mèn phiêu lưu ký. Chứ thực ra, Trăng thề của ông ấy là một kiệt tác.
&nbsp;
21/5 
Giữa lúc có mặt mọi người nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Hội nhà văn, Lê Đạt nhắc lại câu đùa mà tôi đã được nghe mấy lần : 
- Tất cả già đi, và trông anh nào cũng đểu giả, chỉ có lão Tô Hoài là đểu thật.
Tô Hoài cũng cười. Rồi Tô Hoài nói nhỏ với Lê Đạt cái gì đó. Thì ra Tô Hoài nhắn là ít hôm nữa 100 ngày Trần Dần, nên gặp nhau một bữa.
Quay ra phía tôi, Tô Hoài cắt nghĩa: Thằng Trần Dần lạ lắm, có gì nó cũng gọi mình, hôm được Hội Nhà văn khôi phục, nó cũng đến mình, báo cho mình biết.
Hay là thằng Doãn Quốc Sĩ. Mấy năm trước ở tù ra, trước khi vào Sài Gòn, nó cũng đến thăm mình đấy chứ , nhưng không gặp.
&nbsp;
14/8/97
Vũ Quần Phương kể :
&nbsp;- Ông có một cái gì tạm gọi là không biết sợ. Trên Thành uỷ họ bảo Hội Văn nghệ phải làm cuộc mít tinh giới trí thức Thủ đô phản đối bọn Campuchia phân biệt đối xử với Việt Kiều. Mình than phiền với ông, làm thế nào bây giờ, trên không cho tiền, mà quỹ Hội thì tiếc tiền. Ông nghĩ một lúc rồi bảo: Thôi được, để việc này mình làm cho. 
Thế rồi, mấy hôm sau, trên báo Hà Nội mới đọc được mấy dòng tin:
“Hội Văn Nghệ Hà Nội mít tinh phản đối nhà cầm quyền Campuchia”
Đoán ra thắc mắc của mình, ông bảo:
- Xưa nay tôi vẫn làm thế. 
-...
- Cậu bảo không khôn sống sao được. Sau vụ Nhân văn, tội mình còn to bằng mấy tội bọn ấy, thế mà chúng nó đều phải đi cải tạo tận những Lào Cai, Yên Bái, mình cứ ở giữa thủ đô, làm đến Bí Thư Đảng uỷ Hội Nhà văn. Phải biết sống chứ.
Vũ Quần Phương kể tiếp:
- Tôi hỏi anh nhận cái chân trưởng ban nếp sống mới thành phố làm gì. Ông bảo tội quái gì không nhận. Họp hành có mất thì giờ mấy tí, người như mình không họp chỗ này thì họp chỗ khác. Năm có dăm chục triệu tiền, tiêu cho giải thưởng một phần, còn tiêu cho mình, đi lại chơi bời tha hồ.
Hồi Nhật nó cho Phan Huy Lê cái giải thưởng, Hội Văn Nghệ Hà Nội cũng nhận được công văn hỏi xem có ai đáng đề nghị Nhật nó cho không. Tô Hoài bảo: Thì để cử luôn mình vào đấy, mất gì. Và ông làm hồ sơ, đòi Vũ Quần Phương ký.
Nhiều cuộc thi, Tô Hoài vừa làm giám khảo, vừa nhận giải thưởng. Cái thế của ông, khiến cho người ta không thể từ chối khi ông đã tỏ ý muốn nhận cái gì. Mà cái gì ông cũng muốn nhận cả.
Nhàn: Người đó phải không một chút mặc cảm trong đời sống hàng ngày.
Vũ Quần Phương: Đúng thế, ông hay nói, với nhiều con mẹ đàn bà, vừa ngủ nghê hôm trước, hôm sau giáp mặt không thèm chào. Ông còn trắng trợn lộ bem với mình: “Đi thực tế, có phải điều tra nghe ngóng cái quái gì cho mệt. Cứ kiếm một con mẹ xinh đẹp rồi đến ở với nó, suốt ngày ngồi nghe nó nói, thế là biết hết mọi chuyện.”
&nbsp;
2/4/98
Trần Chiến kể: 
- Có một lần, báo Người Hà Nộị phê bình một việc gì đấy, theo lời ông Tô Hoài, cô Thanh Nhàn xưa nay đã không đẹp, mà hôm ấy mặt còn như tờ giấy trắng, nghĩa là sợ hết vía. Tô Hoài phải cười trừ:
-- Thế thì để tôi lên vậy.
Và ông xách xe đi.
Nhưng loại như Tô Hoài nào có phải vừa, nên lên tới nơi, bọn nó đã sợ như cọp. Không đứa nào dám há mồm đặt vấn đề kiểm điểm báo. Toàn loanh quanh: Bác đi đâu ạ ? Bác có khoẻ không? Thế thì có cách rồi, cái cách rất Tô Hoài, nghĩa là lấy sự đùa ra đối lại. Bác đi đâu ạ, đi chơi thôi. Bác uống trà nhé, để chúng cháu đi pha. Trà thì uống làm gì, có rượu mua về đây. Cứ thế hết buổi sáng, cho đến lúc về, lão còn hỏi có việc gì không, thì mấy tay ở đấy cũng chỉ có cách bảo rằng không có việc gì cả.
Nhưng được một lần, về sau thì bọn ấy ngại. Những cán bộ tuyên huấn của Thành uỷ hoàn toàn hiểu rằng, còn dùng lão già này, còn bất lực không chỉ huy nổi.&nbsp;
Tô Hoài nhận định về Lê Đạt rất hay:
- Ơ cái anh chàng này không sợ chữ nhỉ.
Tôi không có mặt ở đấy, không rõ ý thực của Tô Hoài là như thế nào chỉ đoán với tất cả cái ma mãnh của một người làm nghề, Tô Hoài rất hiểu rằng chữ như âm binh phù thuỷ. Lê Đạt không phải là loại cao tay lắm, song lại cứ lảng vảng ở đấy, biết đâu chả có lúc vỡ mặt!
(Nguyên Ngọc: Lê Đạt có cái thú chơi chữ, nên thích Khương Hữu Dụng. Cả hai giống tính nhau. Nhàn: Nhưng muốn chơi là một chuyện mà biết chơi lại là chuyện khác)
&nbsp;
11/4/1998
Trong tháng 3/1998. Đào Vũ xoay xở để báo Văn nghệ kỷ niệm 70 năm ngày sinh của ông ta. Đào Vũ là loại mà lúc nói chuyện riêng với bọn tôi, Tô Hoài vẫn tỏ ý chẳng coi ra gì. Ông còn ngờ rằng Đào Vũ chép từ văn của đám tác giả Trung Quốc mà ông ta dịch. Ấy vậy mà Tô Hoài cũng đến dự buổi sinh nhật ấy, và tìm được một cách rất khôn khéo thế nào đó, để nói, vừa chả nói gì cả, nói mà chung quanh không thấy Tô Hoài bị phụ thuộc vào Đào Vũ.
Lại nhớ những lần Tô Hoài đề tựa sách của Đoàn Minh Tuấn, hoặc Tô Hoài kéo bè kéo cánh, mớm cho Đoàn Minh Tuấn đề nghị, để Nguyễn Văn Bổng cũng được giải thưởng Hồ Chí Minh như ai. 
Chi phối mối quan hệ với Hà Minh Đức là nguyên tắc “Ông mất chân giò , bà thò chai rượu”. Và ông bảo vệ người cộng tác với ông đến cùng.
Hồi 1978, tôi mới về làm ở nhà xuất bản Tác phẩm mới (sau này đổi thành nhà xuất bản Hội nhà văn), có lần gặp ông trên thư viện của bà Huệ, tôi hỏi thẳng: 
- Có phải anh đưa tất cả nhật ký của Nam Cao cho Hà Minh Đức? Nếu đúng thế, chúng tôi sẽ ghi thành một chú thích trong cuốn sách về Nam Cao để mọi người đều biết và sau này ai muốn tìm có chỗ mà tìm.
- Không, mình không nhớ.
Một cách lảng – đúng hơn cách nói dối --không ai làm gì được.
Có cảm tưởng con người Tô Hoài cũng giỏi -- không kém những Nguyễn Tuân lứa trước hoặc một người như Lưu Quang Vũ ở lứa sau -- trong việc tạo ra một triều đình quanh mình để phục vụ mình. Dùng người giỏi như dùng chữ.
Tô Hoài là người Việt Nam thực dụng và khi đã thực dụng thì vô nguyên tắc, Trạng Quỳnh Trạng Lợn một cách hoàn toàn tự nhiên.
&nbsp;
17/4/98
Nguyên Ngọc kể một lần Tố Hữu nói gì đấy, đại khái là chúng ta phải tự do sáng tác. Tô Hoài nói ngay (Nguyên Ngọc nhấn mạnh thêm “mà chỉ Tô Hoài mới dám nói kiểu vậy” )
- Thôi đi ông, đừng có xui dại anh em.&nbsp;
Chết một nỗi là đi đâu bây giờ, Tô Hoài cũng phải gặp Tố Hữu. Lại Nguyên Ân kể hôm đến Viện Goethe, Tô Hoài đang loay hoay thì nghe tiếng:
- Kìa chàng Tô, chàng Tô lên đây.
Và Tô Hoài lại phải bẽn lẽn lên vậy.
Một lần Nguyễn Phan Hách vụt kể:
- Này, đừng tưởng lão Tô Hoài lão ấy tha thiết với văn chương chữ nghĩa của mình đâu. Một lần, mình hỏi lão ấy có xem lại mo rát một truyện ngắn không.Thế là lão ấy buột miệng “Thôi, không phải xem, văn chương ba vạ của mình chứ có phải nghị quyết gì đâu mà cân nhắc từng chữ thế.”
&nbsp;
23/4/98
Hôm nọ, Tô Hoài hỏi tôi là bây giờ, muốn đọc lại những tài liệu về Trung Quốc hối cách mạng văn hoá thì tìm ở đâu. Tôi bảo không biết (không biết thật, không rõ thư viện có lưu trữ gì không).
Lại nhớ cái hồi đọc cuốn Một số kinh nghiệm viết văn của tôi, so hai bản 1959 và 1960, thấy Tô Hoài xảo thật. Ông nhét thêm vào lần tái bản rất nhiều đoạn của Trung Quốc (Mao Trạch Đông, Chu Dương, Mao Thuẫn) vào để cho ăn nhập với thời sự. Đến nay lại bỏ.
Lại nhớ, năm ngoái, trong một buổi họp về Nam Cao, một nhà nghiên cứu đối chiếu bản Chí Phèo in trong Luống cày, với Chí Phèo về sau thấy có nhiều chỗ sai lạc sửa chữa, và có những ý mới viết thêm. Chẳng hạn, những chi tiết như là Bá Kiến thấy tiếc đời, như là ông già, răng móm rồi, không ăn được thịt bò nữa vẫn thèm cái sựt sựt của nó.
Cái chi tiết sau cùng, thì có vẻ Tô Hoài quá rồi. Bản thân Tô Hoài cũng thú nhận.
- Bản thảo Sống mòn để hỏng, mất cả trang cuối, tôi viết lại theo trí nhớ rồi cho in.
Tô Hoài là vậy. Nhơn nhơn không biết sợ là gì. Nghĩ rằng mình làm ra văn học. 
Tuy nhiên, cũng có lúc Tô Hoài nhớ sai. Khi ấy, phải có chứng cớ có thật chắc mới cãi được. Như là chuyện Tô Hoài nói rằng, lúc kháng chiến, Nam Cao còn gọi tác phẩm của mình là Chết mòn, sau sửa mới chữa thành Sống mòn. 
Lại Nguyên Ân: Không, tôi đọc trong tạp chí Tiên Phong, đã thấy bảo là Sống mòn. 
Đến chỗ này, thì Tô Hoài chịu. 
Nói chung, Tô Hoài vẫn có cái vẻ của một người trong cuộc, người chủ nhà, muốn bịa đặt cái gì cũng không ai dám cãi.
&nbsp;
30/7/98
Nghĩ ra, cái đề tài sự có mặt của Tô Hoài. Thử đi hiệu sách, thấy bày bán đủ thứ nào Chuyện cũ Hà Nội, nào Mười năm. 
Ấy thế mà Tô Hoài vừa đi dự trại viết ở Đà Lạt về. Hình như, lúc nào Tô Hoài cũng đang ở đâu ấy - mà lại cũng đang ở nhà, lại có mặt trong đủ thứ sinh hoạt Hà Nội, từ một đám vui chén với bạn bè đến một buổi lễ kỷ niệm long trọng.
Thoắt ẩn thoắt hiện; không trốn hẳn, nhưng biết rút lui; không chỗ nào cũng có mặt như Nguyễn Xuân Sanh, nhưng thực ra, không cái gì là qua được mặt, và bao nhiêu quyền lợi, vẫn hưởng đầy đủ - Tô Hoài là thế. Là vừa làm báo, vừa soạn sách, vừa làm cái gần, vừa làm cái xa, làm tổ chức và viết văn, và không lúc nào chịu ngồi không.
Còn nhớ một lần, cô Sông Thao bảo với tôi:
- Bố em ngồi là từ sáng đến trưa, chỉ thỉnh thoảng mới đứng lên, vặn lưng vài cái.
&nbsp;Chẳng những có mặt theo nghĩa đen mà Tô Hoài còn có mặt theo nghĩa bóng (= theo nghĩa tiểu thuyết). Đó là biết hết mọi chuyện linh tinh trong giới văn nghệ và lúc nào cũng sẵn sàng viết những chuyện ấy ra. 
Tô Hoài là người lao động Việt Nam, lao động với nghĩa rề rà kéo dài. Tô Hoài là người chuyên nghiệp với nghĩa ăn tạp.
&nbsp;
28/10/98
Hôm nay bọn tôi gặp nhau để mừng ông Tô Hoài được giải thưởng Thăng Long. Làm ở một cửa hàng ăn phố Huế, Tô Hoài có quen riêng. Ông chủ nhà này trước làm ở sứ quán Pháp, Tô Hoài kể. Nhà hàng nhiều khách Tây ăn cơm tháng lắm. Có gì đâu, phải biết gu của họ. Miếng thịt bít têt không cần to mà cần ngon. Sáng nào ông chủ cũng tự tay xách bị đi chợ.
Trong lúc chờ ăn, Tô Hoài có vẻ chả để ý gì đến chuyện giải thưởng, mà chỉ hỏi chuyện linh tinh trong đó có tôi vừa đi du lịch bụi ở Trung Quốc.
&nbsp;Trong câu chuyện ai đó nói tới Nguyên Hồng và cái ý nói rằng cái ông này cũng chán lắm. Tô Hoài góp ngay, đúng thế. Tôi hay nói rằng Nguyên Hồng sẵn sàng tiêm cho người ta. Chỉ có một chi tiết phải nói thêm là tiêm xong, ông ấy lấy tiền đầy đủ, không lần nào từ chối hết.
Nhìn người ta in ra cuốn Tác giả văn học Thăng Long Hà Nội do Tô Hoài chủ biên, vẫn thấy rờn rợn về cái khả năng làm ma làm quỷ, đi với ma với quỷ của ông ta. 
Tô Hoài lạ lắm, khi nói chuyện với người ta thì gần gặn “như ngửa bàn tay cho người ta ngồi” nhưng khi đứng xa, thì khinh bạc, chả coi ai ra gì.
Tôi nhớ, đó là một thái độ mà tôi thấy ở Lưu Quang Vũ thái độ đối với đàn bà. Tôi thường cũng muốn ứng xử khôn ngoan tài ba như vậy, mà không được.
&nbsp;
9/1/99
Nhìn qua tập Chiều chiều của Tô Hoài được phân công biên tập. Nhận ra một con người luôn tìm ra cái để viết, người có trí nhớ kỳ lạ cái gì cũng nhớ, cứ làm như là mọi việc mới xảy ra ngày hôm qua vậy. Từng câu nói, cử chỉ của người khác được ông nhớ hết.
Kể chuyện là một cái tài mà không phải ai cũng có. Tôi cảm thấy sở dĩ một người như tôi, không viết được là vì lúc kể, tôi cứ định nhằm theo một cái hướng nào đó chứng minh cho một sự thật nào đó, tính mục đích của tôi quá rõ mà sức viết lại yếu.
Tô Hoài thì không thế. Tô Hoài nhẩn nha kể mọi việc, ghép chuyện nọ lẫn với chuyện kia, cũng không định thuyết phục ai, ấy thế mà lại đọc được. Cái chất văn của Tô Hoài nó nằm ở trong một cái gì ẩn dưới câu văn, ẩn dưới chữ nghĩa. Lẩn đi giữa các sự kiện, là những con người cụ thể, với những vui buồn. 
Như những đoạn Tô Hoài nói về M. Tkachev chẳng hạn, người ta thường nghĩ là Tô Hoài lợi dụng Marian, hai bên lợi dụng nhau nhưng đâu phải thế, trong lời kể về Marian, có cả những xót thương về một kiếp nhà văn, kiếp người cầm bút lận đận, cũng như những đoạn Tô Hoài nói về anh chàng say rượu Vlat, có sự thông cảm với mọi thói xấu của con người.
Cũng vì cái chất người đó, mà Tô Hoài đứng được trong nghề và quyền hồi ký này cũng đứng được. Tô Hoài tả những cuộc đấu tranh văn nghệ, những nghị quyết, những khai trừ, tổng kết tổng hợp, bằng con mắt của người bình thường và đó chính là lý do đoạn trên tả văn nghệ sĩ, đoạn cuối lại tả mấy ông người dân, hoặc bà cô đầu cũ. Thì có gì đâu, họ cũng là con người cả, ta đừng nên đề cao cái này và dìm dập cái kia, chả có gì khác giữa một ông nông dân và một nhà văn, chả có gì khác chuyện trong nước và chuyện quốc tế, cũng như chả có gì khác gìữa việc sáng tác với việc ngủ với đàn bà, hoặc làm một bữa ăn ngon.
&nbsp;
25/1 
Một ý nghĩ thoáng qua về Tô Hoài và cuốn Chiều chiều: sao toàn chuyện vặt. Xuống xã, đi làm nông nghiệp, làm phân. Xem cũng chẳng thấy có ý nghĩ gì mới về những người nông dân, về văn nghệ sĩ. Chỉ thấy những con người chả đâu vào đâu.
Những người dân, người như ông Ngải thiết thực như thế, nhưng có phải là còn mãi hay là cũng đang nhảm đi, có phải là một lý tưởng, hay chỉ là một thực thể làng nhàng, giữa cuộc đời nhiều va đập.
Sáng tác của Tô Hoài, đọc hấp dẫn mà nham nhở chắp vá như cuộc đời này. Nó không có cái thanh thoát, và vượt hẳn lên -- một thứ hoàn chỉnh nghệ thuật-- như ở Bùi Xuân Phái bên hội hoạ.
Lại đến đoạn nhà văn này đi quốc tế thì càng thấy rõ -- toàn chuyện vặt, chuyện không đâu vào đâu, văn học thế giới có nghĩa là mấy ông phiên dịch, mấy bà phục vụ khách sạn. Đọc thấy vui, viết được như thế đã là tài, nhưng trong thế giới này họ chỉ là hạt cát là ngọn cỏ, khác gì người mình nhà văn mình.&nbsp;
Cái trời phú cho ông ở con người Tô Hoài&nbsp; &shy;- khả năng sống trong nước đục, sống giữa những cái nhờ nhờ, tối tối, mà vẫn sống được.
Hai thứ khả năng trời phú để làm người cho dễ dàng, đó là:
1/ Đọc ra những mưu đồ, mong mỏi, ngụ ý của người khác trong công việc. Hiểu rằng người đời là ham ăn, truy tìm tiền của, kiếm sống, chen cạnh cốt hơn người. Không cần cố gắng, không cần phân tích cũng hiểu ngay cái tầm thường .
2/ Nhưng ngay đấy, dừng lại, tức có khả năng chung sống với những cái xấu ấy, khả năng phớt lờ, mặc kệ, không móc máy mổ xẻ, không đấu tranh muốn thay đổi nó, để rồi tự làm khổ chung quanh, làm khổ mình.
Lại nhớ Đức Hậu ở Thái Bình bảo tôi: Anh có khả năng nhận ra cái xấu, nhưng không có khả năng chung sống với nó.
Tô Hoài ngược lại. Cái khả năng chung sống với cái xấu ở Tô Hoài thì tuyệt vời.&nbsp;
Một bên là đời sống cụ thể của đám đông, ào ạt, to lớn, xô bồ, tạp nham, vụn vặt.
Một bên là cái đời sống cá nhân riêng tư, dù chỉ sương khói nhưng là những vu vơ, mơ hồ lãng đãng, hư hư thực thực.
Không hiểu sao, hai cái thế giới ấy lại chứa đựng được nhau, tựa vào nhau, nó làm cho Tô Hoài sống cân bằng nhẹ nhõm, lại tự làm giàu thêm cho mình.&nbsp;
Vậy Tô Hoài là loại nhà văn như thế nào, loại người như thế nào?
- Nhà văn của những quyển sách tầm tầm, những tha thiết thường trực và lặt vặt, nó bao trùm lên cuộc đời chúng ta.
Những người đáng nhớ trong Chiều chiều :
- ông Ngải
- ông coi kho
- ông lão với con chó ( Bùi Hòa bảo riêng đoạn này đã là một truyện ngắn cỡ thế giới)
- Marian
v.v..
Tóm lại, toàn là những con người đã lữa ra, cô đơn, gắng mà chèo chống, vừa buồn cười vừa bi đát trong sự gắng gỏi của mình.
Con người trong Tô Hoài, cũng như cái thiên nhiên chung quanh con người mà ông hay tả, nhạy cảm mau mắn độc đáo, kỳ lạ, nhưng mờ mờ, nhạt nhạt, vơ vơ vẩn vẩn, những thứ mà nếu không được chúng ta để mắt tới sẽ chẳng bao giờ thấy cả đúng là cỏ dại, hoa hèn.&nbsp;
Một câu chia sẻ vu vơ của Tô Hoài hàng ngày:
- Nhiều cơ quan tặng cặp quá. Mang đi họp, khi nào tôi cũng dùng nước bọt tẩy cho hết chữ trên mặt da.&nbsp;
Cái tài của Tô Hoài có thể thâu tóm trong mấy công thức:
- tự tin đến mức nói gì thì nói, người ta cũng nghe
- tàn ác một cách nhân hậu, tức là nhìn thấy cái vớ vẩn của kiếp người nhưng cũng cho qua hết
- táo tợn một cách kín đáo
- miên man một cách duyên dáng
- tinh tế trong những cái vặt
- tạp ăn, không sợ gì cả, tự tin --&nbsp; tự tin một cách dai dẳng rằng mình trời đánh không chết.
&nbsp;Văn chương này là một khối hỗn độn, ở đó đến không gian thời gian cũng xáo trộn và tất cả chỉ thống nhất lại trong ý nghĩ, trật tự duy nhất là trật tự của ý nghĩ. Tư tưởng của con người thì như đám mây là là sát mặt đất .
&nbsp;Cái ấn tượng này đến với tôi mạnh nhất khi đọc Cát bụi chân ai và nó đúng với toàn bộ nhà văn.
&nbsp;
19/3/99
Ngẫu nhiên chạm mặt Bùi Hoà. Với ông bạn vô danh này, Tô Hoài tìm ngay thấy cách gần gũi, đó là những chuyện riêng về 65 Nguyễn Du. Nhắc lại Trọng Hứa, nhắc lại một người quen chung. Hình như có một cô gái nào quê Thanh Hoá, có dịp quen Tô Hoài ở Quốc Hội và hay biếu Tô Hoài các thứ nem. Tô Hoài kể tiếp:
- Các ông không biết chứ, còn có một lão điên điên khùng khùng, ở bên kia đường Nguyễn Du, xưa dọn hàng quán gì đấy, bây giờ vào tận trong Phú Yên hay Quảng Ngãi, rất hay viết thư cho tôi, trong thư bao giờ cũng hỏi thăm bà Hường, ông Tiếu, rồi có lần nghe đâu bà Hường chết rồi, thì nhờ bác cho cháu gửi lời hỏi thăm tới gia đình bác Hường.&nbsp;
Có một người tôi biết, là Nguyễn Quân, rất dễ làm thân với những người bán hàng bán quán rồi uống chịu, rồi trò chuyện những chuyện rất đời thường.
Tô Hoài cũng có khả năng đó, khả năng mà tôi không có. Tôi thú thật ở chỗ này, thì hình như tôi hơi giống Nam Cao, tôi có một cái mặt không chơi được, chẳng hiểu tại sao nhưng người ta cứ không tin tôi.
Tô Hoài bảo ừ, V.T.N. còn có phần giống như Nam Cao, ở chỗ mới gặp nhạt thật, khi chơi lâu, thì thấy cũng chả tội vạ gì. Nhưng mà này, mình hồi trước lại thường hay đi đôi với Nam Cao, đi với anh có cái mặt không chơi được, mình lại dễ nổi lên hơn.
&nbsp;
5/8/99
Trông Tô Hoài thấy già đi rõ quá. Ông kể, ông vẫn viết đều hàng tuần ông giữ mục tạp bút cho Văn Nghệ trẻ, mục đãi sạn cho báo Người Hà Nội.
“Bao giờ, tôi cũng phải để đấy 4 bài để họ dự trữ”
&nbsp;Tôi đọc trong Văn Nghệ trẻ, bài Hai cái cốc (đi uống bia, thuổng luôn 2 cái cốc, lên Hà Giang cho mấy người uống; bây giờ ở Hà Giang vẫn còn)
- Bài hay quá - Tôi khen
- Loại ba vạ như thế, tôi viết đầy.
Mình lại vừa ngồi sửa chữa cuốn tiểu thuyết Ba người, để mình gửi cho cậu, ông bảo vậy.&nbsp;
Trong điện thoại khi nghe tôi rủ đến gặp Tô Hoài, Hoàng Ngọc Hiến bảo hình như là cụ ốm cơ mà.
Ngọc Trai nói ngay: Lúc nào ông Tô Hoài ông ấy chả ốm được. 
&nbsp;
20/8/99
Khi Chiều chiều còn đang in báo đã nhiều người tìm, và bây giờ, theo lời những người buôn sách, thì Chiều chiều bán khá chạy.
Nhưng cô Thu Hà ở báo Tuổi trẻ bảo tôi:
- Cháu không thể thích được. Đọc sách chỉ thấy Tô Hoài ông ấy khôn quá, bao nhiêu đồng nghiệp ngã ngựa, bao nhiêu người rớt lại trên đường, chỉ mình ông ấy tới đích.
&nbsp;
15/9
Tôi bảo với Hoàng Ngọc Hiến, và Hiến phải nhận đúng, đó là trong Chiều chiều -- nhất là phần đi nước ngoài --, ông Tô Hoài thấp nhưng ông lại không biết cái thấp đó của mình. Đó là thảm hại. Ý tôi muốn nói đi thế mà chẳng nghĩ được cái gì cho lớn lao.
Đọc lại Ba người khác. Một mặt, tôi cũng phục, là sao con người này có sức sống ghê thế. Đầy sức thu hút, nghe được tất cả cái nhảm nhí ở chung quanh. Mặt khác, càng đọc càng thấy không đủ thậm chí khó chịu. Chung quanh là sâu là kiến hết.
Tôi nhớ những nét mặt của một số con người hồi đầu cách mạng thỉnh thoảng thấy trên tivi hoặc trong các chồng báo cũ. Họ có cái kiên nghị của họ. Họ có thể dốt nát, nhưng không tầm thường, lưu manh tận chân răng như đám nhân vật Tô Hoài miêu tả trong cuốn tiểu thuyết này.
Có thể, đây là một khía cạnh của đời sống chăng?
Nhưng tôi không nhìn thấy lý tưởng cao đẹp của tác giả ẩn đằng sau khi miêu tả.
&nbsp;
20/11/99
Chiều chiều đang bán rất chạy ở Hà Nội, trong khi đó, bọn tôi ở cơ quan được phổ biến là không được để các nơi viết bài khen chê gì cả.
Chiều chủ nhật, sách ở một số quán sách ở Bà Triệu bị tịch thu. Công an và quản lý thị trường tịch thu. Buổi tối đi qua Tràng Tiền không có một cuốn.
Ông Văn Tâm ngỏ ý khen Chiều chiều:
- Có hai bồ chữ mất rồi (Nguyễn Công Hoan và Nguyễn Tuân). Còn một bồ nữa sắp mất nốt.
- Thế kỷ XX này, nước mình có ba người viết ký giỏi. Ông Vũ Trọng Phụng giỏi về phóng sự, Nguyễn Tuân giỏi về tuỳ bút, còn Tô Hoài nhất về hồi ký.
Trong thông báo nội bộ về quyển Chiều chiều, có đoạn nói: Nhà văn Tô Hoài là một nhà văn lớn đã được giải thưởng Hồ Chí Minh...Quyển Chiều chiều của ông sẽ để dư luận và công chúng đánh giá lâu dài.
&nbsp;Nhưng vẫn không cho in lại.
Nguyễn Văn Thành nghe ở đâu đó, về bảo nhiều người ngờ là lão Tô Hoài này đổi giọng viết như thế này để kiếm chác.
Nhàn: Tôi nghĩ không phải... Có những chi tiết mà nếu không để ý từ trước, thì bây giờ không sao bịa ra nổi. Nghĩa là ngay lúc làm cán bộ, Tô Hoài cũng đã là một người láo lếu lắm rồi. Nhưng cái tài của ông là giấu biệt ý nghĩ hồi đó, bây giờ mới phun ra.
&nbsp;
Những năm sau 2000
&nbsp;
7/1/2000
&nbsp;Hà Minh Đức ra một tập thơ, trước khi cho in, hỏi Tô Hoài ra cái ý không biết có nên in không. Tô Hoài bảo:
- Cậu đã ra hàng mấy chục đầu sách rồi, thì ra một quyển thêm nữa, cũng nghĩa lý gì mà ngại. 
Có cảm tưởng khi đối thoại với mỗi chúng ta, Tô Hoài luôn luôn đồng loã với mọi hành động của ta, cả cái tốt lẫn cái xấu.
&nbsp;
15/1
Đọc lại Cát bụi chân ai, thấy có một câu của thằng tù binh Mỹ:
- Các ông không phải là nhà báo. Có phải các ông là quan toà, các quan toà đến hỏi cung tôi, các ông sắp đem tôi ra xử, tôi xin hỏi thực đúng thế không?
Một cách định nghĩa chính xác về các nhà văn Việt Nam.&nbsp;
Cái cách viết của Cát bụi chân ai là lan man một cách khéo léo, không lấy không gian thời gian để phân chia các đoạn của quyển sách. Mà lấy tâm tình làm mạch chính.
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một đặc điểm của Tô Hoài thời kỳ này là không đề rõ thể loại cho sách. Hình như ông muốn người ta hiểu là thứ gì cũng được. Và cũng là một cách để tuyên bố tôi chẳng giống ai, tôi không chịu một sự ràng buộc nào cả.
&nbsp;
6/6
Tối 30/5, gặp nhau ở chỗ Ngọc Trai, để tiễn ông Hiến đi Tây. Đúng hơn là ông Tô Hoài mua gửi cho ông Đặng Tiến bên Pháp mấy quyển sách nhờ ông Hiến mang đi, thì tổ chức ra bữa ăn nhân thể. Chưa bao giờ thấy Tô Hoài cảm động như vậy. Sau bữa ăn, ông nhờ lấy cái gói. Mở ra trịnh trọng.
- Ông Hiến ạ, mai ông đi. Tôi có gửi cái này cho Đặng Tiến, một quyển sách với cái thư.
- Vâng, vâng, anh để tôi mang.
- Sách hơi dày, thôi thì cũng mong ông thông cảm (có vẻ đúng tâm lý người hay đi xa, sợ người khác gửi).
Và ngừng một lúc, rồi ông mới nói tiếp.
- Thôi đến ngày kia là Hiến đã đến với thành phố hoa lệ, thủ đô của thế giới, nơi có mỗi chị Trai đã đến. Chỉ có chúng tôi&nbsp;là sẽ ở lại đây thôi.
Tới chữ chúng tôi, ông nhìn tôi, Vương Trí Nhàn. Tôi cảm thấy có một chút chua chát trong lời lẽ của Tô Hoài lúc ấy. Đã là Tô Hoài mà vẫn còn những lúc phải thèm muốn điều gì đó, và có những nơi chưa đi, kể cũng khổ tâm thật.&nbsp;
Tôi hỏi :
- Anh đang viết gì. Cái món truyện cổ tích cho trẻ con đến đâu rồi.
(Có lần Tô Hoài nói là có nhận viết 150 truyện cổ tích)
- À, đang viết, được 60 cái rồi cả nhà Giáo dục lẫn nhà Kim Đồng đều in.
Và ông nghĩ ra một cách để pha trò:
- Ở Kim Đồng thì nó gọi là tranh truyện. Còn ở Giáo dục thì gọi là truyện tranh. Giáo dục đã in 60 cái, còn Kim Đồng mới in được 20 cái.
Khi Tô Hoài láy đi láy lại chuyện đó, Hoàng Ngọc Hiến cười ngặt nghẽo mãi không thôi. Có gì đó có hơi hướng “bài tây” trong câu chuyện về văn chương, đấy là điều thú vị thường thấy ở lớp trí thức An Nam mình, dù đã sang thế kỷ XXI.&nbsp;
Ân hỏi: ông Vũ Ngọc Phan viết Tô Hoài là&nbsp;khinh bạc, cái đó đúng không?
Nhàn: Đúng chứ! Nếu trí thức hoá lên một chút, thì ý tưởng ấy của Tô Hoài gặp cách nghĩ của các nhà trí thức phương Tây cuối thế kỷ XIX (như ở E. Zola), đầu XX. Là con người có những khía cạnh gần con vật. Nhưng ở Tô Hoài, tất cả chỉ giản đơn, bột phát, và về sau con người Tô Hoài nhà văn có phần bị lép vế, so với Tô Hoài cán bộ. Nhưng cái chất nhà văn kia vẫn cứ còn mãi.
&nbsp;
26/9/2000
Nhân 80 năm sinh Tô Hoài tôi viết một bài báo ngắn và phát hiện ra một điều đơn giản. Chính là 10 năm nay, Tô Hoài lại khởi sắc hơn ngày trước.
Bà Đặng Thị Hạnh dạy văn học phương Tây rất mê Cát bụi chân ai, viết riêng một bài về thể hồi ký nhắc đến nhiều nhà văn lớn thế kỷ XX bên trời Âu, có lèo thêm Cát bụi chân ai vào đó. Bài này có cách viết rất lạ tức là trộn lẫn không gian thời gian đang chuyện nọ sọ sang chuyện kia, mà lại rất hợp lô-gích, trong khi đó&nbsp;không hề bị câu thúc bởi cái khung thời gian và cốt truyện. 
Trước đó, có lần Đặng Thị Hạnh đã nhận ra cái cách viết đó ở Tô Hoài. Đọc&nbsp;Cát bụi chân ai Đặng Thị Hạnh nói thêm với tôi “hơi văn đi rất mạnh”.&nbsp;
Đọc văn bản Tô Hoài có lẽ những cái chính, cái trần trần trên chữ nghĩa, thì cũng thường thôi, nhưng ông Tô Hoài lại có cái tầng thứ hai ẩn ở dưới, một cái gì lờ mờ, lấp ló đây đó mà lại quyết liệt lặp đi lặp lại.
Báo Thế giới mới, kể rằng cô Eo Sola không đồng ý đặt tài tử là nghiệp dư mà cho rằng ở Việt Nam, chữ tài tử có nghĩa rộng lắm, tài tử là ngang hàng với chuyên nghiệp, là sáng tạo. Tô Hoài nghe hẳn thích lắm.
&nbsp;
4/2/2001
Những ý mà Phạm Vĩnh Cư nói về Tô Hoài (tôi không nghe trực tiếp từ Cư, nhưng nghe Tạ Duy Anh kể lại):
- Ông Tô Hoài có lối viết làm như ông ấy đã đi đến tận cùng sự thật, nhưng bên trong còn bao điều gian dối.
- Một ví dụ, Tô Hoài không hề dám hé ra một sự thực là Marian Tkachev nó hành ông ta thế nào. Có lần Marian Tkachev tặng Inna Zimonina một bản dịch tiểu thuyết Tô Hoài và nói thêm “Tôi xin tặng chị một cục gạch, chị chớ đọc làm gì”.
Xem cách viết của Tô Hoài, vẫn luôn luôn cảm thấy đây chỉ là giỏi quan sát chứ chẳng có tư duy tiểu thuyết gì cả.&nbsp;
Khoảng tháng 12/2000,&nbsp;ông Hà Xuân Trường gọi tôi lên kể một số chuyện cho xem một số thư từ, trong số có thư hoặc báo cáo củaTô Hoài. Nhớ 2 cái.
Một, cái Tô Hoài báo cáo về lý lịch và thành tích của mình, để cho cấp trên biết, và chấp nhận ông về Hội Nhà văn Hà Nội (còn nhớ là Xuân Sách giễu mãi chuyện này và, Bằng Việt thì hối hận đã lấy Tô Hoài về sau khi ông bị bật bãi ở Hội nhà văn).
Hai, hồi đầu đổi mới, Tô Hoài viết cho Hà Xuân Trường một lá thư, phân định giới viết văn theo nhóm phái, tức là loại theo cách mạng, loại lừng chừng, loại theo địch nay ở lại. Cũng là một thứ “báo công”.
Ở những người như Tô Hoài, ao ước về nghệ sĩ có nồng nàn đến đâu thì cũng không bao giờ đủ sức áp đảo hẳn cái khôn ngoan của người cán bộ.
&nbsp;
12/4/2001
Hai tuần trước nghe Khánh Thơ kể một chuyện đáng nhớ. Lâu nay tình nghĩa Tô Hoài Nguyễn Văn Bổng thì ai cũng biết. Nên bọn Khánh Thơ, khi làm sách các nhà văn được giải thưởng Hồ Chí Minh, đưa Bổng vào, muốn đưa theo một ít nhận xét của Tô Hoài, đã in trong bài chân dung (Tô Hoài Những gương mặt).
Nhưng nên nhớ đó là một bài chê Nguyễn Văn Bổng nghiệp dư. Tôi cứ tưởng Nguyễn văn Bổng cho qua. Không ngờ ông biết hết. Đến lúc bọn Khánh Thơ đến, ông Bổng đang đau ốm, cũng cố vùng dậy, không nói được, chỉ giành lấy bút mà viết mấy chữ.
- Không lấy một dòng nào của Tô Hoài cả.
Tôi nghĩ trong khi phác họa chân dung của Bổng, ở Tô Hoài có sự co kéo: 
Một bên là con người Tô Hoài cán bộ Tô Hoài đời thường, sống giữ gìn, tự vệ, cần có người chuyện trò nương tựa, và trong sự chán ngán của giới văn chương hàng ngày, tìm thấy ở Nguyễn Văn Bổng một người trò chuyện gần gũi.
Nhưng ở phía khác, Tô Hoài đặt mình bên những Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính. Và ông thấy đây mới là văn chương thật hạt, còn Nguyễn Văn Bổng chỉ là nghiệp dư.
&nbsp; Người nghệ sĩ đã thắng. Cuối đời rồi mà.
&nbsp;
20/3/2002
Tô Hoài, từ 10 năm nay, đã nói với tôi về bộ phim người ta làm về ông, mà ông nhận viết kịch bản. Và bây giờ tôi nhận viết thuyết minh cho nó. Không biết có nói được một số ý: 
- Sức sống của cỏ dại
- Cỏ dại thành người
- Lam lũ, không hoàn chỉnh.
Tư tưởng chính rút ra từ cuộc đời Tô Hoài: Kẻ không đánh mất mình, khi hoà vào đám đông. Vừa hùa vào vừa lùi ra. Nhưng cái sự hoà vào dễ dàng như thế lại chứng tỏ một cái gì tầm thường ( người ta có chịu nghe không?) Lúc từ bỏ đám đông trở về, con người ấy là một khối hỗn độn vơ vẩn đấy mà cũng sâu sắc đấy.
&nbsp;
28/3/2002
Hỏi xem ông đang làm gì, ông bảo nhận viết cho báo Lao động. Còn cái chùm một trăm truyện cổ tích đã xong. Tôi không dám nói thẳng, nhưng nghĩ ông Tô Hoài hay phí đời mình vào những việc vớ vẩn. Cô Sông Thao cũng bảo rằng bố em quan niệm là cứ viết đi, còn cái việc thu dọn lại là việc sau.
Vậy cảm giác về sự bất tử ở Tô Hoài ra sao, có hay không? Có chứ. Nhưng ông không nhiệt thành lắm. Ông không làm nó với ý thức cao, như Xuân Diệu.
Tô Hoài mang cái tính&nbsp;chất của văn học dân gian là tự phát với đủ nghĩa, như nặng về bản năng lộn xộn, không trật tự không đều, thiếu lý tính, ít nghĩ về sự sống sau khi chết.
Tôi buột miệng kể với Tràn Đình Sử: Tô Hoài là loại có sách gì tôi cũng có thể giới thiệu để ông ấy đọc, ví như sách về danh hoạ, sách tiếng lóng. Thế nhưng phải trừ một loại tức là những cuốn như tiểu luận về thuyết phi lý
&nbsp;
5/4/02
Đến nhà Tô Hoài, thì lại gặp cảnh quay phim VTV3 đến quay. Nội dung đâu là cái chuyện ngày làm việc bình thường của ông Tô Hoài, trong đó có cả mối quan hệ với người nước ngoài. Ngưòi nước ngoài ấy là một người Nga.
&nbsp;Nghe loáng thoáng cái tên Lêna. Lêna nào? Có bao nhiêu Lêna mà Tô Hoài đã quen và không nhớ một ai. Còn lại chỉ có Tô Hoài với Marian với Inna Zimonina. Gần đây có tin Zimonina không đọc văn học Việt Nam nữa, không trò chuyện với ai từ Việt Nam sang, nhưng vẫn viết thư cho Tô Hoài. Đúng thế không?
Một chủ đề có thể viết, là Tô Hoài và cái gọi là “ý nghĩa quốc tế” của văn học Việt Nam những năm này.&nbsp; 
&nbsp;





Phụ lục
&nbsp;
&nbsp;VẪN ÔNG DẾ MÈN ẤY 
(Đọc tập phiếm luận Giấc mộng ông thợ dìu, 2007)
&nbsp;
Hồi cùng với Nam Cao viết cho Tiểu thuyết thứ Bảy, Tô Hoài đã có lối làm hàng chăm chỉ, bận việc gì đi nữa vẫn lo bán bài đều đều cho báo. Sau này cũng vậy, ngoài viết tiểu thuyết và công tác xã hội, hễ nhận viết báo là như ngồi trước khung cửi, có khi một ngày guồng được vài bài - nói chuyện với tôi, ông thú nhận, có vẻ như hơi buồn cười trước một cái tật của mình.
Khoảng 1992, tôi giữ chân phụ việc cho ông trong một chương trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Lúc ấy, Cát bụi chân ai vừa in năm trước và đang tái bản thêm nhiều lần, một hôm ông bảo:
- Tôi lại vừa đóng một tập giấy mới. Từ mai bắt đầu viết. Kể toàn chuyện đi thực tế sau Nhân văn với lại chuyện làm tổ trưởng dân phố Hà Nội hồi chống Mỹ, rồi chuyện đi nước ngoài cả Nga la tư lẫn Ấn Độ, Ai Cập, đủ hết. Đặt tên là Những câu chuyện với ông Sóng.
Sau này, khi in ra, cuốn sách mang tên Chiều chiều. Đúng như ông tự nhận, khác với Cát bụi chân ai, tập trung kể về Nguyễn Tuân, Chiều chiều lan man đủ thứ, vậy mà vẫn tạo một ấn tượng về một cuộc sống lam nham dang dở. Thừa thắng xông lên, tôi gạ:
- Thảo nào anh cũng phải làm một cuốn, viết từ thời đổi mới đến nay.
- Thời này mình già, có đi đâu mà biết.
- Anh cứ kể những chuyện người ta đồn đến tai anh rồi anh nghĩ lại ra sao, thế cũng đủ hay rồi.
Tô Hoài không nói gì tiếp. Tôi chỉ biết chắc là ông vẫn viết, và với con người này thì giữa chuyện đời sống và chuyện văn chương thường không có gì phân biệt, ở đâu thì cũng một cốt cách ấy, thiêng liêng, nhăng nhít ngơ ngẩn, cái gì cũng đều có cả.
Giấc mộng ông thợ dìu đánh dấu sự có mặt của ngòi bút Tô Hoài, cái nhìn Tô Hoài trong ngày hôm nay.
Tác phẩm gồm phần lớn các bài viết vặt đã in trên tờ Người Hà Nội và một số báo khác. Một thứ Chuyện mới tiếp vào Chuyện cũ Hà Nội sáu bảy trăm trang hồi trước.
Hôm bắt tay vào biên tập, mới cầm bản thảo, tôi đã định kêu lên, sao lại thợ dìu, chắc thợ mộc đây, vậy thì viết thợ rìu mới đúng, vẫn cái tính ẩu của ông già đây mà. Bởi bản thảo Tô Hoài thường không thiếu lỗi chính tả, nên tôi nghĩ liều như vậy.
May quá trước khi thò bút chữa, tôi đọc lại bài viết. Thì ra thợ dìu đây là các vũ sư nghiệp dư chuyên đi dạy nhảy đầm ở các lớp khiêu vũ hiện nay.
Trong một bài phỏng vấn gần đây trên TT&amp;VH, nhà văn già gần chín mươi vui vẻ khoe là chữ nghĩa của mình còn mới lắm, mình còn nhặt được khối chữ chỉ vừa xuất hiện trong đời sống hôm nay. Mà còn chữ mới nghĩa là còn cảm nhận được cuộc sống mới.
Chữ thợ dìu thuộc loại mà ông tự hào.
Tôi ghi lại đây những gì mà Tô Hoài viết trong Giấc mộng ông thợ dìu : Những nếp sống có từ ngày xưa nay phôi pha hoặc biến dạng như chơi chim, chơi dế, đi hội. Một số thú chơi mới xuất hiện. Cảnh dô dô bốp bốp ngoài quán. Sự nảy nở nhiều như kiến của cò đểu trong mọi mặt sinh hoạt. Cảm giác hoang vắng trong một ngày cuối năm ở Bờ Hồ. Cảnh người Việt di tản nay từ hải ngoại trở về trong các gia đình. Nạn dân ném đá lên đường tàu. Cái túi ni-lông và việc phá hoại môi trường...
Lịch lãm và lẩn mẩn. Tinh tế và vơ véo nhặt nhạnh. Vui đấy rồi buồn ngay đấy. Yêu thích sống trong nền nếp và chán chường trước những trì trệ. Trân trọng quá khứ và biết rằng nhiều khi quá khứ chỉ đáng quên đi. Ham hố phiêu lưu thay đổi và không bao giờ ngạc nhiên trước mọi tàn lụi hư hỏng. Chăm chú quan sát mọi sự đang xảy ra và giữ cho lòng mình một sự dửng dưng dài dài...
Bấy nhiêu sắc thái cùng lúc có ở văn xuôi Tô Hoài, làm chứng cho sự có mặt của nhà văn giữa đời thường. Dường như cái gì với ông cũng mới mẻ sinh động mà lại chẳng có gì lạ, xưa đã vậy và nay còn như vậy.
Nếu bạn còn đang phân vân không biết có nên đọc cuốn sách này của Tô Hoài không, tôi muốn bạn hãy bắt đầu bằng mấy mẩu ông viết về hội làng.
Chung quanh cái sinh hoạt văn hóa mà thường ai cũng tự hào, có những điều mà ngoài Tô Hoài chẳng ai dám nói. Ông kể rằng vùng ông xưa nay nhiều hội, nhưng toàn hội nhạt như nước ốc.
Khá nhất có hội làng Đông thì cũng là dịp để các họ tranh chấp, trai gái đi hội để khoe khoang mấy thứ mốt mới học đòi và những cậu choai choai trâng tráo chim gái hoặc đánh nhau.
Chính làng ông xưa nay đâu có hội, chỉ toàn đi xem nhờ thiên hạ. Làng mỗi năm vào đám một lần, nhưng cũng sơ sài tạm bợ, có năm mất trộm áo thánh &quot;phải lấy vạt cờ đuôi nheo trùm lên ngai làm áo khoác cho thánh&quot;. Xưa những gánh chèo được mời về đám cũng toàn là phường kiết xác, mấy bác kép vừa hát xong chạy vội vào hậu trường, rệp rơi lả tả từ miếng gỗ làm chỗ cắm cờ đeo sau lưng.
Nay việc làng do mấy anh cán bộ đi khắp thiên hạ về khởi xướng thì cũng chẳng khá hơn.Toàn thợ tế đi thuê ở các làng bên cạnh. Còn ông chủ tế thì chữ Nho bẻ làm đôi không biết, đến thành hoàng làng tên gì cũng không biết nốt.
&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Chỉnh lý 6 - 2009
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; VTN&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
&nbsp;
Đã in một phần trong tạp chí Nhà văn, số ra 11-2009tr. 117-146
&nbsp;
&nbsp;
&nbsp;
&nbsp;26-11-09]]></description>
            <pubDate>2009/11/27 01:27:34</pubDate>
            <guid><![CDATA[Tô Hoài by VTN:1046]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[TMT 2]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1044]]></link>
            <description><![CDATA[Đọc TMT


A poet&#39;s prose is the autobiography of ardor. All of Tsvetaeva&#39;s work is an argument for rapture; and for genius, that is, for hierarchy: a poetics of the Promethean. &quot;Our whole relation to art is an exception in favor of genius,&quot; as Tsvetaeva wrote in her stupendous essay &quot;Art in the Light of Conscience.&quot; To be a poet is a state of being, elevated being: Tsvetaeva speaks of her love for &quot;what is highest.&quot; There is the same quality of emotional soaring in her prose as in her poetry: no modern writer takes one as close to an experience of sublimity. As Tsvetaeva points out, &quot;No one has ever stepped twice into the same river. But did anyone ever step twice into the same book?&quot;Susan Sontag”, A Poet’s Prose“Tôi sẽ chẳng là gì nếu không có thế kỷ 19 của Nga…”Camus vinh danh PasternakThế kỷ 19 của Nga đã biến đổi tâm hồn của chúng ta, là một thành tụu của những nhà viết văn xuôi, prose writers.Với thế kỷ 20 của Nga thành tựu của nó hầu hết là của những nhà thơ, nhưng không chỉ là một thành tựu trong thơ, in poetry.Văn với thơ, như đi bộ với khiêu vũProse is to poetry, said Valéry, as walking is to dancing.[Susan Sontag trích dẫn, trong bài viết trên] 
Đọc tản văn của TMT, thí dụ bài viết về quê nội, trên Blog NXH, VOA làm Gấu nhớ tới những dòng Sunsan Sontag viết về tản văn của nhà thơ Nga Tsvetaeva.Liên tưởng ở đây, còn là về số phận của cả hai nhà thơ. TMT đã từng mất mát rất nhiều, khi còn ở quê nhà, rồi tìm được hạnh phúc ở quê người. Nhà thơ Nga, cùng chồng, đã thoát ra khỏi, rồi đều trở về, để chết một cách tức tủi, tại quê hương.

How can one go backTo a ravaged home?Marina Tsvetaeva: My countryLàm sao trở về, căn nhà hoang? 
Volkov: Ôi chao, thơ Tsvetaeva mới đằm thắm, mới giông bão, mới ướt át làm sao!Brodsky: Chỉ riêng cái phần ưót át, erotic, không ai ăn nổi bà.&quot;Tôi học yêu bằng cơn đau xé cơ thể&quot;[I learn love through the pain all down my body].Volkov: Cả một trăm năm... đàn bà chỉ mon men tới mép chiếu thơ Nga. Bất thình lình cùng lúc xuất hiện Tsvetavea và Akhmatova, hai vị khổng lồ của thi ca thế giới.Brodsky: Chuyện này có thể không mắc mớ chi đến thời gian. Nhưng biết đâu đấy. Vấn đề theo tôi là, mấy bà rất mẫn cảm, ngửi ra đạo đức bị xâm phạm trước khi nó thực sự xẩy ra. Và cái thô bỉ, vô đạo đức thì ê hề trong thế kỷ 20 của chúng ta.... Một ông chồng đưa tay sếp về nhà. Họ dùng bữa tối xong, tay kia từ giã. Bà vợ nói, &quot;Tại sao anh đưa thằng khốn kiếp đó vô nhà tôi&quot;. Bà nói, &quot;nhà tôi&quot;. Thế đấy. Cho dù cái nhà đó là từ đồng tiền thằng khốn kiếp đưa cho chồng.
Cái Chết Của Một Thi Sĩ:Những ngày sau cùng của Marina Tsvetaeva
Vào ngày 22 tháng Mười, 1937, Marina Tsvetaeva bị Mật Thám Tây ở Paris bắt trình diện, về vụ ông chồng của bà, Sergei Efron, biến mất mười ngày trước đó. Ông này bị nghi là đồng lõa trong một vụ giết hại Ignaty Reiss, nhân viên Mật vụ&nbsp; Xô Viết, tại Thụy Sĩ, trong tháng trước đó. Theo như hồ sơ của mật thám Tây, nhà thơ bèn trả lời, chồng tui đi Tây Ban Nha, làm nghĩa vụ quốc tế chống phát xít cứu nhân loại, [nguyên văn, ‘chiến đấu bên cạnh những người cộng hòa Tây Ban Nha&quot;]. Như bạn bè của bà còn nhớ được, bà đã đọc thơ Racine : &quot;Đó là một con người trung thành nhất, phong nhã nhất, và nhân bản nhất, trong số những con người.&quot; Và thêm vô: &quot;Nhưng lòng tin của chồng tôi có thể đã bị lạm dụng, tuy nhiên, lòng tin của tôi về chồng, không bao giờ.&quot; [C’est le plus loyal, le plus noble, et le plus humain des hommes. – Mais sa bonne foi pu être abusée. – La mienne en lui – jamais”].Bất hạnh thay, bi kịch mà nhà thơ và gia đình lâm vào, không giống như trong kịch Phèdre của Racine : Efron không dính dáng gì tới vụ sát hại trên, giản dị là bởi vì ông làm việc cho cơ quan mật vụ Xô Viết trong nhiều năm. Ông không biến mất, để đi chiến đấu cùng những người anh em cộng hòa ở Tây Ban Nha, mà là được lệnh NKVD, tiền thân của KGB, về Moscow trình diện.Con gái của nhà thơ, Ariadna, một người tuyệt đối tin tưởng vào chủ nghĩa không tưởng Xô Viết, cũng đã nhiều năm hoạt động, như là một điểm chỉ viên tích cực, trước khi trở về quê nhà vào Tháng Tư 1937.Chính nhà thơ cũng đã trở về Nga, sau đó, vào tháng Sáu, 1939. Gia đình bà bị quản lý tại gia, tại một datcha của NKVD gần Moscow .&nbsp; Hoàn cảnh thật khốn đốn, ngay cả trước khi xẩy ra vụ bắt giữ cô con gái, ngày 27 Tháng Tám, 1939, và ông chồng, ngày 10 Tháng Chạp, cùng năm.Khi cuốn sách của Irma Kudrova, Cái Chết Của Một Thi Sĩ: Những ngày cuối cùng của Marina Tsvetaeva, nguyên bản tiếng Nga, xuất bản tại Nga cách đây chừng một thập niên, nó đã gây chấn động, nhất là ở những đoạn vạch rõ, cả hai, ông chồng và cô con gái nhà thơ đều làm việc cho mật vụ. Tác giả cuốn sách là nhà nghiên cứu đầu tiên được đọc những biên bản hỏi cung, và, bằng kinh nghiệm của một cựu tù nhân của chế độ Xô Viết, đã lọc ra, đâu sự thực, đâu là méo mó, ở trong&nbsp; những biên bản &#39;tự kiểm&#39; đó.Tác giả cũng bác bỏ nhận định của Mariya Belkina, tác giả cuốn Những Số Mệnh Đan Chéo Nhau, khi cho rằng vào cuối đời, nhà thơ Tsvetaeva đã rớt vào tình trạng một bệnh nhân tâm thần. Tsvetaeva, như được mô tả trong Cái Chết Của Một Thi Sĩ, là, rất hoang mang khốc liệt, panicked, rất thê lương tuyệt vọng, desperated, nhưng hữu lý, tỉnh táo, chứ không phải là một con bệnh tâm thần.Irma Kudrova giải thích, nữ thi sĩ bị đánh gục, không phải là do kìm kẹp, áp bức, truy sát về chính trị của nhà nước Xô Viết, mà phần lớn là do sự vắng mặt đất nước Nga trong một thời gian dài, 18 năm, thêm vào đó, do cô lập về trí thức và về xã hội; do chao đảo, hỗn loạn của cuộc sống tại Yelabuga, thuộc Kazan Province, và còn do liên hệ căng thẳng giữa bà và người con trai, muốn đời con để con lo, nữ thi sĩ coi như vậy là phản bội lại mẹ.Nhưng, theo Catriona Kelly, người điểm cuốn sách Cái Chết Của Một Thi Sĩ, trên tờ TLS, số đề ngày 5 Tháng 11, 2004, người đọc có thể nhìn ra, vào những năm sau cùng của đời mình, nữ thi sĩ Nga - người mà nhà thơ Joseph Brodsky đã từng thú nhận, chính bà, chứ không phải Akhmatova, đã dẫn dắt ông, ở cái thuở ban đầu làm thơ - Tsvetaeva, lần đầu tiên trong đời, đã nhìn quá nỗi đau riêng của mình, và nhận ra rằng, quan niệm của bà về thế giới - một cái nhìn lý tưởng, mang tính Lãng Mạn ở thời kỳ sau cùng của nó - đã nhạt nhòa hẳn đi. Bài thơ lớn lao nhất của bà, Thơ Ở Lúc Tận Cùng, Sau Nga Xô, Poem at the End, After  Russia, toát ra [được gợi hứng bởi] cái cảm quan về sự lăng mạ, bất công. Và nếu như thế, thì đây, nếu không là một điều tự hạ mình, thì cũng thật là vô nghĩa, bởi vì tinh thần thơ của bà, vào lúc làm bài này, là dưới ánh sáng của văn học Xô Viết, theo kiểu &#39;mặt trời chân lý chói qua tim&#39; [in terms of the self-styled luminaries of Soviet literature], của Tố Hữu ‘nhà mình’.*Cái Chết Của Một Thi Sĩ:Những ngày sau cùng của Marina TsvetaevaFor the world&#39;s your cradle, and your grave&#39;s the world.Bởi vì thế giới là cái nôi của anh, còn nấm mồ của anh là thế giới.Tsvetaeva: I will win you away from every earth, from every sky[Tôi sẽ thắng anh, từ bất cứ mảnh đất, bất cứ vòm trời].
Như một lời thú tội huyền hoặc, thơ của bà lùi dần và trở nên bí hiểm, hũ nút, như tín hiệu Morse mà tù nhân sử dụng để thông tin giữa họ, xuyên qua tường phòng giam: “My ‘loneliness’. Dishwater and tears. The underside of everything is terror.” [Sự cô đơn của tôi. Nước rửa chén và những giọt nước mắt. Ở dưới đáy của mọi điều mọi chuyện là nỗi khiếp sợ]. Viết, làm thơ không còn là niềm khuây khoả, lựa chọn cân nhắc từ này, từ nọ, giờ này, thơ ghi nhận sự tiêu ma, huỷ diệt [a record of disintegration]. Thơ của bà, như thế đó, đã trở thành những lời thú tội được mã hoá, coded confessions, như tên bài viết của Catriona Kelly, trên tờ TLS, số đã dẫn.Ngay cả cuốn Cái Chết Của Một Thi Sĩ của Irma Kudrova cũng bí hiểm chẳng kém. Người đọc cần phải có một số hiểu biết về tiểu sử nữ thi sĩ. Thí dụ như tác giả khẳng định, “Chẳng cần phải bàn cãi, bằng chứng, chúng ta có thể nêu đích danh, chính mật vụ Nga, NKVD là tòng phạm trực tiếp đưa đến việc nữ thi sĩ tự huỷ cuộc đời”. Kudrova còn đưa ra giả dụ, chính NKVD đã ép Tsvetaeva làm điểm chỉ viên, và điều này càng đẩy nhanh tiến trình huỷ hoại và đưa đến tự huỷ mình ngày 31 Tháng Tám 1941. Về những điều này, Kudrova không có được hồ sơ cá nhân của Tsvetaeva và đành dựa vào thông tin gián tiếp [phỏng vấn một người được cơ quan mật vụ yêu cầu hợp tác trong thời gian chiến tranh, và nhật ký của cậu con trai nhà thơ, George Efron, anh này có nói tới những cuộc gặp gỡ bí ẩn của bà mẹ, thời gian hai mẹ con di tản khỏi Mocow, khi xẩy ra chiến tranh Nga Đức, tới Yelabuga, và cuối cùng bà mẹ tự sát tại đây]. Tuy vậy, Cái Chết Của Một Sĩ là một tiếng nói khác, về những ngày cuối đời của nhà thơ thiên tài mệnh bạc của Nga: Tuyệt vọng, tự thương thân, tự trách cứ mình, với những tia lửa, của sự giận dữ, điên khùng không thể đoán trước được, nhưng còn là của sự can đảm, độc lập. Để bổ túc, chúng ta cần phải đọc thêm cuốn Những Số Mệnh Đan Chéo Nhau, của Belkina, một tiểu sử về nhà thơ, và trên hết, là cuốn của cậu con trai viết về bà mẹ, Marina Tsvetayeva: vospomimaniya docheri, mà bản dịch qua tiếng Anh, trong tương lai, của một nhà xuất bản nào đó sẽ cho chúng ta, những độc giả không rành tiếng Nga, được biết thêm về những cuộc đời đầy ấn tượng của một nhà thơ bi thương, khó khăn, thiên tài đặc dị, uniquely gifted poet, này.
Bài thơ bà làm cho người chồng và cuộc tình bất hạnh của cả hai.
I will win you away from every earth, from every skyBy Marina TsvetaevaI will win you away from every earth, from every sky,For the woods are my place of birth, and the place to die,For while standing on earth I touch it with but one foot,For I&#39;ll sing your worth as nobody could or would.I will win you from every time and from every night,From all banners that throb and shine, from all swords held tight;I&#39;ll drive dogs outside, hurl the keys into dark and fog,For in the mortal night I&#39;m a more faithful dog.I will win you from all my rivals, and from the one;You will never enjoy a bridal, nor I a man.And in the final struggle I&#39;ll take you—don&#39;t make a sound!—From him by whom Jacob stood on the darkened ground.But until I cross your fingers upon your breastYou possess—what a curse!—yourself: you are self-possessed;Both your wings, as they yearn for the ether, become unfurled,For the world&#39;s your cradle, and your grave&#39;s the world.[Bản tiếng Anh của Joseph Brodsky]&nbsp; 
Tôi sẽ thắng anh, từ bất cứ mảnh đất, bất cứ vòm trời&nbsp; 
Tôi sẽ thắng anh, từ bất cứ mảnh đất, bất cứ vòm trờiBởi vì rừng là nơi tôi sinh ra, và là nơi để chết,Bởi vì chỉ một chân tôi đụng đất mà thôiBởi vì ngoài tôi ra, không ai nhìn ra chân giá trị của anhTôi sẽ thắng anh, từ bất cứ thời nào, bất cứ đêm nào,Giữa chốn ba quân, giữa cờ biển ngợp trời, giữa rừng gươm tua tủa (1).Tôi sẽ đuổi lũ chó đó ra ngoài, và ném những chiếc chìa khoá vào trong bóng tối và sương mù,Bởi vì trong đêm đen chí tử, đọa đầy này, tôi còn hơn một con chó trung thành.Tôi sẽ thắng anh, từ bất cứ địch thủ, nhất là từ kẻ đó;Anh đừng bao giờ mong sánh vai cùng một cô dâu, cũng như tôi, chẳng hề mong một thằng đàn ông nào - ngoài anh ra, lẽ dĩ nhiên!Và trong trận đánh cuối cùng tôi sẽ giật lấy anh - đừng gây một tiếng động! –Khỏi cái kẻ mà Jacob đứng trên mặt đất tối thui, chiến đấu cùng với hắn (2).Nhưng cho tới khi tôi đặt chéo hai tay anh lên ngực anh.Anh chiếm hữu chính anh. Còn lời trù ẻo nào hơn là lời này: Anh là kẻ tự mình nguyền rủa mình;Hai cánh tay của anh ôm lấy thinh không, và cứ thế xoải rộng ra,Bởi vì thế giới là cái nôi của anh, còn nấm mồ của anh là thế giới.Chú thích:(1): Chồng nhà thơ là một sĩ quan bạch vệ, sau về với &quot;Cách Mạng&quot;: Tôi sẽ đuổi lũ chó đó ra ngoài....(2) Nhân vật Cựu Ước, con trai Isaac, và là cha 12 người con trai, tổ tiên dân Do Thái.Tiểu sử nữ thi sĩTsvetayeva, Marina IvanovnaTên khi lập gia đình:Marina Ivanovna EfronSinh ngày 26 tháng Chín, 1892, Moscow , Nga.Mất ngày 31 tháng tám, 1941, tại Yelabuga. 
Nữ thi sĩ Nga, ít được biết tới ở nước ngoài, nhưng được coi là một trong những nhà thơ tinh tế nhất (finest) thế kỷ 20, của tiếng Nga. Những vần thơ của bà thật khác biệt, do tính uyên nguyên, do nhịp điệu tách rời, và do tính trực tiếp của chúng.Bà trải qua những năm niên thiếu ở Moscow , cha giáo sư đại học, giám đốc viện bảo tàng, và mẹ nhạc sĩ dương cầm tài năng. Gia đình thường du ngoạn nước ngoài và vào năm 16 tuổi, bà vào Đại Học Sorbonne, Paris . Tập thơ đầu tay Vecherny albom [Chiều, Evening Album] xuất hiện năm 1910. Những vần thơ tuyệt vời nhất của bà là ở trong trường thi mang tính cổ tích Tsar – devitsa (1922, Tsar-Maiden).Tsvetayeva tỏ ra thù nghịch với cách mạng Nga. Chồng của bà, Sergei Efron, là một sĩ quan Bạch Vệ, và rất nhiều vần thơ của bà vào thời kỳ này, là để vinh danh lực lượng kháng chiến chống lại Bôn-sê-vích. Trong số đó, có tập thơ thật đáng kể là Lebediny stan [The Swans’ Camp] được sáng tác thời gian 1917-21, nhưng mãi đến năm 1957 mới được xb tại Munich. Đây là một “Chinh Phụ Ngâm” mang tính ký sự, trữ tình, và cảm động, về Cuộc Nội Chiến nhìn dưới cặp mắt và tình cảm của một người vợ sĩ quan Bạch Vệ.Tsvetayeva rời Liên Bang Xô Viết vào năm 1922, tới Berlin và Prague, và sau cùng, vào năm 1925, định cư ở Paris. Ở đây, bà cho in một vài tập thơ, trong đó có Stikhi k Boky [1922, Những vần thơ gửi thi sĩ Blok], và Posle Rossii [1928, After Russia : Sau Nga xô], đây là tập thơ chót xb khi bà còn sống. Bà cũng làm hai tập thơ lấy đề tài bi kịch cổ điển, Ariadne (1924), Phaedra (1927), một vài tiểu luận thơ, trong có Moy Pushkin [Puskin của tôi, 1937]. Vòng thơ chót của bà, Stikhi k Chekhii (1938-39, Những vần thơ cho Xứ sở Czech), là phản ứng của nhà thơ trước sự kiện Nazi xâm lăng đất nước này.Vào thập niên 1930 thơ của bà thấm đậm chất hoài hương của người lưu vong, tha phương nơi xứ người, nhớ quê nhà, như Toska po rodine (1935, Homesick for the Motherland, Nhớ Quê Mẹ), và Rodina (1936, Quê Mẹ). Vào cuối thập niên 1930, chồng bà quay đầu về với những người Cộng Sản, và trở lại Liên Bang Xô Viết, mang theo cùng với ông người con gái. [Cả hai, cha và con, sau trở thành nạn nhân của khủng bố Stalin). Vào năm 1939, nhà thơ theo chồng và con, định cư tại Moscow , ở đây, bà làm công việc dịch thuật. Cuộc di tản tại Moscow trong Cuộc Đệ Nhị khiến bà phải tới ở tại một thành phố xa lạ, không một bạn bè, không một trợ giúp. Bà tự huỷ mình vào năm 1941.[Tài liệu từ Bách Khoa Britannica, de luxe].NQTKỳ tới Gấu sẽ viết về Một Vẻ Đẹp Khác, trong thơ TMT, để phản biện cái quan niệm tầm phào, thơ văn, là, cứ phải cắm rễ vào Đất Mẹ, nếu không thì là sẽ bị cú trù ẻo,&quot;hành lạc trong đau đớn bất lực&quot;!*Cái sự kiện, là một nhà thơ, thì còn ghê, còn khủng hơn cả cái việc làm thơ, ngay cả làm thứ thơ ca lớn lao!Là một nhà thơ có nghĩa thật là bảnh, như thế này này:Tự định nghĩa mình, một cách kiên quyết, không nhượng bộ bất cứ rủi ro, bất cứ gì gì, ta chỉ là, và luôn luôn chỉ là, thi sĩ!Being a poet is assumed to be more than writing poetry…Being a poet is to define oneself as, to persist (against odds) in being, only a poet.Susan Sontag: A Poet’s Prose
Giọt mưa trời khóc ngàn năm trướcSao còn ướt trên lưng bàn tay.TMTBrodsky dẫn giải:Verse meters in themselves are kinds of spiritual magnitudes for which nothing can be substituted,&quot; Brodsky writes. [Thơ vần, tự thân là giọt lệ trời, từ hàng ngàn năm trước, bây giờ mới rớt tới bàn tay của nữ thi sĩ, (1) và nếu như thế, làm sao có thể thay thế được?].Chúng là một cách tái cấu trúc thời gian - ngàn năm trước nối lại với phút giây này, giây phút thần kỳ giọt lệ trời biến thành giọt lệ người: They are &quot;a means of restructuring time&quot;.Kundera dẫn giải:Iliade hoàn tất trước khi thành Troie sụp đổ, vào lúc mà cuộc chiến còn chưa ngã ngũ, và con ngựa thần kỳ bằng gỗ chưa hề có ở trong đầu của Ulysse. Bởi vì đây là ý muốn, [“Tao thích như thế đấy”, mô phỏng ông Trùm Hàng Không VC, “Tao đếch thích như thế!”], của bậc thầy vĩ đại, tác giả sử thi vĩ đại đầu tiên của nhân loại:Mi không được để cho trùng hợp [coincider] thời gian của những số mệnh cá nhân, với thời gian của những biến động lịch sử.Bài thơ sử thi đầu tiên được tạo nhịp [rythmé] bởi thời gian của những số mệnh cá nhân.Trường hợp của Solz, của Kafka, nếu như thế, thì là do, thời của số mệnh của riêng cá nhân họ trùng hợp với thời của biến động lịch sử.Y như giọt lệ trời, ngàn năm trước, nhờ ‘thời gian được tái sắp xếp’, ngàn năm sau, trở thành giọt lệ người!Bao thơ tôi, ít nhiều chi, là về cùng một điều - về Thời Gian. Về thời gian làm gì con người.&quot;All my poems are more or less about the same thing – about Time. About what time does to Man.&quot;Joseph Brodsky.
Sách mới xb TMT
Đọc TMT  


CHUYỆN KỂChuyện hôm nay chỉ còn là chuyện kểQuãng đời qua hay là quãng chiêm baoTình yêu đó ta thắp bằng tim nếnSao ai châm đuốc lửa đốt hai đầu.tmtViết cho 30/4/2009
 
 
 
&quot;My voice can ring out pure and clear only when absolutely solitary,&quot; Pasterrnak tells his father in a letter. Ardor inflected by intransigence drives all of Tsvetayeva&#39;s writings. In &quot;Art in the Light of Conscience&quot; (1932), she writes:The poet can have only one prayer: not to understand the unacceptable - let me not understand, so that I may not be seduced ... let me not hear, so that I may not answer ... The poet&#39;s only prayer is a prayer for deafness.Susan Sontag: 1926 ... Pasternak, Tsvetayeva, Rilke

Câu của Tsvetayeva có thể dùng để giải thích sự đôn hậu trong thơ TMT:Tôi cầu sao, không hiểu cái ‘không thể hiểu được’.Đừng bắt tôi hiểu nó, để tôi khỏi bị mê hoặc...Đừng cho tôi nghe thấy, để tôi khỏi trả lời... Cái Đại Ác Bắc Kít!Hà, hà!*
Separation had made everything replete. What would Rilke and Tsvetayeva have said to each other had they actually met? We know what Pasternak didn&#39;t say to Tsvetayeva vhen they were briefly reunited after thirteen years, in June 1935, on the day he arrived in Paris in the nightmarish role of official Soviet delegate to the International Writers&#39; Congress for the Defense of Culture: he didn&#39;t warn her not to come back, not to think of coming back, to Moscow.Giả như Pasternak ra dấu, báo động Tsvetayeva khi tới Paris cùng Phái Đoàn Nhà Văn Liên Xô tham dự Hội Nghị Nhà Văn Quốc Tế: Này, đừng có về! Về là khốn nạn đấy! ?Giả như cái tay nhà văn VC, bạn Gấu, không báo động Gấu, nè, về là chết đấy, thì Gấu bi giờ ra sao, nhỉ ?Giả như Cô Rơm không bỏ chạy Đất Bắc vào năm 1954 ?Giả như chồng Cô Rơm không tử trận, thì cô cũng trở về Đất Bắc thăm nuôi ông chồng sĩ quan VNCH như bao người đàn bà khác rồi!Sure! 


I lost two homelands, but I sought a third: a space for the imagination, a domain that held room for artistic needs that were still not entirely clear to me. I lost a real city, but I sought a city of the imagination. I picked poetry as my province relatively late, later than many others doAdam Zagalewski: Another Beauty[Tôi mất hai quê nhà, nhưng tôi kiếm quê nhà thứ ba: một không gian cho sự tưởng tượng, một miền cư ngụ của những nhu cầu nghệ thuật chưa hoàn toàn rõ ràng đối với tôi. Tôi mất một thành phố thật nhưng tôi kiếm một thành phố của sự tưởng tượng. Tôi lượm lên thi ca khá muộn, so với những người khác, và coi đây là quê nội của mình.]
Đọc thơ TMT, nhớ đến Adam Zagalewski.Susan Sontag có một bài viết về cuốn Another Beauty của ông, và trích dẫn một số thơ, thật gần gũi thơ TMT.
All writing is a species of rememberingMọi cái viết thì đều là một thứ chủng loại của hồi nhớSontag viết về cõi thơ A.Z
We find comfort only inanother beauty, in others&#39;music, in the poetry of others.Salvation lies with others,though solitude may taste likeopium. Other people aren&#39;t hellif you glimpse them at dawn, whentheir brows are clean, rinsed by dreams.This is why I pause: which wordto use, you or he. Each hebetrays some you, butcalm conversation bides its timein others&#39; poems.
And here it is as it appeared in 1985 in Tremor: Selected Poems, Zagajewski&#39;s first collection of poems in English, translated by Renata Gorczynski, where it is entitled &quot;In the Beauty Created by Others&quot;:
Only in the beauty createdby others is there consolation,
Adam Zagalewski

OLD MARX 
I try to envision his last winter,London, cold and damp, the snow&#39;s curt kisses on empty streets, the Thames&#39; black water. Chilled prostitutes lit bonfires in the park.Vast locomotives sobbed somewhere in the night. The workers spoke so quickly in the pubthat he couldn&#39;t catch a single word.Perhaps Europe was richer and at peace,but the Belgians still tormented the  Congo.And  Russia? Its tyranny?  Siberia?He spent evenings staring at the shutters. He couldn&#39;t concentrate, rewrote old work, reread young Marx for days on end,and secretly admired that ambitious author. He still had faith in his fantastic vision,but in moments of doubthe worried that he&#39;d given the world only a new version of despair;then he&#39;d close his eyes and see nothing but the scarlet darkness of his lids.-Adam Zagajewski (Translated,from the Polish, by Clare Cavanagh.)[The New Yorker, Jan 21, 2008] 
Cụ Mác  
Tôi cố tưỏng tượng ra mùa đông cuối cùng của ông, Luân Đôn, lạnh, ẩm.Tuyết đè ngửa, hôn tàn bạo lên phố vắng, lên mặt nước đen thui của dòng sông Thames .Bướm co ro, run rẩy nhóm lửa nơi công viên.Có tiếng sụt sùi của những đầu máy, ở đâu đó trong đêm.Những người thợ nói quá nhanh trong tiệm rượu,khiến ông không kịp bắt, chỉ một từ.Có lẽ Âu Châu thì giầu có hơn, và thanh bình,nhưng người Bỉ vẫn hành hạ xứ Congo .Còn Nga xô thì sao? Bạo chúa của nó? Siberia , chốn lưu đầy ư? 
Ông trải qua những buổi tối mắt dán lên những tấm màn cửa.Ông không thể nào tập trung, viết lại những tác phẩm đã xưa, cũ,đọc lại Marx trẻ cho tới hết ngày,và thầm lén ngưỡng mộ tay tác giả tham vọng này.Ông vẫn còn niềm tin ở cái viễn ảnh thần kỷ, quái đản của mình,nhưng vào những lúc hồ nghi,ông đau lòng vì đã đem đến cho thế giới,&nbsp;chỉ một viễn ảnh mới của sự thất vọng, chán chường;rồi ông nhắm mắt và chẳng nhìn thấy gì nữa, ngoài bóng tối của mí mắt của mình. 
Adam Zagajewski&nbsp; sinh ngày 21 tháng Sáu 1945 tại Lwów, Liên Xô (bây giờ là Lviv , Ukraine ), là một nhà thơ, tiểu thuyết gia, tiểu luận gia Ba Lan. Ông sống tại Paris từ 1981. Vào năm 2002 ông dời tới Kraków. Bài thơ Hãy cố mà ngợi ca một thế giới bị cắt xẻo, đăng trên Người Nữu Ước khiến ông nổi như cồn sau cú 911.Hiện dậy hai lớp, một, về nhà thơ Ba Lan Milosz.&nbsp; 
Try To Praise The Mutilated World  
Try to praise the mutilated world.Remember June&#39;s long days,and wild strawberries, drops of wine, the dew.The nettles that methodically overgrowthe abandoned homesteads of exiles.You must praise the mutilated world.You watched the stylish yachts and ships;one of them had a long trip ahead of it,while salty oblivion awaited others.You&#39;ve seen the refugees heading nowhere,you&#39;ve heard the executioners sing joyfully.You should praise the mutilated world.Remember the moments when we were togetherin a white room and the curtain fluttered.Return in thought to the concert where music flared.You gathered acorns in the park in autumnand leaves eddied over the earth&#39;s scars.Praise the mutilated worldand the grey feather a thrush lost,and the gentle light that strays and vanishesand returns.Translated by Renata GorczynskiAdam Zagajewski[Nguồn: Net: Poemhunter.com] 
.: Misattribution :. This translation is by me, Clare Cavanagh, and not Renata Gorczynski, as noted in both the original New Yorker publication and in Zagajewski&#39;s collection, Without End. I&#39;d appreciate your changing the misattribution here. Thanks.| Posted on 2008-04-01 | by a guest  
Self-PortraitAdam Zagajewski 
Between the computer, a pencil, and a typewriterhalf my day passes. One day it will be half a century. 
Chân dung tự họaGiữa cái PC, cây viết chì, cái máy đánh chữNửa ngày của Gấu trôi quaMột ngày nào đó,sẽ là nửa thế kỷ
 




Đọc TMT
I lost two homelands, but I sought a third: a space for the imagination, a domain that held room for artistic needs that were still not entirely clear to me. I lost a real city, but I sought a city of the imagination. I picked poetry as my province relatively late, later than many others doAdam Zagalewski: Another Beauty[Tôi mất hai quê nhà, nhưng tôi kiếm quê nhà thứ ba: một không gian cho sự tưởng tượng, một miền cư ngụ của những nhu cầu nghệ thuật chưa hoàn toàn rõ ràng đối với tôi. Tôi mất một thành phố thật nhưng tôi kiếm một thành phố của sự tưởng tượng. Tôi lượm lên thi ca khá muộn, so với những người khác, và coi đây là quê nội của mình.]
All writing is a species of rememberingMọi cái viết thì đều là một thứ chủng loại của hồi nhớ
ADAM ZAGAJEWSKI
The GreenhouseIn a small black town, your town,where even trains linger unwilling,anxious to be on their way,in a park, defying soot and shadows,a gray building stands lined with mother-of-pearl.
Forget the snow, the frost&#39;s repeated blows,inside you&#39;re greeted by a damp anthology of breezes,and the enigmatic whispers of vast leavescoiled like lazy snakes. Even an Egyptologistcouldn&#39;t make them out.
Forget the sadness of dark stadiums and streets,the weight of thwarted Sundays.Accept the warm breath wafting from the plants.The gentle scent of faded lightningengulfs you, beckoning you on.
Perhaps you see the rusty sails of ships at port,islands snared in rosy mist, crumbling temples&#39; towers;you glimpse what you&#39;ve lost, what never was,and people with lives likeyour own.
Suddenly you see the world lit differently,other people&#39;s doors swing open for a moment,you read their hidden thoughts, their holidays don&#39;t hurt,their happiness is less opaque, their facesalmost beautiful.
Lose yourself, go blind from ecstasy,forgetting everything and then perhapsa deeper memory, a deeper recognition will return,and you&#39;ll hear yourself saying: I don&#39;t know how-the palm trees opened up my greedy heart. &nbsp; 
Letter from a Reader
Too much about death,too many shadows.Write about life,an average day,the yearning for order.
Take the school bell as your modelof moderation,even scholarship.
Too much death,too muchdark radiance.
Take a look,crowds packedin cramped stadiumssing hymns of hatred.
Too much musictoo little harmony, peace,reason.
Write about those momentswhen friendship&#39;s foot-bridgesseem more enduringthan despair.
Write about love,long evenings,the dawn,the trees,about the endless patienceof the light.
Long Afternoons
Those were the long afternoons when poetry left me.The river flowed patiently, nudging lazy boats to sea.Long afternoons, the coast of ivory.Shadows lounged in the streets, haughty manikins in shop frontsstared at me with bold and hostile eyes.
Professors left their schools with vacant faces,as if the Iliad had finally done them in.Evening papers brought disturbing news,but nothing happened, no one hurried.There was no one in the windows, you weren&#39;t there;even nuns seemed ashamed of their lives.
Those were the long afternoons when poetry vanishedand I was left with the city&#39;s opaque demon,like a poor traveler stranded outside the Gare du Nordwith his bulging suitcase wrapped in twineand September&#39;s black rain falling.
Oh tell me how to cure myself of irony, the gazethat sees but doesn&#39;t penetrate; tell me how to cure myselfof silence.Translated from the Polish by Clare CavanaghThe Partisan Review, Winter 1998 
]]></description>
            <pubDate>2009/11/21 02:45:47</pubDate>
            <guid><![CDATA[TMT 2:1044]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Đọc Trần Mộng Tú 1]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1043]]></link>
            <description><![CDATA[
Đọc TMT&#39;Chiếc cây bị bứng khỏi đất cũ, nhưng không héo úa&#39;Tôi là thi sĩGiọt Mưa Trời Khóc 


Một trong những tính chất cực kỳ quí hiếm, ở thơ của Trần Mộng Tú, theo tôi, là, những dòng cực hiếm quí của bà, được che giấu thật kỹ, bởi những dòng thơ ‘đôn hậu’! (1)Nhưng có lẽ phải dùng cái từ mà một ông chủ báo ở Cali , sử dụng: Khi thấy Gấu khen thơ TMT, ông ta bực mình: Cái thứ thơ &quot;luân lý giáo khoa thư&quot; đó, mà NQT khen ư? Ông khen thơ đó, là mất tiếng nhà đại phê bình sa đích đi!*Điều này, &quot;làm thơ để giấu thơ&quot;, Gấu ngộ ra, là nhờ chính thi sĩ TMT! (2)
(1) Có lẽ phải &quot;mô phỏng&quot; Gide, thì chúng ta mới hiểu được vấn đề chúng ta đang bàn tới ở đây:Cái thứ tình cảm đôn hậu chỉ làm nên một thứ văn chương thi ca tồi!*Quả là có cái gọi là tình cảm đôn hậu trong thơ văn TMT, nhưng phải coi đây là “thuốc ngừa” cái mầm tà ma ác quỉ của một miền đất! (3)Đúng ý Brodsky, khi dùng thơ của Tsvetaeva, nữ sư phụ của ông, để nói về Tsvetaeva:To your insane world,But one reply – I refuse.
Về cái cây bị bứng, theo Gấu, trong trường hợp TMT, thì phải hiểu như vầy:I learn love through the pain all down my body.Nói rõ hơn, không có cái sự bứng đi không bị khô héo ở đây. Chính nỗi đau ngày nào làm cái cây không khô héo. Gặp đất tốt, nó còn tươi tốt hơn so với đất cũ, quê cũ.
(2)&quot;Ba mươi năm ở Mỹ làm được dăm bài thơ, viết được vài truyện ngắn. Lập gia đình vốn liếng được ba đứa con (2 trai, 1 gái: các cháu 22, 20, 19), một căn nhà để ở.... lúc nào tôi cũng nghĩ tôi là người giầu có lắm.... trong túi luôn có một bài thơ đang làm dở. Thấy Trời rộng lượng với mình quá. Mấy chục năm trước Trời có lấy đi nhà cửa người thân. Bây giờ Trời lại đền bù. Còn quê hương thì lúc nào cũng thấy ở trong tim, chắc khó mà mất được...&quot;Cái bài thơ ở trong túi đang làm dở đó, phải đợi tới lúc dòng thơ cực kỳ hiếm quí mò tới, đánh thức nó dậy...(3)Cô Rơm là người Hà-nội. Theo như tôi biết, hay tưởng tượng rằng mình biết, cô có tên mộc mạc này, là do bà mẹ sinh ra cô trên một ổ rơm, khi gia đình chạy khỏi thành phố Hà-nội, những ngày đầu &quot;Mùa Thu&quot;.Kim Dung cho rằng thiên nhiên khi &quot;bịa đặt&quot; ra một tai ương, thường cũng bịa đặt ra một phương thuốc chữa trị nó, quanh quẩn đâu gần bên thảm họa. Ông kể về một thứ cỏ chỉ có ở một địa phương lạnh khủng khiếp, và người dân nghèo đã dùng làm giầy dép. Những người dân quê miền Bắc chắc không thể quên những ngày đông khắc nghiệt, và để chống lại nó, có ổ rơm. Tôi nghĩ Trần Mộng Tú tin rằng &quot;rơm&quot; là phương thuốc hữu hiệu, không chỉ để chống lại cái lạnh của thiên nhiên, mà còn của con người.Ít nhất, chúng ta biết được một điều: tác giả đã mang nó tới miền Nam , rồi ra hải ngoại, tạo thành thứ tiếng nói hiền hậu chuyên chở những câu chuyện thần tiên.&quot;Sức khỏe&quot; ngôn ngữ đó - thật thiết yếu, cho một xã hội đang còn sống. Văn chương là nơi ngôn ngữ luôn bị thách đố, và cần được gìn giữ nhất. The health of language is essential to the preservation of a living society. It is in literature that language is most truly challenged and guarded. G. Steiner, Chủ nghĩa Mác và Phê bình văn học - phải chăng được Cô Rơm gìn giữ, giùm cho tất cả chúng ta?Thư bạn*-ÐQAThái: Tôi không nhớ có một người nào đó đã nói rằng, chất liệu làm cho một văn nghệ sĩ có được tác phẩm lớn là nỗi khổ đau, hay nói một cách khác, tố chất của người nghệ sĩ là họ phản ảnh nỗi khổ đau của con người. Nếu mà sống trong một hoàn cảnh bình an quá, hạnh phúc quá thì liệu một tác phẩm có đủ sâu sắc để trở thành một tác phẩm lớn không?-Nhà văn Phạm Xuân Ðài: Cái đó tôi thấy cũng có lý. Phải sống trong những nỗi đau khổ thật lớn thì mới có tác phẩm lớn. Nhưng mà đó là những trường hợp tác phẩm thật lớn kia, còn như là Trần Mộng Tú chẳng hạn thì chúng ta có một nhà thơ, nhà văn rất đáng yêu đối với cộng đồng của chúng ta và có lẽ cũng của người đọc Việt Nam nói chung trên khắp thế giới.
Cái nỗi đau lớn không có đẻ ra cái tác phẩm lớn đâu, theo Brodsky. Ông phán:Có một giả tưởng quái đản cho rằng có đau khổ mới có nghệ thuật lớn, Đau khổ làm cho người ta mù lòa, điếc lác, tàn hại, và thường khi, sát nhân. [It’s an abominable fallacy that suffering makes for great art. Suffering blinds, deafens, ruins, and often kills]. Osip Mandelstam là nhà thơ vĩ đại “trước” cách mạng. Cũng vậy, là Akhmatova. Cũng vậy, là Marina Tsvetaeva. Họ sẽ vẫn là họ, đếch cần đến cái cuộc cách mạng đó, đếch cần dù chỉ một biến cố lịch sử đó giáng lên đầu dân Nga: Bởi vì họ là thiên bẩm [gifted].Cơ bản mà nói, tài năng đếch cần lịch sử.Joseph Brodsky: Ai điếu Nadezhda Mandelstam [1899-1980].Cơ bản, tài năng đếch cần lịch sử. [Basically, talent doesn’t need history]. Hãy nhớ lại những tài năng tiền chiến, đếch cần tới Mùa Thu Lịch Sử sau đó. Thê thảm hơn, họ bị nó nghiền nát bấy, biến thành, hoặc đao phủ hoặc nạn nhân. Người đọc chẳng đã sửng sốt vì những cái độc cái ác đầy rẫy ở trong sổ Ghi của Trần Dần, chúng đâu làm cho tài năng của ông lớn thêm lên đâu? Một cách nào đó, phải coi hành động tiêu diệt nhóm Nhân Văn Giai Phẩm như là một hành động sát nhân.Đọc thơJoseph Huỳnh Văn, 1975Akhmatova, 1917*Cái “mỹ tưởng”, “làm thơ để giấu thơ,” làm nhớ đến Xuân Diệu!&nbsp;Trong &quot;Chân Dung và Đối Thoại&quot;, Trần Đăng Khoa kể lại lần gặp gỡ nhà thơ Xuân Diệu.*&quot;Còn nhớ dạo ông tặng tôi tuyển tập thơ, tôi đọc và quả thật, rất kính phục. Khi gặp ông, tôi thú thực:- Trong này có mấy bài thơ tứ tuyệt, cháu thuộc từ đời nảo đời nào, thuộc thơ, rồi lại quên mất tác giả, lại tưởng thơ Đường, cứ đinh ninh thơ Đường mới chết chứ!Xuân Diệu cười, tỏ ra rất tâm đắc (...). Thấy ông vui, tôi lại càng chân thật:- Cháu rất thích tập thơ này. Nhưng không hiểu sao, vẫn cứ tiêng tiếc. Cháu thấy có nhiều bài dở, chú ạ.- Ơ, cái cậu này hay chửa? - Xuân Diệu trợn mắt lên - Thế cậu tưởng đây là tuyển thơ à? Còn phải sàng sảy chán. Đời sau người ta sẽ tuyển lại chứ. Còn bây giờ có cái gì, cứ phải quăng ra đã. Nhà đang cháy thì cái thúng, cái mẹt, cái váy đụp gì thì cũng vứt ra, rồi sau sẽ nhặt nhạnh (...). Nhà cậu đang cháy, mà cậu còn ngồi nhặt nhạnh của nả hả?Tôi im tịt chẳng nói được gì. Đầu óc dường như mụ lị. Đúng thật. Sao mình lại ngu thế nhỉ. Ai lại chọn lọc của cải khi mà nhà đang cháy. Mãi đến lúc thoát ra khỏi cái mê cung của Xuân Diệu rồi, đạp xe đi một quãng xa rồi, tôi mới sực tỉnh, mới nhận ra một điều quá ư là đơn giản: in thơ tập, và cháy nhà là hai việc rất khác nhau.&quot;
Như trên đã nói, văn chương bắt đầu bằng những từ: &quot;là&quot; (Em là gió, là mây...), &quot;hình như&quot; (là tình yêu), &quot;như&quot; (&quot;sáng nay Nga như một con mèo ngái ngủ...&quot;, &quot;buổi sáng sớm tinh sương như một vết thương mới lên da non&quot;...). Tu từ (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, thậm xưng, cường điệu....) đề nghị một nối kết, giữa hai sự vật. Chúng ta tự hỏi: tại sao Xuân Diệu lại so sánh chuyện cháy nhà với chuyện làm thơ? Và cảm giác &quot;mụ lị&quot; của Trần Đăng Khoa, và thái độ &quot;phản tỉnh&quot; (tự kiểm thảo?) sau đó, có thể hiểu như thế nào?
Liệu có thể có một nối kết giữa con sói ở góc rừng, nỗi sợ của cậu bé, chuyện cháy nhà (chiến tranh, B.52, chủ nghĩa toàn trị sẽ phần thư tất cả, chỉ để lại những câu vè...), nỗi sợ của Xuân Diệu, con sói giả tưởng của ông... Cả hai nhà thơ, Xuân Diệu và Trần Đăng Khoa đều nhận ra một sự thực: có những câu thơ của Xuân Diệu đã vươn tới cõi thơ Đường, đã trở thành tự nhiên như cây cối, như sỏi đá, người đọc mê luôn, và chẳng cần biết tác giả là ai. Nhưng để cho những câu thơ tồn tại, phải quăng vào đó, một mớ váy đụp... Như một nhà thơ, Xuân Diệu biết rõ, thời gian qua đi, chủ nghĩa toàn trị sẽ qua đi, sẽ bị huỷ diệt, tới lúc đó, nàng công chúa sau giấc ngủ dài, rũ khỏi lớp váy đụp, vươn vai tỉnh dậy...
Là thi sĩ, làm sao ông không biết bài ca dao vịnh Phượng Hoàng:Phượng hoàng đậu chốn cheo leo,Sa cơ thất thế phải theo đàn gà.Bao giờ mưa thuận gió hòa,Rũ lông, rũ cánh, lại ra phượng hoàng.(Tôi viết lại theo trí nhớ).
Chen Yun (Trần Vân), kinh tế gia, thuộc đảng bộ Bắc Kinh, trước khi mất vào tháng Tư, 1995, đã so sánh chính sách kinh tế Thị Trường Mới (New Market economy) của Trung Quốc như một con chim tư bản lớn lên ở bên trong cái chuồng xã hội chủ nghĩa (a capitalist bird growing up inside a socialist cage). Liệu đã tới lúc con phượng hoàng thơ vỗ cánh thoát ra khỏi cái chuồng giam giữ nó?Đọc Chân Dung &amp; Đối ThoạiChính những câu thơ ‘đôn hậu’ giấu những câu thơ thần, ở bên dưới cái đạo đức “luân lý giáo khoa thư” là sức khoẻ của ngôn ngữ.
Mắt xanh hay mắt trắng (To be or not to be?). Văn là người, nhưng văn cũng để giấu người: chất khinh bạc vốn lồ lộ trong Nguyễn Tuân, là để giấu con người thực của ông. Người đọc sướng điên lên, vỗ đùi bành bạch, vì nét tài hoa, vì con mắt trắng dã của Nguyễn Tuân, nhưng để lọt mắt xanh của ông, phải là độc giả của những câu văn nhẹ khôn kham: &quot;cứ đến ngồi đây là mình lại nhớ đến nó. Không hiểu sao.&quot; Một chuyến điPXD:Cái đó tôi thấy cũng có lý. Phải sống trong những nỗi đau khổ thật lớn thì mới có tác phẩm lớn. Nhưng mà đó là những trường hợp tác phẩm thật lớn kia, còn như là Trần Mộng Tú chẳng hạn thì chúng ta có một nhà thơ, nhà văn rất đáng yêu đối với cộng đồng của chúng ta và có lẽ cũng của người đọc Việt Nam nói chung trên khắp thế giới.
Gấu sợ rằng, chính “nhà thơ, nhà văn rất đáng yêu đối với cộng đồng của chúng ta và có lẽ cũng của người đọc Việt Nam nói chung trên khắp thế giới” là...&nbsp; mặt ngoài, để che giấu “nhà thơ mắt xanh”, với những câu thơ thần, chỉ thi sĩ thứ thật, thứ xịn mới làm được, đúng thứ “thơ để trao cho thi sĩ” mà Borges đã từng nói tới.
Hay, như Graham Greene, khi phải nhận xét về cuốn The Heart of the Matter của ông:“Thành công. Một thành công theo một cái nghĩa dung tục lớn lao của từ này”![‘a success in the great vulgar sense of that term’]
Đọc TMT&#39;Chiếc cây bị bứng khỏi đất cũ, nhưng không héo úa&#39;Tôi là thi sĩGiọt Mưa Trời Khóc
Tôi không muốn làm nhà thơ. Mà chỉ muốn làm một anh văn nghệ làng nhàng. Một thằng nói, chứ không hát. Xin lỗi vì đã trần tình như vậy, nhưng là một Tư Mã Giang Châu đã quá hân hạnh ở trên cõi đời này rồi.R.L. Stevenson*Là một nhà thơ chứ, lẽ dĩ nhiên!Một nhà thơ vụng về, nhưng một nhà thơ.[Borges trả lời phỏng vấn]
NGUYỄN LƯƠNG VỴ&nbsp; PHỐ CŨ DƯƠNG CẦM THU 
Lá vàng rơi thương tưởng Dương Cầm Thu Phố ươm nắng vàng câm. Âm biếc nắng Bờ bến gọi. Thức tròn mùa xa vắng Em đi đâu?! Dương cầm réo sông xa 
Dương Cầm Thu ngấm men rượu Hoàng Hoa&nbsp;Phố thầm nhắc một mái lầu phong nguyệt Màu cổ điển. Rằm phơi âm bất tuyệt Em đi đâu?! Cỏ ướt khúc tình sầu 
Dương Cầm Thu tóc xõa Dương Cầm Nâu Phố khuya hát ngàn sông. Rêu nhớm rễ Âm níu Nhạc. Ngàn sông bay nắng xế Để ngàn khuya tan theo Dương Cầm Thu 
Muốt tay em mềm hết dấu sương mù Phố điêu khắc. Dương Cầm Thu chín đỏ Lá say hết âm vang chìm đáy mộ Nắng vàng câm. Âm biếc nắng nhớ nhau 
Nắng vàng câm. Vang bóng đến ngàn sau Phố ngực nõn dậy thì trăng ướt mượt Phím chất ngất. Dương Cầm Thu hẹn ước Trăng gọi nước xuôi ngàn. Đàn vang bước em đi…&nbsp;8/2005 
Quả là một khúc thần sầu. Chất viril [chất đực], chất eros [chất huê tình], chất sauvage [dã man, tàn bạo]... nhưng cũng thật thơ mộng:Em đi đâu, cỏ ướt khúc tình sầu. Thơ NLV âm vang thơ của những bậc đi trước ông. Rõ nhất, là Joseph Huỳnh Văn, rồi tới Bùi Giáng, rồi tới Thanh Tâm Tuyền [chất đàn ông, hung bạo mà cả hai đấng kia không hề có].Có lần, Gấu thú thực, chưa tìm ra chìa khoá vô cõi thơ NLV. Có NTN, lần anh viếng thăm Mẽo, và nhà thơ này gật gù, đúng, mỗi cõi thơ là mỗi chìa khoá. Thơ của tôi, chìa khoá nằm ở mãi cõi Thơ Đường. Nói chung, thơ của mấy ông này, chìa khóa thì đều nằm trong Cõi Điên cả. Trừ Joseph HV, cõi thơ Ky Tô, giống của Brodsky.Trừ TTT, cõi thơ trí tuệ, gần cõi thơ Milosz, nhưng lại thiếu cõi quê của Milosz. Cõi quê như chính ông tâng bốc:It is good to be born in a small country where nature is on a human scale, where various languages and religions have coexisted for centuries. I am thinking here of Lithuania , a land of myth and poetry.Thật lốt lành khi sinh ra tại một xứ nhỏ, nơi thiên nhiên không so le với con người, nơi ngôn ngữ và tôn giáo cùng rong ruổi bên nhau qua nhiều đời. Tôi đang nghĩ về Lithuania , miền đất của huyền thoại và thi ca.Milosz, Diễn văn Nobel văn chương.Với TTT, thì đây là Đất Bắc mà ông đã từ bỏ, và khi trở về, thì như một tên tù: 
Chiều cuối năm qua xóm nghèoMưa bay lất phất gió căm căm Đường lầy trơn nhà cửa tối tămTrốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc Co ro đứng coi tù qua thôn Vác bó cuốc nặng bước loạng choạng Về trong xây xẩm buổi tàn đôngLạnh lẽo nhà ai không đèn lửa Ảm đạm lòng ta chiều cuối năm78 (Thơ ở đâu xa) 
Note: Thơ NLV âm vang thơ của những bậc đi trước ông. Chúng ta phải hiểu câu này, trong cái dòng của câu của Dos, như bài điểm cuốn Dead Souls, dưới đây: Chúng ta đều chui ra từ Chiếc Áo Khoác của Gogol:The famous remark often attributed to Dostoevsky that &quot;We all emerged from Gogol&#39;s overcoat&quot; (a reference to Gogol&#39;s story of 1842) remains more accurate. 
Thơ &nbsp;NLV quả là đã chui ra từ cái áo khoác, là cõi thơ Miền Nam , tụ vào mấy đấng Joseph Huỳnh Văn, Bùi Giáng, và TTT. Tại sao trong cõi thơ đó, không có, thí dụ TTY? Thơ TTY, là dòng thơ cảm khái, có từ ngàn đời, và đời nào cũng có. Nhà thơ giáo chủ Tân Hình Thức gọi, đây là thơ biên tái, biên đình.*Nhà thơ Milosz viết, trong bài viết ‘Về Brodsky’ trong “Bắt đầu nơi tôi là”: Điều sâu thẳm nhất mà ông ta [Brodsky] nói về Akhamatova, và có lẽ đây là những từ sâu thẳm nhất, chưa từng được nói ra, về cái gọi là tiến trình tạo nói chung, là, rõ ràng là bà quá đau khổ khi viết Kinh Cầu. Nỗi đau con bị tù của bà là thực, nhưng khi viết về nó, bà cảm thấy như giả đò, giả vờ, gượng gạo, [falsehood], chính là do bà phải vận nỗi đau của mình thành vần thành điệu [she had to shape her emotions into forms]. Và chính cái gọi là “form”, sử dụng tình cảm đau thương cho mục đích của riêng nó, làm tê liệt nó, như nó vẫn là như vậy.

Tôi nghĩ Trần Mộng Tú thoạt tiên là người của Thơ... không, không phải là của thơ, mà bản chất Tú chính là Thơ, rồi từ đó tất cả các thuộc tính khác của đời Tú như văn chương, tính tình, rồi đến vai trò người tình, người vợ, người mẹ v.v... đều do từ cái Nguồn Thơ ấy phân phối ra. Ít có một con người nào nhất quán như Tú. Nhìn từ góc cạnh nào cũng nhận ra cái bản chất chung thì rất đôn hậu nhưng lại mới lạ nhạy bén trong sáng tạo, giản dị trong đời thường nhưng phức tạp trong văn chương, tình cảm... Nhưng dù có mới lạ, nhạy bén, phức tạp bao nhiêu cũng không rời xa nét đằm thắm của sự đôn hậu.Phạm Xuân ĐàiVăn chương của Trần Mộng Tú phản ánh thật sáng và rõ một tâm hồn rất nhậy cảm trước những nét đẹp đẽ, tha thiết cũng như xót xa, đau khổ của cuộc sống. Đặc biệt là khi những nét đời ấy được đặt trong khung cảnh của Việt Nam , trong mắt nhìn và trong tấm lòng sóng sánh đầy những thiết tha và nhân ái của người nhìn ngắm chúng. Có sự trộn lẫn của thực tại với hồi ức, của cuộc đời hằn xé với những mộng tưởng thanh xuân. Có nắng mưa, gió sóng, cùng những bụi bặm, náo động của cuộc đời. Nhưng cũng có, trong những dòng văn chân thật ấy, những khoảng thinh lặng cần thiết và ấm áp của tình người.Bùi Vĩnh Phúc *Có một khoảng cách rất lớn giữa những nhận xét trên, với một hai câu thơ “xuất thần” của TMT. Nhận xét của PXĐ như đã manh nha &#39;một cái gì đó&#39;, khi viết:Nhìn từ góc cạnh nào cũng nhận ra cái bản chất chung thì rất đôn hậu nhưng lại mới lạ nhạy bén trong sáng tạo, giản dị trong đời thường nhưng phức tạp trong văn chương, tình cảm..Nhưng chính TMT nhận rất rõ về mình, khi viết:&quot;… trong túi luôn có một bài thơ đang làm dở.&quot; 
Như thế, tất cả đều chỉ là những bài thơ làm dở, rồi, bất thình lình, thơ bật ra.* 
Gấu bỗng nghĩ đến anh chàng điệp viên James Bond, trong cuốn Tiểu Sử Không Được Phép. &quot;James Bond: The Unauthorized Biography of 007&quot; by John Pearson.Bond, chỉ đến &quot;sát na&quot; chót, ở &quot;biên giới của tử sinh&quot;, thì mới tìm ra cho mình một đường sống.*Có lẽ, sáng tạo nào cũng phải được hiểu như vậy.Và đều nguy hiểm chết người như vậy ! 
Nếu đằm thắm, đôn hậu, mà thôi, thì giỏi lắm, cũng chỉ đạt tới &quot;những tình cảm tốt đẹp&quot;, và nếu như thế, chúng ta có, câu của Gide, khi đi Liên Xô tham quan trở về: Tất cả những tình cảm tốt đẹp chỉ đẻ ra một thứ văn chương tồi. Văn chương xã hội chủ nghĩa, viết dưới ánh sáng của Đảng.*Cuốn James Bond, Tiểu sử không được phép&nbsp; Gấu đọc những ngày ở trại tị nạn Thái Lan, khi đã đậu thanh lọc, và chờ gặp phái đoàn, để xin đi tái định cư, và là một trong những cuốn sách đầu tiên làm quen lại với tiếng Anh. Một trong những xen mà Gấu còn nhớ mãi, xẩy ra khi Cách Mạng Hung bùng nổ, Bond được phái tới Budapest để cứu một nữ điệp viên Anh bị kẹt.Đến, bị bắt tại trận, ngay khi gặp cô bạn, vì người yêu của cô này là điểm chỉ viên nằm vùng của KGB, và chuyến đi của Bond là chỉ để lọt vô bẫy của họ.Vào những giờ phút thành phố lọt vào tay cách mạng, đám điệp viên Nga Xô phải rút đi, họ nhốt Bond và cô bạn vô một chuồng..&nbsp; gấu, trong sở thú Budapest .Mấy con thú cũng đang phát cuồng, cứ thế tiến đến phía hai người. Và Bond tìm ra cơ may sống sót, đúng vào lúc đó, khi anh chợt nhớ ra là loài gấu, cũng như loài khỉ, có thói quen bắt chước con người. Thế là chàng lùi dần tới chấn song chuồng giam, làm bộ kéo kéo giật giật mấy thanh sắt, như muốn làm chúng doãng ra, để lọt người qua. Mấy con gấu bắt chước, và, lao ra khỏi chuồng, Bond dắt tay cô bạn gái chuồn theo. 
Gấu đã kể chuyện trên một lần, nay kể lại, để tưởng niệm Cách Mạng Hung, những ngày này cách đây 50 năm. 
Và để vinh danh một giọt mưa. 
Có sự trộn lẫn của thực tại với hồi ức, của cuộc đời hằn xé với những mộng tưởng thanh xuân. Có nắng mưa, gió sóng, cùng những bụi bặm, náo động của cuộc đời. Nhưng cũng có, trong những dòng văn chân thật ấy, những khoảng thinh lặng cần thiết và ấm áp của tình người.Đây là thứ văn không thể quên thời đi học và những bài luận mẫu, văn chương huề vốn, ba phải, &quot;vãi linh hồn&quot;. Chính cái tính chất vãi linh hồn này dễ làm cho người viết tưởng mình là thi sĩ ! Không phải Gấu, mà là Kundera đã chỉ ra, và mượn cây gậy của Kafka để mà phạng.Con tim khô héo luôn ngụy trang bằng thứ văn phong ướt đẫm tình cảm.[Sécheresse du coeur dissimulée derrière un style débordant de sentiments].Di chúc KafkaSự lầm lẫn - tưởng mình là thi sĩ, với những dòng văn đầy nước mắt nước mũi, như trên, theo Gấu, khá nhiều nhà văn nhà quê của chúng ta mắc phải, nào là thì thầm với thơ, nào là ra biển gọi thầm [la lớn còn chẳng ăn ai, ở giữa biển cả, nữa là thầm với thì] - là do không phân biệt được, thế nào là trữ tình, lyrique, thế nào là thơ ca, poétique. Mỗi khi hơi bị bé cái lầm, cứ tưởng mình là thi sĩ, hãy nhớ câu này của Borges: Thơ là để trao cho thi sĩ.Hay câu này, của Rilke, [theo Coetzee]:Rilke chiến đấu cả đời để là một nhà thơ - không phải nhà thơ thuần túy, nhưng thuần túy nhà thơ [not a pure poet, but purely a poet], bởi vì ông cảm thấy.... thơ chỉ có thể viết bởi một người nào đã là nhà thơ [because he felt... that poetry could only be written by someone who was already a poet].Nguồn*Một trong những tác giả tôi đọc sớm sủa nhất, và viết về người đó đầu tiên, khi mới ra hải ngoại, là TMT. Sự say mê tiếng Việt của bà làm tôi sững sờ, khi đó, và viết ra điều này, trên tờ Văn Học của NMG, người tình của bà là tiếng Việt.Mãi sau này, nhìn lại, tôi mới hiểu điều tôi nói đó, là từ một câu khác, đã đọc từ lâu, và ăn sâu vào tiềm thức. Câu đó như vầy:Nhà văn lớn là người kết hôn với đất nước của họ.Và câu này, cũng đã được tôi sử dụng, khi đọc Nhất Linh. Mối tình lớn của Nhất Linh với Miền Bắc, bật ra, khi ông, trong nhân vật thế thân của mình, là Dũng, buổi trưa hè &quot;ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung&quot; đó, đó, vô tình nhìn thấy cái áo cánh trắng bên vườn hàng xóm, tự hỏi, của ai đấy nhỉ, và chợt nhớ ra là nghỉ hè, và Loan đi học ở tỉnh trở về nhà.Nhưng với TMT, còn hơn thế nữa. Bà chỉ có thể kết hôn với ngôn ngữ, bởi vì quê hương của bà không còn. Đây cũng là điều Brodsky nói ra, khi được hỏi, và ông trả lời, tôi hết còn tin vào cái xứ sở đó.Nhưng, khác Brodsky, những người như TMT, họ chứng kiến cái giây phút hấp hối của xứ sở, khi ngoái nhìn lại, những ngày 30 Tháng Tư 1975. Kinh nghiệm này, Kundera cũng đã từng sống vào năm 1968, khi Liên Xô xâm lăng xứ sở của ông, và ông bảo, nó đau như là một trận cháy nhà. [Trong Le Rideau, Bức Màn] 
]]></description>
            <pubDate>2009/11/21 02:43:40</pubDate>
            <guid><![CDATA[Đọc Trần Mộng Tú 1:1043]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Độc và Đẹp]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1040]]></link>
            <description><![CDATA[]]></description>
            <pubDate>2009/11/21 02:42:26</pubDate>
            <guid><![CDATA[Độc và Đẹp:1040]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Kiều]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1034]]></link>
            <description><![CDATA[Nguyễn Khắc Bảo: Tôi đáng được trả bốn nghìn vàng
Ngày đăng: 13/10/2009 06:30 GMT+7



In 
Thảo luận 
TRONG MỤC NÀY


Nobel Kinh tế 2009 và những hướng đi mới 
Obama + Giải Nobel = 2 &quot;cú đấm&quot;? 
Milan Kundera khiến tôi bật cười và hổ thẹn... 
Bản dịch quốc ngữ Truyện Kiều do học giả Đào Duy Anh biên soạn năm 1979 được truyền bá và thông dụng nhất hiện nay, thế nhưng ít ai biết rằng Nguyễn Khắc Bảo (một thầy lang đất Kinh Bắc) đã sửa đến 918 chữ ở 701 câu.
Nhớ lúc Lã Bất Vi ở xứ Trung Hoa viết xong tác phẩm Lã Thị Xuân Thu đã để một ngàn nén vàng ở cửa thành Hàm Dương và nói rằng &quot;Hữu năng tăng tổn nhất tử giả thiên kim&quot; nghĩa là nếu ai thêm bới được một chữ trong tác phẩm ấy thì ông sẽ thưởng cho ngàn nén vàng thì có lẽ ông Bảo xứng đáng được trả bốn nghìn vàng.
Duyên nợ với kiệt tác Truyện Kiều





Nguyễn Khắc BảoCăn nhà nhỏ của ông ở phường Tiền An, thành phố Bắc Ninh chứa đầy đồ cổ từ tiền, tượng đất nung cho đến những bát, chén, chai, lọ, trong đó có nhiều cổ vật có niên đại hàng nghìn năm. Thế nhưng điều ông say mê nhất, &quot;lao tâm khổ tứ&quot; nhất lại là kiệt tác bất hủ - Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. 
Nguyễn Khắc Bảo đến với truyện Kiều một cách rất tình cờ. Phải chăng đó là chữ &quot;duyên&quot; của thầy lang &quot;chọi&quot; với cụ Nguyễn Tiên Điền. Năm 1990, khi về nghỉ mất sức, ông Bảo quay về với nghề Đông y cổ truyền của gia đình.
Quyết tâm nghiền ngẫm lại vốn Hán-Nôm, ông đã đối chiếu bản Kiều nôm trong số đồ gia bảo với bản Kiều quốc ngữ chỉ với một mục đích hết sức &quot;chân phương&quot; là nhận dạng mặt chữ Nôm để đọc sách thuốc.
Nếu việc đối chiếu so sánh đó cứ &quot;chẵn&quot; &quot;tròn&quot; thì đã không có truyện gì xảy ra nhưng một ngày ông phát hiện ra chữ &quot;thử&quot; trong bản Nôm lại là chữ &quot;tư&quot; trong bản quốc ngữ (câu &quot;Lạ gì bỉ sắc tư phong&quot;). Vậy thì ai sai, ai đúng?
Sự tò mò đã thôi thúc ông tìm kiếm các bản Kiều khác để đối chiếu. Khởi đầu là Bắc Ninh, Bắc Giang rồi đến Hà Nội, Nghệ An thậm chí cả Sài Gòn, Tiền Giang. Cứ nghe chỗ nào có bản Kiều cổ là ông tìm đến và &quot;săn&quot; cho bằng được. &quot;Độ trăm lần đi may thì tìm được một cuốn&quot; như lời ông tâm sự.
Ông lý giải niềm say mê chú giải và tìm đến ngọn nghành câu chữ trong truyện Kiều của mình thật giản dị:&nbsp; &quot;Mọi điều đều có cái gốc của nó. Thứ nhất tôi là giáo viên toán ưa sự chính xác. Thứ hai, thầy thuốc Đông y cũng cần sự chính xác. Nghĩa là sách các cụ dạy thế nào thì phải làm đúng như thế mới có tác dụng, mới có thể chữa khỏi bệnh. Nên truyện Kiều tôi cũng suy luận như thế. Cụ Nguyễn Du viết thế nào thì phải dịch đúng như thế mới thấy hết được tài năng của cụ&quot;.
Để có thể dịch sát với nguyên tác nhất, ông đã phải lần lượt đối chiếu từng câu, từng chữ trong tất các bản Kiều mà ông có (đến nay là 51 bản Kiều chữ Nôm). Nghĩa là, bằng kiến thức và cảm nhận của mình, khi thấy một chữ nào đó không thích hợp, ông sẽ lục tìm trong tất cả các bản còn lại để xem xét và lựa chọn xem chữ nào hợp lý hơn, chính xác hơn để thay vào vị trí đó. &quot;Tôi không dám lấy một chữ nào ở trong đầu tôi ra cả&quot;.
Sửa hơn 700 câu Kiều
Bản dịch của Đào Duy Anh chép: Quản chi lên thác xuống ghềnh/ Cũng toan sống thác với tình cho xong (câu 1951, 52). Nhưng theo ông Bảo, câu đó phải là Quản chi trên các dưới duềnh. Theo ông, câu này dựa theo 2 điển tích về hai nhà thơ đời Sở, Hán là: &quot;Dương Hùng đầu các nhi tử, Khuất Nguyên tự trầm Mịch La&quot; (Dương Hùng đâm đầu từ trên lầu gác xuống chết, Khuất Nguyên nhảy xuống sông Mịch La tự vẫn).





Chân dung Nguyễn Khắc Bảo do một người bạn của ông tặng
Các nhà khảo cứu hiện đại có lẽ đã bỏ qua tích này, và đều theo Kiều Oánh Mậu chữa thành lên thác xuống ghềnh. Mới đọc tưởng có vẻ hợp với anh lái buôn Thúc Sinh, nhưng lại không đúng cốt truyện và không thể hiện được vốn kiến thức uyên thâm của Nguyễn Du.
Lại có câu lâu nay được quen đọc là Vực ngay lên ngựa tức thì tả cảnh bọn Khuyển Ưng nhận lệnh Hoạn Thư đánh thuốc mê cô Kiều rồi xốc lên ngựa bắt về. Theo ông từ &quot;vực&quot; để chỉ việc &quot;khiêng&quot; lên từ từ. Phải thay từ &quot;vực&quot; bằng từ &quot;dẩy&quot; mới lột tả được hết bản chất của bọn Khuyển Ưng. Mới đúng với bọn đi ăn cướp, bắt cóc. Còn nếu bọn chúng chỉ vực ngay lên ngựa, sau này lại vực xuống dưới thuyền, rồi lại vực xuống môn phòng, thì hoá ra bọn này tử tế quá sao.
Câu 1919: &quot;Đưa nàng đến trước phật đường&quot; phải thay từ &quot;nàng&quot; thành &quot;chàng&quot;. Như vậy cuộc đi tu của Thúy Kiều có ba nhân vật. Bởi vì theo nguyên truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thì Hoạn Thư bắt Thúc Sinh phải cùng đến Quan Âm các để chàng Thúc đau lòng chứng kiến cảnh nàng Thuý Kiều đi tu. Thế mới thấy hết được sự thâm hiểm của họ Hoạn. Mà Thúy Kiều chỉ là con ở thôi sao Hoạn Thư lại phải &quot;đưa&quot;.
Nguyễn Khắc Bảo sửa câu: &quot;Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa&quot; thành &quot; Xót lòng trinh bạch từ lâu đến giờ&quot;. Theo ông sự thay đổi từ ngữ của bản Đào Duy Anh gây thất vọng về bản lĩnh của Thuý Kiều, sao lại hèn kém đến mức phải xin chừa cả chút lòng trinh bạch của người con gái.
Thực ra các nhà biên khảo đã nhầm. Câu thơ của các bản Kiều cổ: Xót lòng trinh bạch từ lâu đến giờ - cho ta hình ảnh Thuý Kiều chung thuỷ tột bậc với người yêu. Khi sắp phải dấn thân vào con đường nhơ bẩn, nàng vẫn nhớ đến chàng Kim Trọng và chua xót cho việc mình đã &quot;hoài công nắng giữ mưa gìn&quot; lòng trinh bạch từ lâu đến giờ. Để đến nỗi sa vào cảnh &quot;hồng ngâm cho chuột vọc, mình ngọc cho ngâu vầy&quot;.
Ông cho rằng, thế mới đúng với tâm trạng của Thúy Kiều, mới phù hợp với mạch tư duy trước đó của Thuý Kiều: Biết thân đến bước lạc loài -Nhị đào đã bẻ cho người tình chung. Đã có hàng trăm trường hợp khác cũng được ông chữa và chú giải một cách chu đáo.
Nỗi lòng của người sửa Kiều
Theo ông Bảo sở dĩ ông có thể sửa được những chữ trong bản Kiều quốc ngữ của Đào Duy Anh là do ông có nhiều &quot;bột&quot; hơn, nhiều bản Kiều cổ hơn mặt khác ông lại có một vốn kiến thức Hán - Nôm để có thể hiểu đúng với nguyên tác nhất. Có đọc đúng mới thể hiện được hết tài năng, nỗi lòng của Nguyễn Du. Mới thấy hết được tấm lòng trắc ẩn và kiến thức thâm sâu của cụ Tiên Điền. Trong khi cụ viết thế này mà con cháu lại hiểu sai đi là không được.
Nguyễn Khắc Bảo nhắc đi nhắc lại rằng, ông chỉ là một thầy lang ở vùng Kinh Bắc, một người nghiên cứu &quot;nghiệp dư&quot; chứ không phải giáo sư, tiến sĩ gì nhưng vì lòng yêu mến Truyện Kiều, yêu mến Nguyễn Du, ông quyết trả cho Nguyễn Du những gì là chân xác nhất. Cho dù điều đó chưa dễ gì được người đời công nhận.




Nguyễn Khắc bảo sinh năm 1946, Uỷ viên Thường vụ BCH Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh, Hội viên Hội Đông Y Việt Nam, Hội viên Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
Đến nay ông đã kỳ công sưu tập được 51 bản Kiều Nôm cổ, trong đó có 9 bản chép tay, còn lại 35 bản khắc in các lần khác nhau. Ngoài ra, ông còn có trong tay 58 bản in quốc ngữ.
Truyện Kiều là kiệt tác văn học bậc nhất của văn chương Việt Nam, góp phần không nhỏ trong việc tôn vinh Đại thi hào dân tộc - Danh nhân văn hóa thế giới: Nguyễn Du. Nhưng đến nay văn bản gốc có thủ bút của tác giả vẫn chưa sưu tầm được.
Do đặc điểm của chữ Nôm là chưa được điển chế một cách chính quy và chặt chẽ, nên nhiều khi các bản Nôm đã chép thống nhất về mặt chữ nhưng khi phiên âm sang Quốc ngữ lại vẫn sai khác nhau.
Tại Hội thảo quốc tế về chữ Nôm (12/11/2004), Nguyễn Khắc Bảo đã trình bày một bản tham luận &quot;sửa Kiều&quot;, dẫn ra 21 trường hợp bản Kiều quốc ngữ của học giả Đào Duy Anh là sai.
Sau hai mươi năm bền bỉ khảo cứu Truyện Kiều, ông đã sửa 918 chữ ở 701 câu so với bản Kiều phổ biến nhất hiện nay của Đào Duy Anh (1979) và đề xuất một bản Kiều gần với nguyên tác nhất. Những kiến giải của ông đã được Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản thành sách vào tháng 8 năm 2009 do Nguyễn Hữu Sơn và Nguyễn Khắc Phi thẩm định.

Bài và ảnh: Hoàng Giang ]]></description>
            <pubDate>2009/10/15 05:42:42</pubDate>
            <guid><![CDATA[Kiều:1034]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Tô Hoài 2]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1032]]></link>
            <description><![CDATA[Thứ Ba, 13/10/2009 07:58 &nbsp; &nbsp;   

Tô Hoài - một người Hà Nội (Bài 2): Tô Hoài và một phong cách tiểu thuyết 




Tô Hoài - Một người Hà Nội (Bài 1): Lan Man với &quot;ông Dế Mèn&quot;
(TT&amp;VH Cuối tuần) - Tô Hoài là cây đại thụ trong khu rừng văn học hiện đại Việt Nam, nói cho đúng hơn thì thế giới nghệ thuật của ông cũng là cả một cánh rừng với bao nhiêu loài thảo mộc lớn nhỏ, đa dạng về chủng loại. Nói đến Tô Hoài, người đọc nhớ ngay đến Tô Hoài của những sáng tác về Hà Nội, Tô Hoài với miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, Tô Hoài của Dế Mèn phiêu lưu ký và những sáng tác cho thiếu nhi, Tô Hoài của hồi ký tự truyện... Ở phương diện nào, Tô Hoài cũng tạo lập được một giá trị riêng, một gương mặt riêng không thể nhòe lẫn. Trong cái thế giới nghệ thuật hết sức đa dạng ấy, về mặt thể loại, không thể không nói đến tiểu thuyết, bên cạnh truyện ngắn, hồi ký, bút ký, chân dung văn học. 





&nbsp;Ảnh: Nguyễn Đình ToánNếu tính về số lượng thì trong hơn 150 đầu sách của Tô Hoài, tiểu thuyết và truyện dài chỉ chiếm khoảng 15 cuốn, hành trình viết tiểu thuyết của Tô Hoài cũng trải dài trên suốt cả gần 70 năm viết của ông cho đến nay, kể từ tiểu thuyết đầu tay Quê người (1942) cho đến cuốn gần đây nhất: Ba người khác (2006). Với thể loại tiểu thuyết, nhà văn Tô Hoài từng được nhận những vinh quang và cả những cay đắng của người cầm bút: Quê người được Vũ Ngọc Phan đánh giá cao trong bộ sách Nhà văn hiện đại, tiểu thuyết Miền Tây đem đến cho Tô Hoài giải thưởng Hoa Sen của Hội nhà văn Á - Phi, nhưng Mười năm lại từng bị chỉ trích gay gắt của một số cây bút phê bình và giới lãnh đạo văn nghệ đương thời, còn một số tiểu thuyết được tác giả viết với nhiều tâm huyết, công phu và vốn sống thì lại gặp sự thờ ơ của dư luận. Tô Hoài đến với tiểu thuyết khá sớm, ngay từ chặng đầu sáng tác: Quê người in năm 1942, cùng lúc với các tập truyện ngắn O chuột, Nhà nghèo, Giăng Thề .... cũng đều khai thác đề tài về cuộc sống và con người ở vùng quê ven thành của tác giả. Có thể nhận ra một đặc điểm này trong hành trình viết tiểu thuyết của Tô Hoài. Với cùng một đề tài, ông thường bắt đầu bằng những truyện ngắn, ký rồi mới tích tụ trong các tiểu thuyết. Nếu các truyện ngắn là những mảnh nhỏ của cảnh đời, những ký họa chân dung con người, thì truyện dài và tiểu thuyết là cả một dòng sông cuộc đời trôi chảy của bao nhiêu sự việc, câu chuyện, đời người. Nhìn đề tài, tiểu thuyết Tô Hoài có ba mảng lớn: Về Hà Nội (chủ yếu vùng quê ven thành) về miền núi (Tây Bắc, Việt Bắc), về thời huyền sử xa xưa của đất nước (khai thác các truyền thuyết, cổ tích) ngoài ra còn có một vài cuốn thuộc những mảng đề tài khác (Một mình kể chuyện, Ba Người khác). Tô Hoài là nhà văn của Hà Nội, không chỉ ở tập ký đặc sắc Chuyện cũ Hà Nội và những tâp truyện ngắn Nhà nghèo, Giăng thề, Người ven thành..., mà còn phần quan trọng là ở tiểu thuyết, trong đó có bộ ba tác phẩm về vùng ven thành quê ngoại nhà văn Quê người (1942). Mười năm (1958) Quê nhà (1980) nếu xếp theo thời gian lịch sử được miêu tả, thì trình tự sẽ là Quê nhà - Quê người - Mười năm. Quê người là cuốn tiểu thuyết đầu tay, nhưng đã bộc lộ khá rõ cái “tạng” riêng của tác giả, những đặc điểm của cây bút văn xuôi Tô Hoài. Không có những biến cố lớn lao, xung đột xã hội gay gắt, cả truyện chỉ là những cảnh sống diễn ra thường ngày ở một vùng quê ven thành có nghề thủ công. Có chuyện làm ăn, đám cưới, đám giỗ, cảnh hội hè, đình đám, có đủ cả buồn vui, yêu đương, sum họp, chia lìa. Trên cái nền cảnh của cuộc sống đời thường ấy, là câu chuyện của mấy gia đình và hai đôi nam nữ: Hời - Ngây, Thoại - Bướm. Nhưng qua những bức tranh&nbsp; sinh hoạt phong tục ấy, vẫn hiện lên rõ sự sa sút, tiêu điều của một vùng quê vào thời kỳ kinh tế khủng hoảng và cùng với đó là những kiếp sống quẩn quanh, buồn bã, bị dồn đẩy tới đói nghèo, ly tán, tha hương. Mười năm được Tô Hoài viết không chỉ bằng những hiểu biết mà cả những trải nghiệm, những háo hức, say mê bồng bột của một thời tuổi trẻ tác giả đến với phong trào cách mạng từ thời kỳ Mặt trận dân chủ đến Cách mạng tháng Tám. Trong những nhân vật Lê, Lạp, Ba, Trung - những thanh niên Làng Hạ được giác ngộ, tham gia phong trào cách mạng với những nhận thức quan niệm ban đầu còn khá đơn giản, có một phần bóng dáng của chính tác giả. Nhớ lại hồi 1958 - 1959, khi cuốn tiểu thuyết này mới ra mắt bạn đọc, tác giả đã phải hứng chịu không ít những lời phê bình, chỉ trích khá gay gắt từ một số nhà phê bình, về những cái gọi là “tự nhiên chủ nghĩa”, tầm thường hóa những người cách mạng, sa vào quan niệm “con người trung bình”.v.v... Đến thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết Mười năm đã dần được nhìn nhận lại, để đánh giá đúng giá trị và cả những hạn chế của tác phẩm. Mười năm là một tiểu thuyết đạt được nhiều thành công cả ở phương diện tái hiện bức tranh xã hội và cả ở một số hình tượng nhân vật rõ nét, có sức sống. Quê nhà trở lại với một giai đoạn lịch sử đầy biến động trên đất nước ta, cũng như với Hà Nội: Khi quân viễn chinh Pháp tiến đánh và chiếm được thành Hà Nội, chúng cố mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các vùng xung quanh, nhưng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt và bền bỉ của dân chúng, tập hợp trong các đội nghĩa binh hoạt động trên một vùng rộng lớn từ chân núi Ba Vì đến các làng ven thành Hà Nội. Trên cái nền cảnh bi tráng của một giai đoạn lịch sử, tác giả tập trung làm nổi bật hình ảnh của những nghĩa quân yêu nước, giàu khí phách và mưu trí. 

Miền núi, nhất là Tây Bắc, đã trở thành một đề tài gắn bó lâu dài và nặng tình, nặng nghĩa với Tô Hoài sau nhiều tập truyện ngắn, bút ký rất thành công về miền núi. Năm 1967 Tô Hoài mới cho in tiểu thuyết Miền Tây. Cùng với vốn hiểu biết kỹ càng và nhiều mặt&nbsp; về các dân tộc ở Tây Bắc, tác giả đã khai thác nhiều tư liệu lịch sử, chính trị, quân sự, với ý đồ dựng lại sự vận động của lịch sử qua những biến đổi của cuộc sống, con người ở vùng Phìn Sa. Cuốn tiểu thuyết trình bày những bức tranh đối lập của hai thời kỳ xưa và nay trong cuôc sống và số phận những con người miền núi ở một vùng xa xôi. Họ dàng ở Phìn Sa như là sự tiếp nối và mở rộng chủ đề của Miền Tây qua câu chuyện về lịch sử một dòng họ ở vùng đất ấy. Tiểu thuyết Nhớ Mai Châu đưa người đọc trở về với thời kỳ đầu cách mạng và kháng chiến hết sức căng thẳng, rối ren, phức tạp ở trung tâm xứ sở của người Mường. Trong các truyện dài và tiểu thuyết của Tô Hoài còn phải kể đến bộ ba truyện viết về thời kỳ dựng nước từ xa xưa của dân tộc: Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chứ. Những tác phẩm này khai thác các truyền thuyết, truyện cổ tích rất tiêu biểu và quen thuộc, nhưng đã được tác giả bổ sung, phát triển bằng những hiểu biết hết sức phong phú về phong tục, văn hóa cổ xưa và bằng trí tưởng tượng sáng tạo dồi dào. Tiểu thuyết Tô Hoài là hình ảnh của dòng đời tự nhiên, chảy trôi miên viễn. Cuộc sống hiện ra dưới cái nhìn của Tô Hoài thật dung dị tự nhiên như nó vốn thế: có mọi thứ của sinh hoạt đời thường, vặt vãnh, cái tốt đẹp và cái tầm thường, có đời sống xã hội, vận động của lịch sử và đời sống thế sự, sinh hoạt phong tục. Cảm quan hiện thực đời thường và ngòi bút nghiêng về phong tục là đặc điểm riêng biệt của Tô Hoài, không chỉ trong tiểu thuyết. Tô Hoài vẫn được coi là nhà văn của những “chuyện thường, người thường, đời thường”. Nhưng cũng không vì thế mà lại không thấy ở tác phẩm của ông, nhất là tiểu thuyết, sự phản ánh những vấn đề xã hội và lịch sử, theo một cách riêng, xã hội và lịch sử được nhìn nhận được tái hiện trong những sự việc, chi tiết của đời sống sinh hoạt, thế sự, gắn kết tự nhiên với đời sống thường nhật, với công việc làm ăn, những buồn vui, đổi thay của số phận con người. Sự xen lẫn đan dệt một cách tự nhiên giữa những hoạt động cách mạng với những chuyện làm ăn, mưu sinh yêu đương, mọi tập tục quen thuộc trong đời sống một làng quê, đó chính là cái nhìn riêng của Tô Hoài trong tiểu thuyết Mười năm, làm hiện lên bức tranh đời sống nhiều mặt đa dạng, tự nhiên và rất thực. Nhưng ở Miền Tây, việc thể hiện những biến chuyển của xã hội, lịch sử và những đổi thay trong số phận con người còn khá giản đơn, một chiều. Nhãn quan phong tục đem lại cho tiểu thuyết (và cả những thể loại khác) của Tô Hoài sức hấp dẫn riêng biệt và độc đáo. Đọc Tô Hoài, người đọc được tiếp xúc với vô số phong tục, tập tục từ sinh hoạt trong gia đình, trong nhà, đến những sinh hoạt cộng đồng, lễ hội, ma chay, cưới hỏi..., ở rất nhiều vùng, từ làng quê ven thành, vùng đồng bằng Bắc Bộ đến vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi, cả ở những xứ sở xa xôi ngoài bên giới. Bất cứ nhà dân tộc học, xã hội học nào cũng mong có được một vốn hiểu biết cực kỳ phong phú, sinh động như của nhà văn Tô Hoài. Trong những tác phẩm viết về thời dựng nước xa xưa, Tô Hoài tạo dựng được không khí và màu sắc huyền sử bằng những bức tranh chi tiết cụ thể sống động về phong tục, sinh hoạt, lao động của thời xưa cùng với những bức tranh thiên nhiên, trong thời kỳ mà bước chân và bàn tay khai phá của con người đang lấn dần từ vùng đồi núi xuống vùng châu thổ còn hoang sơ, rậm rạp, mênh mông, đến cả những hòn đảo ngoài biển (Đảo hoang, Nhà Chử). Tiểu thuyết Tô Hoài thường có cốt truyện không phức tạp, cũng ít những sự kiện, biến cố quan trọng. Truyện cũng thường được trần thuật theo trình tự thời gian kể cả ở những tác phẩm dùng cách kể theo hồi tưởng của một nhân vật. Tô Hoài không hấp dẫn độc giả bằng các thủ pháp mới lạ trong cách viết, trong nghệ thuật kết cấu tác phẩm. Nhà văn cứ để dòng đời trên trang sách trôi chảy tự nhiên, nhiều khi khá lặng lẽ, với nhiều quãng dừng, mạch rẽ ở những chỗ miêu tả sinh hoạt, phong tục thiên nhiên. Mạch truyện vì vậy thường chậm, ít có những chỗ được đẩy tới căng thẳng, những cao trào. Người kể chuyện trong truyện của Tô Hoài cứ nhẩn nha, bình thản mà kể, mà tả. Nhịp điệu chậm trong tiểu thuyết của Tô Hoài có thể làm cho một số người đọc dễ sốt ruột, khó kiên trì theo cùng với tác giả trên hành trình của dòng đời và nhân vật. Đây phải chăng cũng là một đặc điểm khiến cho tiểu thuyết của ông khó đến được với một số người đọc. Nhưng vượt qua những hạn chế ấy, bạn đọc đến với tiểu thuyết Tô Hoài là đến được với những pho bách khoa thư về đời sống, cả hiện tại và xa xưa, ở nhiều vùng từ gần gũi đến xa xôi. Tô Hoài là một cây bút có sức sáng tạo cực kỳ dồi dào, phong phú hiếm có. Tôi đã nhiều lần được gặp ông, hỏi chuyện ông, có cả những lần may mắn được ở gần ông trong những chuyến đi dài vào một số tỉnh phía Nam. Nghe cách nói chuyện rất tự nhiên, giản dị của ông, nhưng khi nào cũng cho thấy một sự hiểu biết hết sức phong phú, kỹ càng về đời sống, xã hội, với một sự lịch lãm, bình thản, pha chút dí dỏm, tinh quái, tôi vẫn không hết ngạc nhiên và thán phục về một năng lực sáng tạo, về sự tinh tường và trí nhớ kỳ lạ của Tô Hoài, một cây đại thụ độc đáo hiếm có trong làng văn Việt Nam.
Nguyễn Văn Long]]></description>
            <pubDate>2009/10/14 05:19:42</pubDate>
            <guid><![CDATA[Tô Hoài 2:1032]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Tô Hoài]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1031]]></link>
            <description><![CDATA[Văn hóa toàn cảnh » Văn học 

RSS



Suốt cuộc nói chuyện, dòng chảy Dế Mèn phiêu lưu ký trở đi trở lại, bên cạnh lời kể về nhiều tác phẩm, cho thấy Tô Hoài rất yêu nghề cầm bút. Văn chương là chủ lưu dòng sông đời ông.Thứ Hai, 12/10/2009 15:53 &nbsp; &nbsp;   

Tô Hoài - Một người Hà Nội (Bài 1): Lan Man với &quot;ông Dế Mèn&quot; 











Tô Hoài - Một người Hà Nội
Nhà văn Tô Hoài vừa bước sang tuổi 90 (ông sinh ngày 7/9/1920). Với ngót 200 tác phẩm đã xuất bản, cây cổ thụ trong rừng văn chương Việt Nam hiện đại vẫn xanh lá và tiếp tục kết trái, như ông từng tâm sự “hầu như lúc nào tôi cũng ở trạng thái viết...”. Và những trái cuối mùa vẫn đủ sức gây xôn xao văn đàn, như cách đây chưa lâu, với cuốn Ba người khác. Tô Hoài có bạn đọc đông đảo từ trẻ con đến người già. Sức hấp dẫn của ông không phải chỉ là sức hấp dẫn của một nhà văn, mà còn là sức hấp dẫn của một con người sống nhiều, thu nhận nhiều và có may mắn hơn nhiều người là đã đi trọn vẹn gần một thế kỷ đời người với biết bao thăng trầm, thay đổi.&nbsp;


Nhân kỷ niệm ngày giải phóng Thủ đô 10/10 và hướng đến Đại lễ Thăng Long ngàn năm 10/2010, chuyên đề số này xin dành để nói về một người Hà Nội đáng kính, một “báu vật nhân văn sống” không chỉ của Hà Nội: nhà văn Tô Hoài.
Tô Hoài, tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh tại làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Ông đã từng kinh qua nhiều nghề để kiếm sống trước khi bước vào làng văn: dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn... và có khi thất nghiệp. Thế nhưng ông lại nhanh chóng thành công với nghiệp cầm bút. 









&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi nghĩ người ta sống phải có một cái nghề nhất định. Ai cũng phải có nghề có nghiệp. Viết lách cũng là một nghề như bao nghề khác, chả phải cái gì thiêng liêng ghê gớm. Cốt là anh phải tinh thông và chăm chỉ. Viết là khó, là nặng nhọc. Trong khi đi chơi không khó. Đi ngủ càng dễ chịu. Trong ba cái đó thì ai chẳng thích đi chơi và đi ngủ. Tôi cũng thế. Nhưng vì đã xác định là làm nghề nên phải rèn luyện hàng ngày. Ngày nào cũng ngồi vào bàn, dù bài hay bài dở thì tôi vẫn cứ viết. Hầu như lúc nào tôi cũng ở trạng thái viết, viết đủ thứ thượng vàng hạ cám. Có những bài tôi viết mà không cần cảm hứng. 
Tô HoàiTới nay, Tô Hoài được xem là nhà văn có sự nghiệp văn chương “nặng ký” nhất ở Việt Nam với gần 200 tác phẩm đã xuất bản thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và sách về kinh nghiệm sáng tác. Các bút danh của ông: Tô Hoài, Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Hồng Hoa. Các tác phẩm chính: 

Dế Mèn phiêu lưu ký (1941) O chuột (1942) Nhà nghèo (1944) Truyện Tây Bắc (1953) Miền Tây (1967) Cát bụi chân ai (1992). Ba người khác (2006). Ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2006.









Tổ chức thực hiện: Nguyễn Quỳnh Trang&nbsp; 
(TT&amp;VH Cuối tuần) - Cây ăn quả duy nhất còn lại của khu vườn là cây mít mật cao đến tầng hai lô chung cư cũ, quả trĩu chịt giữa thân, đặc điểm nhận biết nơi ở của ông “Dế Mèn”, phòng 108 C3 tập thể Nghĩa Tân, một dấu hiệu hiếm nơi đô thị, hiếm như chính chủ nhân - nhà văn Tô Hoài, ở tuổi 90 vẫn còn muốn viết. 1. Rất vất vả để có cuộc hẹn vì ông đang yếu, tuổi cao, bệnh lâu năm, lại đi cấp cứu tưởng chết mấy tháng trước, ông kể thế, nên chỉ nói chuyện được 30 phút. Thế là quý lắm rồi, phải nghĩ trước những điều cần hỏi, tận dụng tối đa từng phút để nghe, quan sát. 





&nbsp;Nhà văn Tô Hoài. Ảnh: Nguyễn Đình ToánTrận mưa chiều làm trời âm u. 17h50. Trước cổng nhà, hai cây găng xanh um, loài cây quả vàng hoa tím thân quen với tuổi thơ tôi cùng với cúc tần dây tơ hồng hay mọc bờ rào, bờ ao, nay thành của hiếm. Một phụ nữ đứng tuổi, đeo kính ra mở cổng, trông rất giống nhà văn. Sau tôi biết, đó là cô Ðan Thanh (sinh năm 1951) - con gái thứ hai của ông, là kế toán về hưu, từng du học ở Leningrad. Nhà không có “ôsin”, các cô con gái thay nhau chăm sóc bố. Tô Hoài ở cùng con cả Đan Hà (sinh năm 1949) dược sĩ, cô Hà bị viêm đường ruột nằm viện đông y, nên mấy hôm cô Thanh nhà bên phường Dịch Vọng phải túc trực thay. Bà Tô Hoài dáng đi nhanh nhẹn, tắt tivi theo yêu cầu của chồng, ngồi nhìn mưa một chốc, rồi lại vòng quanh, có ý “canh chừng sâu sát”. Nhà văn Tô Hoài ngồi trên xe lăn chỉnh chỗ ngồi khá cao, đón tôi bằng nụ cười hiền, hóm hỉnh, cười cả miệng lẫn mắt, đôi mắt hơi đục có chùm nếp nhăn kéo tua trên làn da đồi mồi, tóc rụng gần hết, đầu hói nhẵn bóng. Nửa tiếng tranh thủ trước bữa tối, sau khi đã tắm và tiêm, lão nhà văn nói nhỏ, một âm lượng buộc người nghe phải ngồi kề, căng tai, tập trung. Không phải những câu hỏi của tôi mà là ông dẫn dắt câu chuyện bằng hồi tưởng. Với những nhân vật khác, tôi có thể chuyển, lái câu chuyện chủ động, nhưng bởi lòng khâm phục ông, tôi chiều ý lão tướng 90, thuận theo cảm xúc quá khứ của Tô Hoài. “Giả lão hoàn đồng”, người già như trẻ thơ, sống nhiều bằng nhớ nhung ký ức. Suốt cuộc nói chuyện, dòng chảy Dế Mèn phiêu lưu ký trở đi trở lại, bên cạnh lời kể về nhiều tác phẩm, cho thấy Tô Hoài rất yêu nghề cầm bút. Văn chương là chủ lưu dòng sông đời ông. Ông lão cười tươi, không phải nụ cười “toàn lợi”: “Tôi còn 14 chiếc răng. Chân thỉnh thoảng châm cứu, chỉ bước nhẹ nhàng trong phòng thôi. Trước, còn khỏe, không có con đưa đón thì tự đi xe ôm. Nay phải có con kèm, ngồi taxi. Chiều đến, ngồi xe, con nó đẩy đi dạo”. Thế mà thoắt cái ông “đi” về thơ ấu.

2. Chú bé Nguyễn Sen là con độc nhất của thầy u. Quê cha ở Thanh Oai, Hà Ðông (cũ), quê mẹ làng Nghĩa Đô, bên bờ Tô Lịch, thuộc phủ Hoài Đức. Nhà nghèo, Sen chỉ học hết tiểu học, rồi tự học, rèn luyện không ngừng Quốc văn, Pháp văn, nghề viết là năng khiếu thiên phú, lại đi nhiều, giỏi quan sát, thu lượm, ông có vốn sống giàu có. “Thuở đầu đời, 13 tuổi, tôi làm thơ viết truyện ngắn, truyện cổ tích, kiểu như Ông giàu bà giàu viết về vùng Kẻ Bưởi, in trên Tiểu thuyết thứ bảy. Năm 16, 17 tuổi viết Dế Mèn. Tôi cùng sáng tác với Nxb Tân Dân 93 Hàng Bông, rồi nhà Truyền Bá, thuộc Tân Dân, cứ một, hai tuần in một truyện. 16, 17 tuổi viết Dế Mèn, được in ngay. Lúc đó, Tân Dân có các cây bút giới in thường xuyên, như: Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Công Hoan, họ giới thiệu tôi với ông Vũ Ðình Long chủ nhà xuất bản. Lúc đầu, tôi chỉ viết đến đoạn Dế Mèn Dế Trũi ra đi, sau bán chạy quá, ông Long bảo viết thêm, tôi viết tiếp cho đủ phiêu lưu ký”. Hàng trăm tác phẩm với nhiều đề tài, bối cảnh, song mảng văn học thiếu nhi là mạch yêu thích, sở trường của Tô Hoài. Ông là một trong số ít các nhà văn có sức sống lâu năm hơn tuổi sinh học, bởi ông viết rất thành công cho thiếu nhi. Hơn 70 năm qua, Dế Mèn phiêu lưu ký được dịch hàng chục thứ tiếng, tái bản mấy chục lần, mấy thế hệ đã đọc ông, đời này sang đời khác sẽ còn đọc. Từ nhan đề đến nội dung, thấy rõ tình yêu thiên nhiên, loài vật, trẻ thơ, lòng nhân hậu của Tô Hoài, yêu thiên nhiên đến mức đưa con vật nhỏ bé thành nhân vật. Tô Hoài đã “phiêu lưu” nhiều hơn hành trình của chú Dế để đời, với những hóa thân xuất sắc, từ Nhà Chử, Hai đứa trẻ đợi đi, Người đi săn và con nai, Chim chích lạc rừng đến Hổ và gấu đi cày, Voi biết bay. 

Ở tuổi ông, vẫn còn đầy đủ vợ chồng lại càng là hiếm. Bà Nguyễn Thị Cúc (1923) vợ ông, còn khỏe, ở cùng con trai út Phương Vũ (1961) tại ngôi nhà cổ 100m2 trong ngõ 21B Đoàn Nhữ Hài, quận Hoàn Kiếm, cuối tuần mới về Nghĩa Tân. Các con của Tô Hoài không ai là nhà văn. Cô con gái thứ ba Sông Thao (sinh 1960 tại Phú Thọ) ở phố Ngọc Khánh được bố cưng nhất, là biên tập viên Nxb Kim Đồng. Con trai út, Phương Vũ (1961) chơi thân với Nguyễn Tiến Dũng - con trai nhà văn Kim Lân từ hồi đi xuất khẩu lao động ở Ðức, cùng nhau mở nhà hàng, rồi cuối cùng cũng quay về chữ nghĩa. Ba năm nay, anh Phương Vũ làm thư ký tòa soạn tuần báo Người Hà Nội. Nhà văn Tô Hoài sinh ra ở làng Nghĩa Đô, về già sống tại Nghĩa Tân; các con gái cùng quận Cầu Giấy, loanh quanh tưởng đơn điệu. Mà không: “Tôi đi nhiều như Dế Mèn”.

Bản thảo Dế mèn phiêu lưu ký. Ảnh: NĐTLàm việc nhiều năm tại Hội Nhà văn Việt Nam, Tô Hoài hay xuất ngoại. Vừa công tác đối ngoại, là nhà văn nổi tiếng, lại là Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Á - Phi - Mỹ Latinh (Trụ sở tại Liên hiệp các tổ chức hữu nghị 105A Quán Thánh) nên từ Cuba, Brazil, châu Âu qua Algéria, Maroc, ông đều đã đến, có nơi vài lần; duy Pháp là chưa biết, chưa được đặt chân đến kinh đô ánh sáng. Nhưng sức sống của tác phẩm đã làm tên tuổi, văn nghiệp ông tỏa sáng bền bỉ hơn mọi chức vụ, dù ông đã là Chủ tịch lâu năm Hội Nhà văn Hà Nội từ 1985, năm Nhà nước phân cho ông căn hộ này. Một năm nay, ông không đọc báo nữa, thèm đọc quá thì soi kính lúp một lúc thôi. Ông bị tiểu đường, nên bác sĩ không dám mổ mắt. Ngoài thuốc Tây điều trị bệnh gút nửa thế kỷ, ông còn “sống chung” gần bằng ấy năm với bệnh huyết áp cao, bệnh tiểu đường, tiêm ngày hai mũi. Ngày ba bữa. Bữa tối xong lúc 18h30, ba tiếng sau ông đi ngủ. Lục sục cả đêm, có khi 2h sáng đã hỏi con: “Mấy giờ rồi, sắp sáng chưa?”, rồi lại cố nằm đến 6h dậy. Chuyện vệ sinh, tắm rửa đều do con hầu hạ. Cuộc sống của ông bây giờ như thế.Song ông vẫn cố gắng nắm bắt thời sự qua tivi màu Samsung 17 inch đời cũ, đồng nghiệp ra sách vẫn nhớ gửi tặng Tô Hoài. Sát mặt đường, bên ngoài phòng ông là phòng khách bày giá sách. Trên đó, có một phần tác phẩm của ông, cùng những tuyển tập, tác phẩm của nhiều thế hệ già trẻ đề tặng. Ham đọc và cởi mở, ông đọc cả thơ tình của tôi: “Cô lúc nào cũng mạnh mẽ”!“Tô là sông Tô, Hoài là phủ Hoài Đức” ông giải thích về bút danh Tô Hoài. Cuộc đời gắn bó Hà Nội, nhưng ông đi nhiều nơi, nhiều nước. Không đếm xuể những chuyến đi ấy, cũng không nhớ được chính xác đã viết bao nhiêu tác phẩm. “Hàng trăm cuốn” - ông chỉ nói vậy. “Còn rất trẻ tôi đã đi khắp Trung Nam Bắc, Việt Miên Lào, đi vào Sài Gòn, chỗ nào đi được là đi, mà lúc ấy trai trẻ chỉ 42kg, 1m57”. Ông có tập Ba người khác, như tự truyện (chưa phải tất cả sự thật) về ba năm làm đội phó phụ trách tòa án thời cải cách ruộng đất ở Hải Dương, Thanh Hóa, Thái Bình. Năm 1952, ông có một chuyến đi tám tháng vùng Tây Bắc, để có tập Truyện Tây Bắc ra đời năm sau. Một nhà văn đô thành mà hiểu, tả về miền núi, phong tục người H’mông hấp dẫn như Vợ chồng A Phủ, thì chuyến đi quả là lịch sử của đời ông, của văn học Cách mạng, tạo nên đỉnh cao, ấn tượng mạnh mẽ với chính đời sống, tinh thần của dân tộc thiểu số sống trên núi cao. “Sau khi Truyện Tây Bắc xuất bản, tôi mua được ngôi nhà 21 Ðoàn Nhữ Hài”. Ông còn “được” nhiều hơn thế, khi ghi tên mình vào lịch sử điện ảnh Cách mạng Việt Nam. Chính ông chuyển thể Vợ chồng A Phủ thành kịch bản điện ảnh (đạo diễn Mai Lộc, Hoàng Thái), với hai diễn viên chính: Trần Phương (A Phủ) và Ðức Hoàn. Lấy bối cảnh vùng Tà Sùa, Nghĩa Lộ, Yên Bái trước cách mạng, Tô Hoài viết nên cả một kho truyện Tây Bắc, truyện tình yêu đầy vẻ đẹp, sức sống dù vượt qua thân phận bi kịch. Cũng Tô Hoài viết ca từ cho Bài ca trên núi (nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương làm nhạc phim Vợ chồng A Phủ), chính là ca khúc đầu tiên trong nhạc phim của điện ảnh Việt Nam. 3. Cô Ðan Thanh bưng ra tô cháo, bố tự xúc thìa, ăn hết ngon lành trong sự dõi theo của con. “Cháo ngô, rau, thịt, xay nhuyễn hết. Còn cơm nấu hơi nát là ông ăn được”, cô Ðan Thanh nhìn cha âu yếm. Tôi “tò mò” hỏi vui, dù biết chẳng bao giờ khai thác được một người khéo như Tô Hoài, về ái tình. “Ông đi nhiều biết rộng thế, mà không thấy tin đồn về mối tình lãng mạn nào, cả đời ông chỉ có bà thôi ư?”. Ông cười. Không thuốc lá, không nghiện trà, cà phê, vui lắm trước kia có tí bia rượu, sau này ốm bệnh không uống nữa. Thế thì mẫu mực đến mức “chay tịnh” còn gì! Ông là biểu tượng sống chống lại những lý thuyết cho rằng: “Văn nghệ sĩ phải có men, phải yêu đương, say sưa gì đó chứ” (?!). Cô con gái thanh minh không mua được chuối tiêu, sau khi ông nhắc đưa quả tráng miệng. Quả là quá điều độ, mực thước, nề nếp. Ông từ tốn ăn hết nửa quả thanh long. Tôi không biết ông thời xưa, nhưng từ khi ông ngót 80 đến giờ, lúc nào tôi cũng thấy ông chỉn chu đến mức không tin nổi (lại thêm một nét “hiếm” nữa). Ông kể: “Vụ báo Tết 2009 tôi được 10 triệu nhuận bút, in trên An ninh thế giới, Văn nghê... Tôi viết về chuyện mất cuốn tiểu thuyết do một người đàn bà thân làm mất, đó là Những đêm mưa, kể về chuyện tình của nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị người Huế, khi ấy ra Hà Nội, là sinh viên trường thuốc (sau là bác sĩ nha khoa). Từ Tết đến giờ, tôi chưa viết được, mệt đành chịu, chứ vẫn còn ham cầm bút, khỏe là viết ngay. Sắp tới, Nxb Hà Nội sẽ ra tuyển tập Thăng Long - Hà Nội, in ba tiểu thuyết của tôi: Quê nhà, Quê người (1940), Mười năm (1935 - 1945) đều lấy bối cảnh khu vực Nghĩa Ðô, Kẻ Bưởi. Nxb Lao Động sắp in tổng tập với hai bộ: bộ sách 72 truyện ngắn (từ truyện lúc bắt đầu cầm bút đến nay); bộ năm cuốn: Ðảo hoang (Quả dưa đỏ, về Mai An Tiêm), Chuyện nỏ thần (My Châu - Trọng Thủy), Chử Ðồng Tử... Ấm ức từ lâu về sự ác của con người, ăn đủ con vật, không tha cả côn trùng, trong đó có dế mèn, cà cuống, bọ xít, bọ nẹt, bọ cạp, bọ hung, đều bị lên đĩa, từ rán giòn đến chiên bơ, tẩm bột, tôi kể với nhà văn. Tưởng ông thương lũ dế - nhân vật cuộc đời, ngờ đâu nhà văn tai thính nói luôn: “Biết rồi, biết từ lâu chuyện dế nuôi làm đồ nhậu. Tôi cũng đã ăn dế chiên giòn ở Ngã Tư Sở, được mời. Gặp một tỷ phú nuôi dế Củ Chi, anh ta bảo: “Cháu thành tỷ phú là nhờ dế mèn đấy, ông Dế Mèn ạ. Người ta ăn nhiều vì ngon, lành, lại chống béo”. Ông cười an nhiên nói thêm: “Còn châu chấu tôm bay, bị ăn từ lâu lắm rồi đấy”. “Ði nhiều như Dế Mèn”, ông Dế Mèn lúc này không đi đâu được nếu không trông vào con cháu. Ông chỉ quen thuộc với mảnh sân có nhiều hoa, lúc này không cây nào nở; hay ngồi xe lăn, ngước nhìn cây mít mật. Tôi chưa được đọc những bài thơ của Tô Hoài, nhưng thích Bài ca trên núi, một bài hát được nhiều người nhớ. Tôi tin, Tô Hoài, người viết những lời tình tứ, khoáng đạt ấy, trong cuộc đời, không chỉ có duy nhất “bà Cúc, bà nhà tôi”. Dù ẩn số hay bí mật nào thì tự thân lời ca đã toát lộ tâm hồn tác giả: 






“Ơ... Ðầu trời có sao chiều sao sớm Ðầu núi kia có ở hai người Dù đi cùng trời dù đi khắp núi (Ơ... Rừng chiều có tiếng khèn ai đó Khèn hát lên những lời mong chờ Ðường đi về rừng đường đi xuống núi) Trời chỉ có sao sớm sao chiều Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau...”

Vi Thùy Linh]]></description>
            <pubDate>2009/10/13 05:39:57</pubDate>
            <guid><![CDATA[Tô Hoài:1031]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[VHNT Tin Văn 558]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/quocoai_sontay/article?mid=1028]]></link>
            <description><![CDATA[



 &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Số 558September 19, 2003 
mùa lá chín

1. Đọc và Sợ
Tôi có cảm giác Nguyễn Huy Thiệp đã đứng lại rồi...Nguyên NgọcTCS: The Romantic Son[g]Trên báo Văn số mới nhất [Tháng Sáu &amp; Bẩy], mục Sổ Tay, Nguyễn Xuân Hoàng viết về những ngày đầu nơm nớp làm quen văn học giải phóng và văn học miền bắc:&quot;Chúng tôi đọc trong nỗi lo sợ, thơ Tố Hữu, truyện Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng....&quot;&quot;Chúng tôi đọc trong nỗi lo sợ...&quot;, &quot;Chúng tôi&quot; đã quá, &quot;lo sợ&quot;, lại càng quá!Bởi vì ít ra là cá nhân tôi, thành thực mà nói, tò mò đọc thì đúng hơn, chứ không sợ.Không phải là tôi &quot;can đảm&quot; hơn ông bạn của tôi, mà vì, tôi hiểu rõ, cùng với chiến thắng của những người CS, là một sự thực rõ như ban ngày, là: &quot;Chúng tôi&quot; sẽ chẳng bao giờ có cơ hội cầm cây viết trở lại nữa. Có, nỗi lo sợ, trước nhà nước mới, nhưng không có nỗi lo sợ, trước những ông nhà văn của họ.Đâu có phải đợi đến lúc những người miền bắc vào tới tận cửa ngõ Sài Gòn, một số người viết miền nam mới nhận ra một trong những vũ khí quan trọng làm nên chiến thắng miền nam là văn chương và đội ngũ những người: vừa cầm súng vừa cầm viết là tốt nhất, nếu cầm viết không thôi, thì phải coi đó là cây súng.Không dễ gì mà làm một người CS, và càng không dễ, làm một nhà văn CS.Thanh Tâm Tuyền, trong khi nhìn những đoàn quân chính quy miền bắc tiến vào Sài Gòn, đã &quot;vui mừng&quot; thốt lên, &quot;Thế là mình khỏi viết văn rồi&quot;! Khi ông nói câu đó, có thằng em, là tôi, đứng kế bên!Khi nói câu đó, có thể ông đã quá chán văn chương, nhưng ông biết chắc chắn một điều, chán hay không chán, ông cũng chẳng còn cơ hội cầm cây viết trở lại.Thực sự không phải ông nói câu đó ngay những ngày đầu, mà vài ngày sau đó. Nhưng tôi tin rằng, ông chỉ diễn lại cái cảm tưởng những ngày vừa mới đổi đời...Để tôi kể một vài thí dụ, để minh chứng câu viết ở trên:Không dễ gì, làm một tay Cộng Sản.Và lại càng không dễ, làm một nhà văn Cộng Sản.Lần trở lại Hà Nội, tôi gặp lại một ông cậu. Chi tiết về cuộc gặp gỡ, tôi đã kể sơ sơ, trong bài viết &quot;Trở lại nơi một thời vang bóng&quot;. Ngoài ông ra, tôi còn ba ông cậu cùng tuổi, con của bà ngoại, thường gọi là bà Ba, vì ông ngoại tôi có tới ba bà. Không phải cùng một lúc, nhưng số ông &quot;sát thê&quot;, mất bà trước, ông mới kiếm bà sau.Ông cậu Toàn là con bà Hai. Bà cụ tôi, con bà Cả. Khi tôi còn nhỏ, ông thương tôi lắm, và tôi cứ nghĩ ông với mẹ tôi là chị em ruột. Ba ông em của ông, cùng lớp tuổi với tôi, thành thử cả bốn cùng học một lớp. Cùng đi thi tiểu học một năm, thằng cháu đậu, ba ông cậu trượt vỏ chuối cả ba. Tôi còn nhớ, bà Ba, khi xem bảng xong, mắng mấy ông con, &quot;Nó ăn mắm ăn muối, ăn rau ăn cỏ, mà thi đỗ, còn ba đứa mày ăn cá ăn thịt, vậy mà trượt cả ba.&quot; Mắng xong, bà còn thưởng cho thằng cháu một cốc nước giải khát! Không hiểu làm sao, tôi nhớ tới tận bây giờ. Có lẽ vì bà chưa bao giờ khen tôi, mà lần đó lại khen, trước mặt bao nhiêu người xa lạ!Ông cậu tôi nhớ lại những ngày tháng đấu tố. Ông đi theo kháng chiến từ những ngày đầu, và sau này, khi về Hà Nội, là đệ tử của Nguyễn Khắc Viện, trông coi tờ Le Courrier du Vietnam.Ông nói: Cậu biết trước là ông ngoại mày sắp bị bắt, mà không làm sao báo tin về nhà được. May là bà Ba đem được tụi thằng Cầu thằng Tiệp về Hà Nội. Vì là thủ đô, nhà nước cũng như địa phương không dám làm dữ, thành thử thoát.Trong ba ông cậu cùng học, ông thứ nhất, ông Cầu thương tôi lắm, không thua gì Cậu Toàn, tức ông anh cùng bố khác mẹ. Ông thứ hai, ông Tiệp, học không thua tôi mấy, nhưng không hiểu sao, vẫn trượt kỳ thi tiểu học vừa kể. Có lẽ vì ông... thông minh quá!Ấy là tôi nói đùa. Nhưng sự thực, ông Tiệp rất thông minh, theo cái kiểu giỏi xoay sở. Cậu Toàn tôi kể, &quot;Nó không nói với cậu, bởi vì nói, cậu đã cản. Lần đó, nó làm đơn xin vào Đảng, khai là con bần cố nông, giấu biệt chuyện ông bố bị bắt vì là địa chủ. Tụi nó truy ra, trước mắt đuổi ra khỏi cơ quan. Lúc đó, nó mới chạy tới cậu.Tới gặp tay thủ trưởng, hóa ra cùng đơn vị ngày trước. Ông ta bảo, nếu cậu nói trước, thì còn gỡ được. Bây giờ chỉ còn có mỗi một cách: Đưa ông em ra &quot;tuyến đầu&quot; một thời gian là ba năm, nếu còn sống, thì cho về lại cơ quan!Bây giờ xin kể chuyện, không dễ gì làm một nhà văn CS. Thí dụ, trường hợp Nguyễn Khải.Nguyễn Khải, trong một loạt bài viết có tính tự thuật, đã kể lại cái thuở mới viết của ông. Ngay cả khi về già nhìn lại, ông vẫn không thể tưởng tượng ra được, một con người như ông lại trở thành một nhà văn, mà lại nhà văn xã hội chủ nghĩa. Trong nhiều bài viết, phỏng vấn, ông cũng nói thẳng ra lòng biết ơn của ông, với Đảng. Qua hồi ký cho biết, ông vốn là con một ông quan, nhưng không được bố nhìn nhận, vì không thuộc dòng chính. Ông bố vào nam năm 1954. Tới 1975, ông gặp lại bố và gia đình bà vợ lớn của bố tại Sài Gòn. Chi tiết về cuộc gặp gỡ đã được tiểu thuyết hóa thành Gặp Gỡ Cuối Năm. Trong hồi ký Thượng Đế Thì Cười, ông kể thêm một số chi tiết cho thấy, việc hai bố con gặp lại, là do ông bố thấy ông con bây giờ có danh tiếng, có chức tước, nên mới tìm gặp. Có một chi tiết rất lạ, rất thú vị, là ông bố nói với ông con, ông vẫn còn giữ bằng khoán căn nhà ở Hà Nội....[Tôi không hiểu Nguyễn Khải có tính sử dụng chi tiết trên, để đưa vào giả tưởng, như phim Mùa Ổi của Đặng Nhật Minh chẳng hạn, hay đưa vào... đời thực, nghĩa là sử dụng bằng khoán, và gốc con quan, để đòi lại căn nhà cho gia đình của ông...]Những nhà văn thuộc diện ba đời bần cố nông, trở thành nhà văn, biết ơn thì cũng biết ơn, nhưng không thể so với Nguyễn Khải được, như trên cho thấy.Tôi có đọc được ở đâu đó, một câu chuyện ngụ ngôn, về một cái trứng chim, rớt khỏi tổ, và được một giống gà, hay vịt gì đó, ấp, rồi nuôi. Con chim, lẽ tất nhiên, rất biết ơn con vật mà nó đinh ninh là bố mẹ ruột đó. Nhìn thấy những con chim bay trên trời, nó cứ nghĩ là cái thân phận &quot;bay&quot; kia không thuộc về mình! Bố mẹ nuôi, vì không biết bay, nên không làm sao biết cái cử chỉ dạy con cái bay của loài chim, khi thấy đủ lông đủ cánh, là a lê hấp, đạp cho nó một cái, văng ra khỏi tổ, và thế là nó biết bay!Tôi nghĩ, chủ nghĩa CS đối với người dân miền bắc, nó cũng y hệt như bố mẹ nuôi của con chim khốn nạn kia. Con chim khốn nạn chỉ một lòng một dạ biết ơn Đảng [do giải phóng miền bắc khỏi đế quốc Phong Kiến, đế quốc thực dân Pháp và sau đó, Mỹ?], còn Đảng, do ngu dốt, hoặc do di căn của tinh thần... gia trưởng, nên không chịu đạp cho nó một cái, cho nó bật ra khỏi cái ổ, là Đảng Cộng Sản hay là cái nước Việt Nam, tức Cái Tổ Quốc Chẳng Bao Giờ Biết... Ăn Năn, để mà bay...Bạn có thể cho rằng tôi quá... đểu, nhưng nói về cái lòng biết ơn của những đảng viên CS, đối với Đảng của họ, thì có những chuyện còn cười ra nước mắt được. Vào những năm đầu của thời kỳ cởi trói, đã có những nhân vật trong những cuốn tiểu thuyết, thí dụ như của Hoàng Lại Giang, bị mấy đồng chí thủ trưởng vu cho đủ thứ tội, chỉ dám than khóc Oan Quá Đảng Ơi, chứ không dám thoi cho mấy tay thủ trưởng vài cái....[Đề tài phác thảo: Không phải tự nhiên, khi vừa mới giải phóng Trần Bạch Đằng đã lên lớp cái thái độ an phận thủ thường, chỉ muốn làm một anh phó thường dân của nhà văn miền nam. Là một nhà văn CS, ông hiểu rấr rõ, mấy thằng nhà văn miền nam khác hẳn ông, về bản chất: Không làm sao nhét, cái gọi là ý thức giai cấp, nhất là thứ ý thức giai cấp vô sản, vào đầu một nhà văn ngụy.Mô phỏng câu: Không dễ làm một người CS, càng không dễ làm nhà văn CS:Không dễ, cái việc cải tạo một tên ngụy, lại càng không dễ cái việc cải tạo [đúng ra là tẩy não] một nhà văn ngụy. Đó cũng là lý do Thanh Tâm Tuyền &quot;mừng rỡ&quot; không còn &quot;được&quot; viết văn nữa.Và giải thích lý do, án học tập cải tạo là không có thời hạn, là mút mùa lệ thủy....]Thành thử cái gọi là cơ sở văn hóa mà Nguyên Ngọc nói tới đó, cần phải bàn rộng thêm ra].[Đề tài phác thảo: Tôi nghĩ, cái mà miền bắc thiếu nhất, chính là cái mà họ tưởng rằng chủ nghĩa CS sẽ đem lại cho họ, trong khi chính cái đó, ở trong họ, nhưng họ lại không thấy.Đây là điều mà Marx chỉ trích tôn giáo [thuốc phiện của quần chúng], và cũng là điều Dos chỉ trích con người: không phải mày phải vươn cao bằng Thượng Đế nhưng phải kéo thằng chả xuống cho bằng mày!]NHT khựng lại, vì cái gọi là ý thức tự vấn của ông bị khựng lại. NN coi đây là do thiếu cơ sở văn hóa, nhưng theo tôi, đây là hiện tượng không sao hòa giải được với... Thiên Tài Của Nơi Chốn, hay Thần Đất: Nói rõ hơn: ông không hòa giải được với miền nam, hoặc miền nam khác hẳn ông. Trước 1975 đã khác, sau 1975 lại càng khác. Tôi đã viết điều này trong bài &quot;Mỗi tường hợp mỗi khác&quot;, nhưng chưa rõ, cần phải viết rộng ra. Gide đã từng chê trong tác phẩm của Malraux không có con nít, không có tiếng cười, toàn là người hùng. Tác phẩm của NHT, ngược hẳn với tất cả những người cùng thời của ông, không có người hùng. Đúng ra là ông phải nhận ra cái yếu tố tuyệt vời đó, để mà nhập vào một miền đất từ khi khởi thủy của nó, đã không đề cao người hùng ý thức hệ, mà chỉ có những anh chị dám chết cho một nghĩa khí, cho một tình bạn. Đây là yếu tố giải thích tại sao truyện Tầu rất hợp với miền nam. Ở một nhà văn bình dân của miền đất này, Hồ Biểu Chánh, truyện của ông đầy nhân nghĩa, chứ không đầy ý thức hệ.Đây cũng là điều mà Đặng Tiến nhìn ra, ở Trịnh Công Sơn, khi ông cho rằng họ Trịnh là sản phẩm của miền nam. Miền Nam chứ không phải Việt Nam Cộng Hòa, như Đặng Tiến viết. Muốn chứng minh, cứ tưởng tượng Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ miền bắc, là thấy ngay cái sự bất khả của nó! Võ Phiến, bằng trực giác của một nhà văn, có thể đã nhìn ra điều này, khi ông tưởng tượng cái &#39;hoạt cảnh&#39; &quot;cười bò ra được, cười hô hố...&quot; về những nhà văn miền nam được thả ra miền bắc như những &#39;biệt kích văn hoá&#39;, tương tự như những nhà văn miền bắc, thoắt ở trong nam làm nhà văn giải phóng, với một bút hiệu mới toanh, thoắt lại trở lại miền bắc với tên thật hoặc bút hiệu đã từng được biết tới.... [Xin xem Văn Học Tổng Quan của tác giả]. [1][Liệu có thể giải thích hiện tượng NHT bằng những nhận định của Walter Benjamin, trong Những Luận Đề:Bằng một biện chứng tinh tế về ký ức và về điều đã nhìn thấy [le &quot;déjà vu&quot;], Benjamin tìm thấy trong đứa trẻ, là mình ngày nào, không phải một quá khứ xong xuôi, một thời đã mất (un &quot;temps perdu&quot;), nhưng mà là một hứa hẹn mà cuộc đời không giữ được, một tương lai chưa được thực hiện. Đứa trẻ nghĩ rằng, nó thoáng nhìn thấy những sự vật mà nó nhặt nhạnh, ở trong những từ mà nó đã làm biến dạng, trong những hành động mà nó khám phá ra, là một thai đố, một bí ẩn mà người lớn đã bỏ đó vì không tìm ra lời giải, một hy vọng về hạnh phúc mà người lớn hài lòng bằng cách quên đi. Quá khứ với Benjamin là tương lai yểu tử. Và trong Những Luận Đề về triết học của lịch sử, Benjamin đã đưa ra một công thức có thể coi như là nhiệm vụ của cái mà ông gọi là &quot;duy vật lịch sử&quot;: Nó [duy vật lịch sử] phải tìm thấy cái quá khứ chẳng hề hết thống khổ, những ước vọng đã bị quên di, những hy vọng về hạnh phúc bị thất vọng của những kẻ thua thiệt, bị đánh bại, của lịch sử...&quot;].[Cái mà NHT diễn tả, chính là cái tương lai_yểu tử của một miền đất, mà để cho nó sống lại được, nó phải tìm lại được, cứ gọi đại bằng cái tên, &quot;duy vật lịch sử&quot;, của những người CS Đệ Tứ của một miền nam, thí dụ như của những Hồ Hữu Tường, hoặc cái đau khổ nhục nhã của một miền đất bị thất trận....][Par une dialectique subtile de la mémoire et du « déjà-vu » Benjamin retrouve dans I &#39;enfant qu&#39; il a été, non pas un passé révolu qui serait un « temps perdu », mais une promesse que la vie n &#39;a pas tenue, un avenir qui n &#39;a pas été réalisé. L&#39; enfant croyait entrevoir dans les choses qu&#39;il collectionnait, dans les mots qu&#39;il déformait, dans les activités qu&#39;il découvrait, une énigme que I&#39;adulte a laissée sans solution, un espoir de bonheur que l&#39;adulte s&#39;est contente d&#39;oublier. Le passé pour Benjamin est un avenir mort_né. Or, dans les Thèses sur la philosophie de l&#39;histoire, Benjamin formule dans des termes semblables la tache de ce qu&#39;il appelle le &quot;matérialisme historique » : celui-ci doit retrouver le passé qui reste en souffrance, les aspirations oubliées, les espoirs de bonheur décus des vaincus de I&#39;histoire. L&#39;histoire, pour Benjamin, est une seule et unique catastrophe qui ne cesse d&#39;amonceler des ruines : ces ruines, ce sont les éternels vaincus, les humiliés et les offenses de la faim et de la misère, les espérances brisées, les promesses oubliées...].Jean LACOSTE,[Dịch và giới thiệu Đường Một Chiều, tác phẩm Walter Benjamin, qua tiếng Pháp, nhà xb Les Lettres Nouvelles / Maurice Nadeau, tủ sách 10/18]*******[1] Nhân chuyện &quot;cười bò, cười hô hố...&quot;, và chuyện quá khứ, tuổi trẻ, như tương lai chết yểu, xin kể thêm một &quot;bi thoại&quot;: trường hợp nhà văn người Pháp Robert Brasillach, và cuốn [Thời] Tiền Chiến của chúng ta [Notre Avant - Guerre], mới được dịch sang tiếng Anh (nhà xb Lampeter: Edwin Mellen, 429 trang, giá 79.95 Anh Kim. Theo bài viết trên TLS số đề ngày 4 tháng Bẩy, 2003.Vào ngày 12 tháng Chạp 1941, nhà văn Pháp Robert Brasillach viết vào trong nhật ký, rằng với ông, [Thánh] Joan of Arc tượng trưng cho &quot;Tuổi Trẻ Hoài Hoài&quot;. Bốn năm sau đó, ông bị xử tử vì tội phản quốc và hợp tác với kẻ địch. Cuốn sách kể trên của ông, đã từng được xb thời kỳ nước Pháp vừa bị chiếm đóng bởi Nazi, nay được chuyển qua một bản tiếng Anh tuyệt vời, do dịch giả Peter Tame, và đây đúng là một bản bi ca, một khúc kinh cầu cho cả hai: một sự ngây thơ vô tội đã mất, và một ngợi ca tuổi trẻ vĩnh hằng, và cái mùi vị, uống &quot;môi em ngọt nơi con đường Duy Tân khung trời Đại học&quot;... [nguyên văn:... a celebration of eternal youth, redolent of &#39;the honeyed taste of the lime-trees wafting across Paris&quot;]... Giống nnhư một nhà thơ Lãng Mạn, ông sinh ra là để chết trẻ, tuy nhiên, không phải bịnh lao đã giết ông, mà là một viên đạn.*********TCS: Theo tôi nhạc TCS có tới hai &quot;đỉnh cao&quot; của nó; đỉnh cao thứ nhất, nó tiên đoán cái không khi Mậu Thân, khi bắt đầu bằng những câu hát cho thấy sự bình an của hang ổ Mỹ Ngụy chỉ là giả tạo: Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe. Đỉnh cao thứ hai của nó: Người chết hai lần Một lần cho cuộc chiến, một lần cho biển cả. It sings simply, terribly, at the limits of the possible.Roland Barthes: The Romantic Son[g].Here we must recall that the classification of human voices... is never innocent.Roland Barthes The Romantic Son[g].Hãy thử tưởng tượng tiếng nhạc TCS cất lên ỡ miền bắc? Cái Ác Sẽ Dịu Đi? Cuộc chiến sẽ thay đổi, phần nào?Cái Ác Sẽ Dịu Đi?: Đây chỉ là một câu hỏi gọi ý của người viết, sau khi đọc vài viết của Nguyễn Văn Thọ, một bộ đội, tình cờ nghe nhạc TCS trên đài phát thanh ngụy Sài Gòn, và bài TCS, tại sao của Lê Mình Hà. Liệu có thể giải thích vụ cải tạo mút mùa, là do tâm lý Cá Mè Một Lứa đưa tới sự ghen tức: Tại sao chúng mày [miền nam] dám... &quot;sung sướng&quot; hơn... chúng ông?Jennifer Tran giới thiệu&nbsp;
&nbsp;
2. Phỏng vấn Ilya PrigorineTrong bài Đối Thoại của Lê Đạt, mới đăng trên Talawas, có nhắc tới Prigorin. Như một món quà đáp ứng, xin có thêm một chút tư liệu về ông này.Prigorine được Guy Sorman coi là một trong &quot;Những tư tưởng gia thứ thiệt của thời đại chúng ta&quot;, Les vrais penseurs de notre temps, [nhà xb Fayard, tủ sách Bỏ Túi]. Đây là nhan đề cuốn sách gồm những bài phỏng vấn của ông.Sorman kể lại, khi còn là sinh viên ở Paris, đã từng chiêm ngưỡng cặp tình nhân và cũng là cặp bài trùng tư tưởng, hai đỉnh cao của triết học hiện sinh, là Sartre và Simone de Beauvoir. Chiêm ngưỡng chỉ là chiêm ngưỡng mà thôi, ông thú nhận, và ân hận, vì đã không dám giáp mặt để làm một cuộc phỏng vấn. Thành thử với ông, &#39;Những tư tưởng gia..&#39; là một trong những giấc mơ thời niên thiếu đã được thực hiện. Một thứ thư viện sống, như trong bài tựa của cuốn sách của tác giả cho biết.Ông cũng giải thích, theo ông, thế nào là một tư tưởng gia thứ thiệt.Theo ông đây là người mà một khi người đó xuất hiện, người ta không thể suy nghĩ như là trước nữa, trong cái ngành nghề riêng biệt của tư tưởng gia đó.Ông lấy thí dụ: Lévi-Strauss. Sau khi ông này xuất hiện, người ta không thể nào suy nghĩ về môn nhân học (anthropologie) như trước nữa. Hay là Noam Chomky, với môn ngôn ngữ học. Đây là những nhà tư tưởng &quot;cắt đứt truyền thống&quot; [les hommes de ruptures: những con người của sự đứt đoạn], để lên đường, nhưng lên đường và đi tới nơi tới chốn hay không là còn tùy. Bởi vì chưa chắc mấy ông nội này tất cả đều có lý, khi cắt đứt [truyền thống], nhưng rõ ràng là tư tưởng của họ mang tính cách mạng. Những con người của cắt đứt này còn là những con người dám vượt bờ ngăn. Đa số họ là &quot;những nhà xây cất hệ thống&quot; [les constructeurs de système], chữ này, Sorman cho biết, ông mượn của sử gia người Anh, Isaiah Berlin. So với thế kỷ trước, chúng ta nghèo hơn, về mấy ông xây dựng ý thức hệ, nhưng lại khấm khá hơn, nếu nói về những nhà xây dựng những hệ thống khoa học.&quot;Một nghệ sĩ thứ thiệt là kẻ đối thoại với tác phẩm của mình, kẻ bịp bợm, lo mơn trớn đám đông&quot;, câu nói của nhà sử học về nghệ thuật Ernst Gombrich cũng là một châm ngôn mà Sorman dựa vào đó lọc ra những nhà tư tuởng thứ thiệt, bởi vì ông tin rằng, câu nói trên đúng, với bất cứ một ngành ngề, một môn khoa học nào. Thành thử, trong những người mà ông phỏng vấn, có người được biết đến, hoặc không, nhưng không hề có những con người nổi tiếng (célèbres).Ông thú nhận, trong khi mời chào những khách hàng để đưa vào &quot;bảng phong thần&quot;, có ông &quot;nói thẳng&quot; vào mặt ông, &quot;Tớ đếch có ham!&quot;, thí dụ như triết gia Đức Jurgen Habermas, một trong những trụ cột của trường phái Frankfurt. Bởi vì tôi [Sorman] không làm sao hiểu nổi những tác phẩm của ông, và tiếng tăm của ông thật là đáng kể, tôi nghĩ, một cuộc nói chuyện với ông sẽ soi sáng cho tôi nhiều vấn đề. Nhưng Habermas không bao giờ nói chuyện với những ai không chia sẻ những quan điểm chính trị của ông. Một người nữa, là Ivan Illich, sáng lập viên thần học về giải phóng [fondateur de la théologie de la libérarion] của Mỹ châu La tinh, kẻ thù của tiến bộ, của trường học, và của y học, một nhà tư tưởng ngược ngạo (paradoxal), nổi tiếng hai mươi năm trước đây [cuốn sách của Sorman xuất bản năm 1989], tôi nghĩ, có thể bây giờ là lúc kéo ông ta ra khỏi lãng quên, nhưng ông lắc đầu, &quot;Đừng, đừng!&quot;, ông giải thích thêm, &quot;Những tư tưởng của tôi quá cơ bản để mà phổ biến&quot; [Mes idées sont trop fondamentales pour être divulguées].Ilya Prigorine được Nobel hóa học năm 1977, vì đã &quot;đem lại sức sống cho khoa học, nhờ những lý thuyết mầu mỡ nhằm nghiên cứu nhiều vấn đề, từ lưu thông xe cộ, những xã hội của những loài côn trùng, tới sự phát triển những tế bào ung thư...&quot;, qua lời khen tặng của hội đồng Nobel khi trao giải.Nhà bác học Bỉ sinh tại Moscow năm 1917. Gia đình ông di sang Berlin vào năm 1922. Biến cố Nazi khiến họ phải chạy qua Buxelles. Mê đủ thứ, âm nhạc, văn chương, triết, thế rồi, bị &quot;chấn động&quot; [frappé] bởi quan niệm về thời gian của triết gia Pháp Bergson, ông quay qua khoa học. Ngay từ năm 1939, nghiên cứu của ông xoáy vào định luật thứ hai của môn thermodynamique [nhiệt-động lực học], theo đó, sự mất trật tự [le désordre] tăng lên trong một hệ thống khép kín, với bất cứ loại năng lượng nào, cho tới lúc năng lượng biến mất... Từ định luật này, có thể suy ra rằng, vũ trụ có khuynh hướng tiến tới một sự cân bằng &quot;thê thảm&quot; [mortel: chết người], khi mà tất cả năng lượng bị nướng hết [gaspillé: phí phạm]. Đây là [hiện tượng] &quot;mũi tên của thời gian&quot; [la flèche du temps]. Prigorine nghiên cứu những điều kiện thật cách xa cân bằng nói trên, và vào năm 1946, đã có ý nghĩ, rằng, những hiệu quả của thời gian có thể đẻ ra những cơ cấu mới.Năm 1954, ông cho xuất bản cuốn Dẫn nhập vào môn nhiệt động lực học của những tiến trình không thể nghịch đảo [des processus irréversibles]. Những cân bằng nhiệt động lực mà ông gọi là &quot;mù&quot; [aveugle] thì thật hiếm trong vũ trụ. Và những hệ thống mất cân bằng, thí dụ như những thành phố, hay là những tế bào, có thể sống sót trong những môi trường kém tổ chức [moins organisé]. Prigorine chứng minh, trong những điều kiện cách xa [éloigné] của diểm cân bằng, những biến động [fluctuations] có thể tự ổn định. Những cơ cấu mà ông coi là vung vãi, hoang phí [srtuctures dissipatives], chẳng hạn như Cuộc Sống, đích thị nó, là một thí dụ, có thể kéo dài, bằng cách chôm chĩa năng lượng cần thiết cho môi trưởng hỗn mang của nó, rồi lại hoang phí tiếp ra bên ngoài [... peuvent ainsi durer, captant l&#39;énergie nécessaire de leur environnement chaotique, puis la dissipant à nouveau à l&#39;extérieur].Nhóm nghiên cứu của ông ở Bruxelles, gồm sáu chục nhà khoa học, từ nhiều môn khác nhau, hiện đang thử nghiệm quan niệm về cơ cấu hoang phí trong nhiều bộ môn: xã hội học, sinh học....Những tác phẩm của ông gồm có:Cơ cấu, sự ổn định và những biến động, Structure, stabilité et fluctuations, nhà xb Masson, 1971.Vật lý, thời gian và sự trở thành, Physique, temps et devenir, Masson, 1982.Liên Minh Mới: Hóa thân của Khoa học, La Nouvelle Alliance: Métamorphose de la Science (cùng với Isabelle Stengers), Gallimard, 1986.Giữa Thời Gian và Thiên Thu (với Isabelle Stengers), Fayard, 1988.Trật tự hay Hỗn mang: Prigorine vs René ThomQuan niệm của chúng ta về thế giới bị ảnh hưởng bởi khoa học vật lý. Một khi chúng ta cho rằng vũ trụ giống như một cái đồng hồ tuân theo những qui luật bất biến, như vậy chúng ta là những đứa trẻ của Newton và của môn cơ học của ông. Và chúng ta thật dễ dàng cho rằng những môn khác như chính trị, kinh tế... chúng cũng tuân theo những định luật bất biến.Một cái nhìn mang tính cơ học như thế về vũ trụ là không có tính khoa học, theo Ilya Prigorine. Đây chỉ những lý thuyết nẩy sinh từ thế kỷ 17 và đã bị vượt qua, và bất hạnh thay, vẫn được đem ra giảng dạy tại trường lớp. Phải thay thế nó bằng môn vật lý học đương thời, được thành lập trên cơ sở của lý thuyết về xác xuất (la probabilité). Điều mà chúng ta tưởng như là một trật tự đã an bài, và bất biến, thật ra chỉ là hỗn mang, bất định (indéterminé): Chẳng hề có đồng hồ, người làm ra đồng hồ, chẳng hề có thần thánh, trần tục, thế giới là một hỗn mang, không thể tiên đoán, mang tính đột xuất. Như mọi môn khoa học nhân văn, những môn vật lý học, chúng chỉ là tổng số những ngẫu nhiên, bất ngờ!Đâu phải như vậy, nhà toán học người Pháp René Thom đáp lại. Hỗn mang ngự trị khoa học hiện đại chỉ là tạm thời. Đừng bao giờ từ bỏ việc tìm kiếm những định luật bất biến của vũ trụ. Thế giới có trật tự, thông minh, theo nghĩa có thể hiểu được nó. Thảm họa của khoa học hiện đại là do nó từ bỏ việc tìm hiểu vụ trụ, thế giới, khoa học hiện đại chỉ là một nghĩa địa của những sự kiện, một sự tích tụ những thông tin trên những máy tính, chẳng có một lý thuyết dẫn giải chúng. Khoa học hết suy tư, chính vì thế mà nó đang bị trục trặc, Thom kết luận.Có một điều giống nhau, là cả hai đều tỏ ra thù nghịch với tính tản mạn của tri thức, và đều tin rằng, khoa học nhân văn và khoa học chính xác bị kết án phải giầu sang lên mãi mãi, nếu không muốn cùng theo nhau chìm xuồng.Theo Ilya Prigorin, chúng ta đừng tin rằng những lý thuyết khoa học là những định luật được giấu diếm đâu đó, để chờ những nhà tìm kiếm tình cờ khám phá ra được. Vẫn theo ông, sáng tạo khoa học thì cũng hiện hữu y chang (au même titre) sáng tạo nghệ thuật. Lovelock có lý, khi cho rằng những nhà bác học, vật lý, hóa học, họ là những tác giả, đúng như ý nghĩa của từ này, khi dùng để chỉ những nhà văn.Được thế giới biết đến qua những nghiên cứu về những cơ cấu không-cân bằng (structures non-équilibres), đồng tác giả với Isabelle Stengers, cuốn sách gây chấn động vì tính ngược ngạo của nó, Liên Minh Mới, Ilya Prigorine gốc Bỉ, di dân từ Nga, năm 1921, khi mới 4 tuổi. Học Bruxelles. Những gốc rễ như vậy, cùng cái tên của ông, khiến cho báo chí, vào lúc ông được Nobel hóa học vào năm 1977, đã coi ông là dân Nga. Cực kỳ thông minh, nhìn biết liền, đúng như cảm tưởng của tôi [Sorman], về &quot;tư tưởng gia thứ thiệt&quot;, khác biệt hẳn với thứ dởm, ở cái vẻ khiêm tốn và giản dị của họ.Khám phá lớn lao, là để dành cho thiên tài.[Il n&#39; y a pas de grandes découvertes sans un auteur de génie]Đúng là trong những thời kỳ bình thường, nhất là với những môn học đã đạt tới sự trưởng thành, bước tiến của khoa học gần như &quot;vô ngã&quot; (impersonnelle), mang tính năng nhặt chặt bị [cumulatif: tích lũy], và thêm nhà nghiên cứu này, hay bớt đi nhà nghiên cứu nọ, chẳng làm thay đổi thành quả. Nhưng với những khám phá mang tính cách mạng, luôn xuất hiện thiên tài, không chỉ một, mà là &quot;quần hùng tụ hội&quot;, &quot;Hoa Sơn luận kiếm&quot; [&quot;constellations de génie&quot;]: Đây là trường hợp xẩy ra ở đầu thế kỷ 17, thiên tài xuất hiện như &quot;lá mùa thu&quot;: Copernic, Kepler, Galilée. Gần đây thôi, là Einstein, Broglie, Heisenberg và Schrodinger. Thiếu Einstein, làm sao chúng ta có lý thuyết tương đối? Bộ dễ kiếm ra một Einstein thứ nhì? Từ đó suy ra: Tiến bộ khoa học không thể nào là thành quả của một định mệnh thuyết mang tính lịch sử. Cứ giả sử nhân loại một ngày đẹp trời nào đó, tiến tới chủ nghĩa CS, theo nghĩa, không còn người bóc lột người, do quá thừa mứa cái ăn cái mặc cái chơi, như vậy cũng không thể có cái chuyện ai cũng như ai, rằng, anh &quot;mê gái&quot; cũng nhiều như... tui được! Những lý thuyết vốn chỉ là những giả thuyết tạm thời, những công thức, kết luận mang tính cá nhân, qua thử thách của thời gian, những lý thuyết thí dụ như của Copernic, Newton, hay Einstein, ngày càng trở nên &quot;xác định&quot; [définitives] hơn. Chân lý khoa học, như vậy, không mang tính toàn thể. Thí dụ như môn cơ học cổ điển. Nó vẫn còn có giá trị vào thời buổi bây giờ, nhưng chỉ trong miền (domaine) của những vật thể nặng nề (objets lourds), thí dụ như là những hành tinh! Ngược lại, khi phải diễn tả sự tiến hóa của những vật thể &quot;nhẹ&quot; của thế giới tiềm-nguyên tử (subatomique), Newton chịu thua! Phải đưa vào đó môn cơ học lượng tử, một sáng tạo của thế kỷ 20. Khoa học là một chuỗi những giả dụ có thể bị phản bác, và giả dụ như có một giả dụ vượt lên khỏi mọi phản bác, một &quot;chân lý&quot; như vậy sẽ thuộc vào miền của ma thuật, huyền thuật, chứ không phải của khoa học.Khoa học đẻ ra từ Tây phương.[La Science ne pouvait naitre qu&#39; en Occident]Nếu chúng ta chấp nhận, cùng với Prigorine, rằng, bác học là những người đối thoại với Thiên nhiên, như vậy tại sao, có những thời kỳ, những nền văn minh, thiên tài xuất hiện khá xôm tụ, cùng với họ, là những khám phá lớn lao, so với những thời kỳ khác, những nền văn minh khác? Tại sao, nền khoa học được thành lập bởi Descartes và Galilée, xuất hiện ở Tây phương mà không ở nơi khác? Câu trả lời, theo Prigorine, không nằm ở sự thông minh của những dân tộc hay những cá nhân, mà chỉ kiếm thấy ở trong những hoàn cảnh lịch sử hay văn hóa.Khoa học xuất hiện cùng với [en fonction de] ý nghĩ, tư tưởng con người về vũ trụ. Nếu một dân tộc tin rằng có một đấng Sáng Tạo là cội nguồn của thế giới, và đấng Sáng Tạo đó sẽ quyết định tương lai của họ, từ một niềm tin như vậy sẽ là những luật lệ, và cùng những luật lệ, là một tương lai được phân định (discernables). Vào thế kỷ 17 những định luật về Thiên Nhiên qui chiếu về một Nhà Lập Pháp tối thượng. Phần việc của những nhà bác học, là giải mãi (décoder) những luật thiêng, và những nhà bác học như thế có thiên hướng trở thành những người biết hết hiểu hết. Sự xuất hiện của một nền khoa học Tây Phương vào thế kỷ 17 là một hiện tượng cộng hưởng [résonance] với thần học của thời kỳ đó.Đó là cái mẫu mã khởi đầu của khoa học Tây Phương được nhập thân bởi hai nhà bác học của họ, là Newton và Leibnitz. Quan niệm cổ điển về khoa học như thế, coi Thượng Đế là một đảm bảo cho những luật lệ thiêng liêng, vĩnh cửu. Người đại diện cuối cùng của nền khoa học cổ điển nói trên, là nhà bác học Einstein, theo Prigorine. Công thức nổi tiếng của Einstein, &quot;Thượng Đế không chơi xúc xắc&quot; [Thượng Đế không đổ xí ngầu], khẳng định một sự thực thiêng liêng về Vũ Trụ và những luật lệ độc lập đối với cuộc sống ngẫu nhiên, tùy tiện của con người.Nhưng một niềm tin về một Thượng Đế vạn năng và rất ư là thuần lý (rationnel), như là một điều kiện cần thiết cho sự xuất hiện của khoa học, chưa đủ. Cần phải có một ông Trời mạnh, theo Prigorine, chống lại một ông vua &quot;yếu&quot;, chống lại cái &quot;trò chơi&quot; (jeu) chính trị, và xã hội từ đó nẩy sinh nỗi âu lo về tinh thần, và đây là nguồn cơn đưa đến những cuộc tranh luận thuờng trực ở thời Trung Cổ tại Âu Châu, giữa những giáo hoàng và những vua chúa, chính từ đó mà tư tưởng độc lập đã nẩy sinh. Một trong những &quot;trò chơi&quot; trí tuệ đáng kể đã xẩy ra vào thế kỷ 19 tại Vienne, nhờ nó mà những cấu tạo lý thuyết tuyệt vời nhất của thời đại chúng ta đã nảy nở, phát triển, nhất là môn cơ học lượng tử và thuyết tương đối.Một bên là sơ đồ Âu Châu như trên, một bên là Trung Hoa: Tại sao khoa học hiện đại không nẩy sinh từ Trung Hoa? Theo Prigorine, câu trả lời vẫn là về một trật tự văn hóa. Quyền lực vua chúa trấn áp, triệt tiêu mọi tư tưởng đổi mới, một khi nó ló mòi làm loạn, nghĩa là làm xáo trộn trật tự xã hội. Ngoài ra còn là vấn đề này: những quan niệm thần học của Trung Hoa phù hợp với một viễn ảnh toàn cầu, toàn tiến (holiste), của Vũ Trụ. Một quan niệm như thế sẽ tỏ ra thờ ơ trước một nghiên cứu những định luật cơ học. Ngược hẳn với Âu Châu, Trung Hoa mạnh về khả năng, quyền năng (pouvoir fort), nhưng yếu về thiên tính (divinité faible), chính vì vậy mà họ đã có những khám phá cơ bản thí dụ như la bàn, thuốc nổ, bánh lái (gouvernail), nhưng chúng không được đưa vào thực hành, thành thử không gây những đột phá quan trọng thay đổi hẳn bộ mặt xã hội.&quot;Bạn thấy đấy,&quot; Prigorine bảo tôi, &quot;Những nhà bác học không phải là những con người không chút dây mơ rễ má (déincarné), mà là một phần tử của bộ lạc mà người đó sống. Văn hóa môi trường hướng dẫn những nghiên cứu tìm tòi của nhà bác học, giống như mùi vị của tiền bạc và quyền lực.&quot; Những mũi nhọn chĩa vào môn sinh học, thí dụ vậy, là hậu quả của nỗi lo sợ về bệnh ung thư, hay nhắm vào môn vũ trụ học, là do nỗi lo âu, hoặc nghi ngờ, có hay không, một đấng Sáng Tạo. Đây là môi trường lịch sử và văn hóa nẩy sinh nền khoa học cổ điển của chúng ta, nhưng một hình ảnh như vậy về khoa học đã trở nên lổi thời, không chỉ lỗi thời, mà còn sai lạc (fausse).Vũ Trụ không còn là đồng hồ, mà là hỗn mang.Trong kiểu mẫu cổ điển của khoa học vẫn tiếp tục được giảng dậy ở lớp học, những định luật của Vũ Trụ thì đơn giản, đối xứng, tất định, và không thể đảo ngược được, và cái đồng hồ có thể coi như một biểu tượng của nó, với sự chuyển động bất biến, và có thể thấy trước được. Trong cái bản vẽ (schéma) như thế đó, vật chất tuân theo những định luật, nhưng con người, ngược lại, thì tự do. Đây là thế luỡng nguyên (position dualiste) của Descates, và nó đã đánh dấu, chỉ danh triết học Tây Phương, là như thế đó. Từ đó đẻ ra sự phân chia văn hóa của chúng ta [Tây Phương], giữa, một bên là khoa học nhân văn [thí dụ như lịch sử, hay tâm lý học], và một bên là những môn khoa học chính xác. Với môn nhân văn, thời gian và biến cố giữ một vai trò thiết yếu. Với khoa học chính xác, những định luật của chúng thì vô thời [intemporelles].Vào những năm đầu của thập niên 1920, thế giới khoa học xẩy ra một cuộc cách mạng bản vẽ trên, với sự xuất hiện của môn cơ học lượng tử. Người ta hiểu ra rằng, ở mức độ của những điện tử, khoa vật lý cổ điển chẳng có một chút giá trị, và chúng ta bước vào một thế giới khác, thế giới của những điều bất trắc, không thể tính trước được. Rằng cái cấu trúc của vật chất không còn có thể định nghĩa bằng những định luật xác định, mà bằng những kiểu mẫu của xác xuất (modèles de probabilité). Thoạt đầu, những nhà bác học giải thích, những biến động (perturbations) ở trong Vũ Trụ là do sự đo đạc của con người mà ra. Người ta tin rằng, quan sát viên, tức con người, gây ra sự bất ổn định. Nhưng tới cuối thế kỷ 20, Prigorin khẳng định, chúng ta biết rằng vật chất thì không bền (instable), và Vũ Trụ, mà chúng ta nghĩ rằng bất biến, chính nó cũng có một lịch sử. Thế giới vật lý của chúng ta không phải là một cái đồng hồ mà là một hỗn mang không thể nào tiên đoán trước được. Tất cả những lý thuyết theo kiểu xâu chuỗi bắt buộc, nguyên nhân như thế thì đưa đến hậu quả như thế này, chúng lần lượt được thay thế bằng những bài tính về xác xuất. Lẽ dĩ nhiên, người ta luôn luôn có thể biết trước, từ những bản vẽ cổ điển theo kiểu Newton, vị trí của trái đất ở một thời điểm 5 ngàn năm sau, nhưng Prigorin nhấn mạnh, những chuyển động tuần hoàn, ổn định như thế đó, là ngoại lệ: phần lớn những hệ thống động lực thực sự luôn ở trong trạng thái không ổn định. Một thí dụ thật đơn giản, những cũng thật ấn tượng mà Prigorin đưa ra, là [môn] khí tượng (météo).&quot;Hiệu ứng bướm&quot; khiến con người khó tiên đoán về Trái Đất.Làm sao con người có thể tiên đoán, suốt cả một thế kỷ, đường đi nước bước [le passage] của một ngôi sao chổi, vậy mà không làm sao tiên đoán, thời tiết ngày này tuần sau, sẽ ra sao? Môn khí tượng, theo Prigorin, chỉ tiên đoán [giả thuyết] khí hậu thời tiết không quá con số 4 ngày. &quot;Dư luận&quot; cho rằng, nếu trang bị cho những nhà khí tượng những máy móc tân kỳ, hiện đại hơn, họ có thể tăng con số 4 nói trên thành 8, hoặc 30, tức là một tháng. Sai! Prigorin trả lời. Thời gian là không thể tiên đoán, theo như định nghĩa về nó. Nó là kết quả của một tổng số những bất trắc: Đây là một hệ thống động lực không ổn định. Nói như vậy, có nghĩa, rằng một sự thay đổi nhỏ bé (moindre variation) ở một nơi chốn nào đó, có thể gây ra [entrainer] những hiệu quả đáng kể. Người ta gọi đây là &quot;hiệu ứng bướm&quot;: một tiếng đập cánh của một con bướm tại Bắc Kinh có thể gây ra một luồng hơi nhẹ (un souffre léger), và cái làn hơi nhẹ nhè nhẹ này, cứ thế cứ thế [de proche en proche] đẻ ra [donnera naissance] một trận bão, ở California.Một thí dụ cơ bản nữa, về hệ thống của Prigorin, là: đồng tiền. Khi chúng ta chơi trò sấp hay ngửa, bằng thống kê học, người ta tính đuợc, tới một lúc nào đó, đồng tiền &quot;thích&quot; phô ra, chỉ một mặt, hoặc hay sấp, hoặc hay ngửa [hình như mấy ông hay chơi sóc dĩa quá rành chuyện này, mà họ gọi là hiện tượng &quot;rền&quot;, nếu tôi không lầm?] Hãy tưởng tuợng chúng ta có trong tay một cái máy điện toán, và tính được tất cả những giai đoạn, rền sấp hoặc rền ngửa đó, như vậy chắc chắn chúng ta sẽ tiên đoán được, bỏ qua trường hợp tiền múa chúa cười của Trạng Quỳnh (?) khi đánh bạc với bà Chúa Liễu (?), chuyến này, là chẵn hay là lẻ. Hoàn toàn sai!, Prigorin trả lời. Không làm sao tính nổi, bởi vì đồng tiền bắt buộc sẽ trải qua những vùng bất trắc, những bước ngoặt [của lịch sử], những &quot;bifurcations&quot; [chỗ rẽ]. Trong một hệ thống động lực không bền, một điều kiện tiên khởi [condition initiale], đưa tới một kết quả &quot;sấp&quot;, thì cũng thật là gần gụi với một điều kiện tiên khởi đưa tới một kết quả &quot;ngửa&quot;.Từ những&quot;giai thoại&quot; như thế đó - Progorin tránh không đưa ra những giai thoại quá rắc rối, cho thấy: một cái nhìn mang tính định mệnh [một định mệnh thuyết về cuộc đời], kể như hoàn toàn sụp đổ. Nói ngắn gọn, cái gọi là ngẫu nhiên, tình cờ tham gia hết mình vào trong thực tại vật lý. Vật chất, y chang Cuộc Đời, có tính đột nhiên, bất thuờng, đỏng đảnh, như là một biến cố [Làm sao anh biết, lần đó về HN, là gặp Em, thí dụ vậy?]. Ngược hẳn với niềm tin của Einstein, Prigorine cho r?ng, Thượng Đế chơi xí ngầu, và chơi rất cừ, [nếu không làm sao có chuyện Anh gặp Em, ở quán gì gần bờ hồ, nhỉ.....]Jennifer Tran3. Kẻ Mơ Ngày[Phỏng vấn nhà văn Nhật Bản Huraki Murakami]Lời giới thiệu:Trong &quot;Chuyện Nghề&quot; (The Writer&#39;s Apprenticeship), Borges viết:Nghề văn, nghề thơ, là một nghề kỳ cục. Chesterton có nói: &quot;Chỉ có một điều cần - tất cả mọi điều.&quot; Với một nhà văn, tất cả mọi điều là một từ không chỉ có nghĩa &quot;bao gồm&quot;; phải hiểu theo nghĩa đen của nó. Thí dụ, một nhà văn cần sự cô đơn, và anh ta được chia phần, của nỗi cô đơn. Anh ta cần tình yêu, anh ta được chia, tình yêu, và luôn cả, tình yêu không được chia.Theo một nghĩa nào đó, nhà văn là một kẻ mơ-ngày, a day-dreamer, một kẻ sống cuộc đời kép. Anh ta bắt đầu viết, bằng cách bắt chước những nhà văn mà anh ta thích. Đó là cách nhà văn trở thành chính mình, bằng cách làm mất bản thân - cung cách kỳ cục của một cuộc sống kép, sống hết mình trong thực tại này, cùng lúc, trong thực tại khác - thực tại mà anh ta sáng tạo ra, thực tại &quot;của những giấc mơ&quot;.Một cuộc sống kép, sống hết mình trong thực tại này, và cùng lúc, trong một thực tại khác... Một kẻ mơ ngày.... Murakami có lẽ cũng nghĩ như vậy, khi ông cho rằng, viết, là một cách mơ mộng, nhưng mà trong tình trạng tỉnh thức, &quot;écrire, c&#39;est comme rêver éveillé&quot;Sinh tại Kobé năm 1949, Murakami học về bi kịch Hy Lạp tại Đại học Wasada trước khi làm công việc trông coi một quán nhạc jazz tại Tokyo từ 1974 tới 1981. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông Hãy Nghe Gió Hát được giải thưởng Gunzo. Cuốn sách kéo theo Tam Khúc Chuột (La trilogie du rat), cuốn chót, La Course au mouton sauvage [Rượt theo cừu hoang], bản tiếng Pháp do Seuil xuất bản (1990), và sau đó, Tận Thế [La fin des temps, 1992), một cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng khác thường đã đem đến cho tác giả giải thưởng nổi tiếng Tanizaki. Sau đó, vẫn do nhà xb Seuil, là cuốn La Ballade de l&#39;impossible (Khúc dạo của sự bất khả), một thành công lớn tại quê hương của ông.....Tác phẩm của ông quyến rũ, tinh tế, không ngừng gây kinh ngạc, sững sờ, dễ nhập vô nhưng cũng thật khó nắm bắt.Tin Văn đã từng giới thiệu ông, khi cuốn Ký Sự về Chim Lên Dây Thiều ra mắt giới độc giả Anh ngữ.Sau đây là bài phỏng vấn đặc biệt do Tran Minh Huy thực hiện, cho tờ Văn Học Pháp, Magazine Littéraire, số tháng Sáu 2003, số đặc biệt về nhà thơ, nhà phê bình, nhà dịch thuật Pháp, Yves Bonnefoy. Tin Văn sẽ có bài về ông.[Tên những tác phẩm của Murakami, là theo bản dịch tiếng Pháp]&quot;Vâng, cái đó có sự quyến rũ, đọc nó thích lắm đấy&quot;, Fitzgerald nói về những gì ông viết. Người ta có thể nói cùng một điều như vậy, về những tác phẩm của người đã từng dịch Êm Đềm Như Đêm [Tender is the Night, Tendre est la nuit], và Tan Vỡ [The Crack-Up, La Fêlure] của ông, qua tiếng Nhật. Đó là Haruki Murakami.Một âm nhạc đặc biệt, một cái đẹp khó định nghĩa, một quyến rũ luôn cưỡng lại mọi nghiên cứu, tìm hiểu, những cuốn sách Murakami thấm đậm những chất như vậy. Ông là một nhà văn &quot;thần tượng&quot; không dễ xếp loại, một pháo đài không dễ xâm nhập. Ít khi chịu phỏng vấn, tuy nhiên, ông đã bằng lòng làm một cuộc phỏng vấn đặc biệt, với tạp chí Văn Học Pháp. Trong khi nói chuyện, ông thú thực, không khoái trò phỏng vấn (cái thứ bài tập này, ce genre d&#39;exercice), chẳng &quot;tin&quot; (foi) phê bình, chẳng &quot;cậy&quot; (confiance) độc giả. Diễn tả chính xác những gì mình nghĩ, bằng một thứ tiếng Anh thật chuẩn, bởi vì, ngoài Fitzgerald, ông còn dịch Raymond Chandler [một tác giả những truyện trinh thám nổi tiếng người Mỹ], John Irving và Raymond Carver, tại quê hương của ông. Một người mê tiểu thuyết viết bằng tiếng Anh, ông là một trong những người tiên phong du nhập văn hóa pop vào văn chương Nhật, ngược lại truyền thống, vốn chuộng một cái đẹp mang tính qui ước.Viết tiểu thuyết, truyện ngắn, đã từ lâu, ông là một ngôi sao rock văn học tại xứ sở của ông. Cuốn tiểu thuyết Bài Hát Của Sự Bất Khả (Ballade de l&#39;Impossible) đã bán ra hai triệu ấn bản. Đây là một thứ ký sự mang tính hoài nhớ về cuộc đời của sáu sinh viên Nhật thập niên 60-70. Không chỉ nổi tiếng ở Nhật, những đại học danh tiếng của Mỹ như Harvard, Princeton đã từng mời ông ghé thăm. Ở Nga xô, ông được so sánh với.... Dostoevsky. Một bậc thầy, của những tình thế nhạy cảm, một thi sĩ, ca nhân, của những tình huống bất khả (Phía nam biên giới, phía tây mặt trời, Au sud de la frontière, à l&#39;ouest du soleil, Những người tình của Spoutnik, Les Amants du Spoutnik, Bài ca của sự bất khả, La Ballade de l&#39;Impossible) một người viết ngụ ngôn hoang đường, kỳ quái (Tận thế, La Fin des temps), và những truyện giả-trinh thám, lồng vào trong đó một sự tìm kiếm mang tính khai phá (Rượt theo cừu hoang, La Course au mouton sauvage, Ký sự về chim lên dây thiều, Chronique de l&#39;oiseau à ressort). Đã từng chọn Hoa Kỳ để sống thay vì Nhật bản, cuộc động đất tại Kobé và vụ tấn công bằng hơi độc sarin của giáo phái Aum tại đường xe điện ngầm tại Tokyo khiến ông trở lại quê hương, viết &quot;Sau cuộc động đất&quot; và Dưới Hầm (Underground), những suy tư khi phải đối diện với điều mà ông gọi là &quot;căn phần&quot; của lịch sử Nhật Bản, và có thể của mọi lịch sử: bạo lực.Từ tám năm nay, ông chọn Tokyo làm nơi sống. Có vẻ như ông tìm lại được sự bình an, sau lưu vong.-Những cuốn tiểu thuyết của ông có rất nhiều những điển cố văn hóa pop Tây phương: những dấu vết, ký hiệu, nhạc Beatles, phim ảnh Hollywood, nhạc Jazz... Liệu có thể coi đây là &quot;cắt đứt truyền thống để lên đường&quot;, giã biệt những cổ thụ của văn chương truyền thống Nhật, thí dụ, Mishima, Kawabata, Tanizaki?Khi còn trẻ, tôi nghe nhạc Beatles, les Doors, và đọc những cuốn sách Mỹ, những cuốn &quot;mysteries&quot; [một loại trinh thám của những tác giả thí dụ như Ellery Queen], khoa học giả tưởng, coi Laura của Otto Preminger... Tôi tắm đẫm trong âm nhạc, tiểu thuyết, phim ảnh và thứ văn hóa pop đó. Tôi có ý muốn đọc những cuốn sách viết về những gì mà tôi đã từng yêu và tiếp tục yêu cho đến bây giờ. Đây là một phần thiết yếu trong thế giới của tôi, và tôi muốn viết về điều này. Theo kiểu hoài niệm, tưởng nhớ. Tôi thật khác biệt với Mishima hay Kawabata, về rất nhiều bộ môn. Đặc biệt là về văn phong, nhưng không chỉ có thế. Văn xuôi của họ gắn bó với một cái đẹp mang tính hình thức, nó có vẻ mơ mơ hồ hồ (ambigu), rất ư kiểu cách, tràn trề cảm xúc, trong khi cá nhân tôi, chỉ muốn viết tự nhiên, giản dị. Uyển chuyển, nhẹ nhõm, và trần trụi. Tôi tiếp tục làm việc theo kiểu này. Đó là điều làm tôi tách hẳn ra khỏi những nhà văn Nhật Bản có tính truyền thống. &quot;Dù có rũ bụi, tôi cũng chẳng dám làm quen,&quot; có thể nói như vậy, bởi vì tôi chẳng nợ nần gì, &quot;cho dù chỉ một giọt mực&quot; của truyền thống Nhật.-Có thể ông không nợ họ, nhưng lại nợ những tác giả khác, như Fitztgerald, Carver, Raymond Chandler, John Irving, mà ông đã dịch qua tiếng Nhật?Lẽ tất nhiên. Hẳn nhiên là như vậy. Chính những bản văn mà tôi dịch đó, đã hướng dẫn tôi, là những người thầy, người chỉ bảo tôi. Cái hành động dịch thuật đó, nó ảnh hưởng đậm đà và thật là tuyệt vời vào cái hành động viết, một cách nào đó, nó là một: Khi tôi viết một cuốn tiểu thuyết hay một truyện ngắn, tôi có nguyên bản, nằm ở trong tôi, và tôi tìm cách dịch nó ra thành ngôn ngữ, thành văn xuôi, nghĩa là thành một cái gì mà người khác, kể cả tôi, đọc được. Tiếng Nhật hoàn toàn khác hẳn tiếng Tây Phương như Pháp, Anh, hay Đức. Khi dịch ra tiếng Nhật, người ta phải tái tạo (reconstruire), có thể nói, kể từ con số không, về ý nghĩa cũng như câu kệ của bản văn ngoại đó. Một sự tạo thành như thế đó, là hoàn toàn riêng hẳn ra, nếu phải so với nguyên bản. Dịch thuật do đó giữ, và tiếp tục giữ một chỗ rất quan trọng, rất cơ bản, trong cách viết và suy nghĩ của tôi.-Gì thì gì, những điển cố văn hóa pop như vậy làm cho tác phẩm của ông dễ tới với công chúng thế giới?Tôi không nghĩ, mình là thứ tác giả được năm châu bốn bể tìm đọc. Được mọi người nói tới một tí ti thôi, dù chưa đọc sách của mình, vậy cũng thú vị lắm rồi. Phần khác, cứ kể như là thuộc về huyền thoại rất đẹp của Đông Phương, về điều mà chúng tôi nói, mắt xanh nào có mấy người, đâu là tri âm tri kỷ. Tôi lấy thí dụ, khi tôi viết rằng, nhân vật trong cuốn tiểu thuyết của tôi nghe Radiohead hay Prince, bạn và tôi biết ngay, tụi mình đang nói gì, và thế là có một liên hệ, một tình cảm... giữa tôi và bạn. Đây là điều rất quan trọng. Khi tôi cho nhân vật của tôi bước vào một tiệm Burger King hay MacDo, bạn có thể tưởng tượng ra cảnh đó. Theo một nghĩa nào đó, những dấu vết, những bảng hiệu (logos) như vậy, là một hình thức biểu tượng về điều mà chúng ta cùng chia sẻ, những ngày này.-Nhưng điều đó cũng đâu có làm cho nhân vật của ông bớt &quot;hung hăng&quot; chống lại, từ chối hệ thống. Họ đâu có kính trọng cái thứ luật làm đến ói máu, và cái kiểu sản xuất hàng hóa như ngựa phi, vốn được coi là &quot;đạo hạnh&quot; của Nhật Bản?Thời gian 1968-69, tôi là một sinh viên, đó là thời kỳ chống lại văn hóa, và chuộng chủ nghĩa lý tưởng. Người ta mê cách mạng, mê lật đổ trật tự đã an bài. Rồi những ngày tháng như thế đó cũng phải qua đi. Tôi ra trường với mảnh bằng đại học. Nhưng tôi chẳng muốn chui vào một văn phòng, một xã hội nào. Tôi chỉ muốn là chính tôi. Một mình và độc lập. Đâu có dễ, muốn cái chuyện như thế, ở một xã hội như Nhật Bản, vốn được thành lập từ những ý niệm bộ lạc, tập thể, nhưng cuối cùng tôi cũng làm được cái điều mình muốn làm đó. Tôi chẳng thuộc vào một câu lạc bộ, một trường phái nào. Hai mươi năm vừa rồi, tôi viết, vậy mà chẳng có lấy một mống đồng nghiệp, văn hữu, bạn văn. Khi bắt đầu viết tiểu thuyết, lẽ tự nhiên, tôi chỉ muốn miêu tả những nhân vật, như là những cá nhân, cố làm bật ra, bằng cách nào những con người như thế có thể sống như những cá thể ở bên lề, của lề luật xã hội. -Những cuốn sách của ông giống như những ngụ ngôn, [những đường cong paraboles], cho thấy cách, mà những con người, những cá thể mà ông vừa nói tới đó, thoát ra khỏi sự phóng thể, tha hóa, mất bản chất cá thể của họ...Tôi cũng nghĩ như vậy, một cách nào đó. Nhưng trong vòng ba mươi năm qua, xã hội Nhật bản đã thay đổi. Nó trở nên vững chãi, không còn chao đảo. Nghĩa là không còn giống như trên nữa. Vào những năm cuối cuộc đệ nhị thế chiến, chúng tôi đã cần cù làm việc để tái thiết xứ sở. Chúng tôi nghĩ, công việc đem lại giầu có, và giầu có mang lại hạnh phúc. Nghe có vẻ quá ngây thơ, nhưng xã hội của chúng tôi đã sống với một xác tín như vậy từ không biết bao nhiêu đời rồi. Chính vì lý do đó mà ông bà tôi, rồi tới cha mẹ tôi cứ thế cắm đầu cắm cổ làm, làm, và làm, để có được sự thoải mái về kinh tế cho gia đình chúng tôi vào thập niên 1980, thời kỳ có tên là &quot;kinh tế man rợ&quot; (l&#39;économie barbare). Chúng tôi trở nên giầu có. Nhưng khốn thay, càng không thấy hạnh phúc! Chúng tôi cảm thấy mất mát, thua thiệt, và chúng tôi phải coi lại cái công thức &quot;có tiền mua tiên cũng được&quot;. Có thể, &quot;Đừng tuyệt vọng em ơi đừng tuyệt vọng&quot;, &quot;Hãy hạnh phúc em ơi, hãy hạnh phúc&quot;, là nỗi băn khoăn của chúng tôi, tiếp theo đó. Rồi tới thời kỳ suy thoái kinh tế, kéo dài 10 năm. Theo tôi nghĩ, một cách nào đó, đây chính là một cứu nguy cho chúng tôi, bởi vì, bây giờ, chúng tôi có thể suy nghĩ, và tìm ra một con đường khác cho đất nước của mình.-Văn học Nhật đương đại cũng có cùng những lo âu, bận bịu đó. Thí dụ trong những tác phẩm của Ryu Murakami hay Banana Yoshimoto...Ryu Murakami là một trong những người bạn thật hiếm hoi của tôi, chúng tôi rất hiểu nhau, và tôi rất ngưỡng mộ một vài cuốn của anh. Còn Banana Yoshimoto, tôi đặc biệt yêu cuốn Giã biệt Tsuguni. Nhưng tôi thú nhận, ngoài ba chuyện dịch thuật và tác phẩm của chính mình, tôi chẳng có thì giờ đọc đồng nghiệp Nhật bản. Một điều chắc chắn, là, trong vòng hai mươi năm nay, văn học Nhật Bản hoàn toàn hóa thân, Một cuộc thay đổi không những toàn diện, mà còn tới tận gốc rễ của nó. Đứng vùng lên gông xích (les carcans) ta đập tan, cả về hình thức lẫn nội dung.-Ông thích chơi với những sơ đồ, bản vẽ (schémas) của &quot;chuyện tình&quot; (Bài hát của sự bất khả), của tiểu thuyết đen, và của SF (Science-fiction, khoa học giả tưởng), lâu lâu ông pha trộn chúng với nhau (Những người tình của Spoutnik, Ký sự chim lên dây thiều). Tại sao?Cái này là do cách đọc của tôi, thật bất thường và thật hỗn độn. Mười tám tuổi, tôi đọc tiểu thuyết cổ điển Âu Châu, thế kỷ 19, chủ yếu là Tolstoy, Dostoevsky, Chekhov, Balzac, Flaubert, Dickens. Họ là những người hùng của tôi. Tôi chúi đầu chúi cổ, dành hết thì giờ cho họ. Nói về mặt văn chương, chẳng làm sao mà viết hơn họ. Sau đó, tôi chuyển qua tiếng Anh, và đọc những tác phẩm viết bằng tiếng Anh.Tôi khám phá ra thế giới tiểu thuyết đen, và khoa học giả tưởng, Raymond Chandler, Kurt Vonnegut, và Richard Brautigan. Cả Scott Fitzgerald nữa. Tôi đọc tất cả bằng tiếng Anh. Thật là một kinh nghiệm hoàn toàn mới mẻ, và nó làm tôi thay đổi rất nhiều. Đến nỗi cái nền tảng văn hóa của tôi bị pha trộn, có thể nói, là một món &quot;nộm&quot; giữa văn học cổ điển và một thứ văn học dính dáng tới văn hóa pop. Lập tức, tôi tóm lấy cách sử dụng những bản vẽ, những cấu trúc của &quot;chuyện tình&quot; (love story), của tiểu thuyết trinh thám (policier), khoa học giả tưởng, và nuôi chúng bằng những những thức ăn riêng. Một thứ &quot;bài tập&quot; giải cấu trúc, nếu bạn muốn. Nói rõ hơn, bình (le contenant) cũ, và là đồ vay mượn, nhưng rượu (le contenu), mới.-Ông còn chơi đùa với thể loại polar (điệp viên, trinh thám..): người kể chuyện luôn luôn là một người đụng đầu với một bí mật, nhưng khi khám phá ra những dấu vết, những dấu vết này không đưa tới việc giải đáp bí mật, mà là giải đáp phần chưa biết, của chính người đó.Trong những cuốn sách của tôi, nhân vật chính trong phần lớn các trường hợp, là một kẻ đi tìm một cái gì đó, quan trọng đối với anh ta. Thí dụ, người kể chuyện ở trong &quot;La Course au mouton sauvage&quot; đi tìm con vật nằm ở trong tên truyện, còn anh chàng ở trong Tận Thế (La fin des temps) lần mò dấu vết của nhà bác học mà anh ta đã làm việc chung, còn ở trong Ký sự về chim lên dây thiều, một người đi tìm hôn thê... Tất cả trải qua những tình huống lạ lùng, kỳ cục, những cuộc phiêu lưu cũng cứ thế thay đổi, sau cùng họ tìm được những gì họ mong muốn. Nhưng thời gian, cuộc hành trình, những tình huống xẩy ra như thế đó, khiến cho vật mà họ tìm kiếm đó mất đi ý nghĩa: cái việc tới được mục đích, có được kết quả không còn ý nghĩa nữa. Câu chuyện cũng không vì vậy mà trở nên bi quan. Bởi vì ý nghĩa đích thực của câu chuyện nằm ở trong tiến trình tìm kiếm, ở chuyển động theo đuổi. Nhân vật khác đi, không còn như lúc khởi đầu câu chuyện, và đó mới là điều đáng nói.-Một kiểu dẫn dụ (initiation)?Vâng. Và những cuộc phiêu lưu mà nhân vật trải qua, cùng lúc, cũng là của tôi - như là một nhà văn. Khi viết, tôi cảm nhận điều nhân vật tôi cảm nhận, tôi trải qua cùng những trăn trở, những thử thách. Nói một cách khác, con-người-là-tôi khi viết xong cuốn sách, khác với con-người-là-tôi khi khởi sự viết. Chuyện viết (lỴ écriture) một cuốn tiểu thuyết thực là quan trọng đối với tôi; không giản dị chỉ là &quot;viết&quot;; không phải là một công việc giống như những công việc khác. Như bạn &quot;gợi ý&quot; vừa rồi, đây là một công việc mang tính dẫn dụ, mời gọi. Tôi nở phổng ra với nhân vật của tôi, cùng những trắc trở. -Ông tuyên b?, trong khi vi?t nh?ng câu chuy?n c?a ông, là ông tìm c6au chuy?n c?a chính mình, ông dào sâu b? ngoài d? t?i du?c tâm h?n sâu th?m?-Vâng, trong khi vi?t, tôi dào sâu m?t vùng d?t g?m có nhi?u t?ng. Tôi cứ thế đào, sâu hơn, sâu hơn nữa. Một số người nói, đây là một việc rất ư cá nhân (une entreprise trop individuelle). Tôi không nghĩ như vậy. Nếu tôi tới được cõi thâm sâu đó, là tôi có thể sờ vào được một tiềm-tầng (un substrate), có tính chung, nhờ nó mà tôi có thể cảm thông với những độc giả của tôi, và như vậy một mối liên hệ đã được thành lập. Nhưng nếu tôi không đi khá xa, không đào khá sâu, sẽ chẳng có gì xẩy ra.-Ở trong những cuốn sách của ông, luôn luôn xẩy ra [tình trạng] vượt bờ biên giữa tâm hồn và thể xác, sống và chết, thực tại và một chiều khác (thế giới song song, tiềm thức, v..v...). Một số loài vật, như con cừu trong La course au mouton sauvage, và Nhảy, Nhảy, Nhảy, Danse, danse, danse, hay con kỳ lân trong Tận Thế ... chúng có thể vượt biên giới. Chúng ở đâu ra vậy?Tôi xin trả lời bằng một hình ảnh. Hãy cứ coi con người như một cái nhà. Tầng chệt là tầng bạn ăn ở nấu nướng, coi ti-vi với gia đình. Tầng một, có phòng ngủ của bạn. Bạn đọc sách, ngủ ở đó. Rồi bạn có tầng hầm, một nơi chốn không lộ liễu so với những phòng khác. Bạn dùng vào việc chứa đồ đạc, hay làm mấy trò chơi. Nhưng ở tầng hầm đó, có một khoảng giấu kín, không thể vô, nếu không biết cánh cửa bí mật của nó. Và nếu nhờ một cơ may, bạn có thể mở được cánh cửa này, bước vô một khoảng không gian tối, bạn không biết trong có gì, bạn cũng không biết hình dáng ra sao, lớn hay nhỏ. Một khi bước vào một khoảng không gian tối tăm như vậy, thường là bạn hoảng, nhưng cũng có khi, bạn cảm thấy thật là thoải mái. Bạn có thể nhìn thấy rất nhiều sự vật lạ lùng, những dấu hiệu, những hình ảnh, những biểu tượng siêu hình chúng cứ thế diễn ra trước bạn, Như trong một cơn mơ. Một thứ vũ trụ vô thức. Nhưng một chốc một lát là bạn phải trở lại với thế giới thực. Thế là bạn đi ra, đóng cửa lại, và đi lên nhà. Khi tôi viết, là tôi ở trong cái căn phòng tối tăm và bí mật đó, và tôi nhìn thấy rất nhiều điều kỳ cục. Người ta nói, đó là cái biểu tượng, siêu hình, ẩn dụ, hay siêu thực. Nhưng với tôi, trong khoảng không gian như thế đó, [tôi cảm thấy] thật là tự nhiên, và những cái điều kỳ cục như thế đó giúp tôi viết ra những câu chuyện của tôi. Viết, đối với một tác giả, thì giống như là mơ mà tỉnh (rêver éveillé). Một kinh nghiệm không giống ai (hors-normes), và thật khó dùng luận lý để giải thích.-Sex hình như cũng là một cây cầu để nhập vào cái chiều, cái thế giới khác đó... Có phải vì vậy mà có những xen làm tình ở trong Bài hát của sự bất khả, Ký sự chim lên dây thiều, Những người tình của Spoutnik... ?Thì đúng như vậy đó. Sex là một chiếc chìa khóa. Những giấc mơ và sex là rất quan trọng để nhập vô chính bạn, để khai phá cái phần chưa từng được biết tới của bạn. Người ta nói, có quá nhiều xen làm tình ở trong những cuốn sách của tôi. Trong Ký sự chim lên dây thiều, bạo động tình dục tràn lan, tôi bị chỉ trích vì điều đó, nhưng tôi cho rằng thiếu những xen đoạn như vậy là không được, chúng rất cần thiết vì giúp người đọc mở cánh cửa giấu kín mà tôi nói ở trên. Tôi muốn lay động tâm trí họ, mở cho họ một phần bí mật của chính họ. Một điều gì xẩy ra giữa tôi và độc giả là như vậy đó.-Ông có gắng tra hỏi, ngay cả những gì được coi là những xác tín thông thường, những giá trị và có thể nói, luôn cả cái gọi là thực tại thường nhật?Chúng ta tin rằng chúng ta sống trong một vũ trụ thánh thiện. Tôi cố gắng làm xáo trộn quan niệm đó, cái viễn ảnh &quot;thánh&quot; đó, của thế giới. Đâu phải một lần, mà nhiều lần, chúng ta sống trong hỗn mang, trong khùng điên, trong ác mộng. Tôi muốn nhận độc giả của tôi vào trong một thế giới siêu thực, một thế giới của bạo động, xao xuyến, âu lo, hoang mang, ảo giác...-Trong cùng lúc, những gì ông viết ra mang dấu vết của &quot;mono no aware&quot;, hay &quot;nỗi buồn cháy da, cháy thịt của những sự vật&quot; (poignante mélancolie), và đây là một trong nét tuyệt, tuyệt, của thi ca truyền thống Nhật Bản...Tôi cho rằng, chúng ta sống trong một thế giới, cái thế giới &quot;này&quot; (&quot;ce&quot; monde), trong khi còn có những thế giới khác cận kề ngay bên cái thế giới &quot;này&quot; đó. Nếu bạn thực tình mong muốn, bạn có thể chui qua tường, nhập vào một vũ trụ khác. Một cách nào đó, có thể vượt cái thực, cõi thực này. Đó là điều tôi cố gắng làm, ở trong những cuốn sách của tôi. Đây là một quan niệm rất Đông phương, rất Á châu, theo như tôi hiểu được. Ở Nhật Bản, ở Trung Quốc, người ta coi như có hai thế giới song song, và có những chiếc cầu nhỏ cho phép, không khó khăn là mấy, qua lại giữa hai bên. Ở Tây Phương, làm gì có một quan niệm như vậy, thế giới-này là thế giới-này, thế giới-kia là thế giới-kia. Sự cách biệt thật là quyết liệt, thật là khắt khe, tôi muốn nói giữa &quot;này&quot; với &quot;kia&quot; đó. Bức tường quá cao, làm sao vượt, làm sao trèo qua? Nhưng trong văn hóa Á Châu, khác hẳn. Và &quot;mono no aware&quot; diễn tả, theo như tôi cảm nhận được, tình huống này. Trong Bài ca của sự bất khả, có sáu nhân vật. Ba sống sót, ba biến mất và qua thế giới bên kia - họ tự tử. Ba kẻ còn lại trong thế giới này, sau cùng biết, hiểu ra là, cũng nhấp nha nhấp nhổm (instable), vô thường, tạm bợ mà thôi. Đó là một hình thức của &quot;mono no aware&quot;. Điều lạ, là, khi tôi bắt đầu viết Bài ca của sự bất khả, tôi có ý tưởng theo đó, ba trong sáu nhân vật sẽ biến mất, nhưng không biết là ai. Trong khi viết tôi tự hỏi chính mình, ai sống, ai chết.-Ông không hề biết chuyện gì xẩy ra, trước khi viết?Không bao giờ biết trước. Tôi viết theo kiểu tự phát. Nếu biết trước kết cuộc, viết làm chi cho mệt. Tôi chỉ thèm biết chuyện gì sẽ diễn ra tiếp theo, những biến động nào sẽ xẩy ra. Có vài cuốn, biến động cứ thế mà nảy nở trên từng trang sách, và đây là loại mà tôi thích viết.- Phía nam biên giới, phía tây mặt trời: Một tiếng vọng của Bài hát của sự bất khả...?Trong hai trường hợp, tôi muốn nói về điều mà người ta cảm thấy, khi một người thân yêu mất đi, biến mất. Một con người có hy vọng, có thiện chí, thèm được yêu thương, nhưng người này tự mình đi vào con đường lầm lạc. Tôi biết rất nhiều người đáng quí, đáng trân trọng, và chỉ qua một khúc quẹo, là họ... hỏng. Tôi luôn luôn nhớ họ. Tôi luôn luôn muốn viết về họ. Đó là điều độc nhất tôi có thể làm cho họ, là: viết về họ. Cho họ. Về hy vọng bỏ đi, về thiếu vắng mục đích, không còn một bấu víu, một nương tựa. Chính tình cảm này được sử dụng như sợi dây dẫn đạo. Tình cảm là thiết yếu trong một câu chuyện. Bạn có thể viết một câu chuyện thật tốt, được sắp đặt thật khéo léo, nhưng nếu thiếu tình cảm cưu mang, nuôi nấng câu chuyện, là vứt đi.-Trận động đất tại Kobé, cuộc tấn công bằng hơi độc tại đường xe điện ngầm ở Tokyo, là nguồn cơn đưa đến &quot;tình cảm&quot; của ông: trở lại Nhật Bản?Vâng. Vào lúc viết xong Ký sự về chim lên dây thiều, tôi tính nghỉ xả hơi ít lâu. Viết nó mất ba năm, từ 1991 tới 1993, đây là cuốn sách dầy và đầy tham vọng của tôi. Chưa được một năm, hai biến cố kể trên liên tiếp xẩy ra trong thời gian chưa đầy hai tháng. Tôi bị cú sốc nặng. Tôi rời Nhật Bản từ nhiều năm trước, vì thấy nó làm tôi bực bội, phiền nhiễu, khiến tôi không có được đủ sự thanh thản, để viết. Cứ kể như tôi là một tên lưu vong, khi nhìn thấy những hình ảnh trên ở trên màn truyền hình, ở Mỹ. Thế là trong tôi nảy ra ý nghĩ, mình phải trở về, và làm &quot;một cái gì đó&quot; cho xứ sở, những độc giả, đồng bào của mình. Trở về lại quê hương, gặp gỡ, tiếp xúc, nói chuyện với những nạn nhân của vụ tấn công bằng hơi độc sarin. Chừng chục, chục người. Nghe những câu chuyện mà họ chỉ kể giữa hai cá nhân, mặt nhìn mặt, theo kiểu tâm sự giữa hai kẻ thật thân thiết, và cũng thật tin cậy. Tôi quá xúc động, không chỉ một lần mà nhiều lần, không chỉ một cách mà là nhiều cách. Đây là những con người bình thường, họ làm việc thật cực nhọc, ngày ngày xúm xít, chật cứng ở trong những toa xe điện ngầm từ nhà tới chỗ làm... Và khi nghe kể những câu chuyện của họ, tôi thật cảm động. Như vậy đó, họ thuộc vào cái xã hội mà tôi phỉ nhổ, khinh khi. Tính đồng phục, đồng dạng, người ta sao mình vậy, làm đến ói máu, làm tới chết... Tôi luôn luôn ghê tởm, chán ghét, khinh khi cái kiểu sống như thế đó. Nhưng những câu chuyện của tất cả những người này thì thật là cảm động, và tôi nghĩ rằng, chúng đã thay đổi tôi: như là một con người, và như là một nhà văn. Sau đó, tôi có ý định sẽ viết về trận động đất. Tôi gốc gác ở Kobé. Đấy là thành phố quê hương của tôi. Căn nhà của cha mẹ tôi bị tiêu hủy bởi trận động đất. Tôi không muốn viết một cuốn sách người thực việc thực (non-ficrion), mà là một tập truyện ngắn. Sau khi nghe những nạn nhân vụ hơi độc, tôi đã thu thập được biết bao là câu chuyện, biết bao là giọng nói ở trong tôi, cho nên thật dễ dàng viết Sau trận động đất, một tập truyện ngắn không nhắm thẳng vào chính tai họa, mà là những hậu quả của nó, tiếng vọng của thảm họa đó lên cuộc sống của một số nhân vật khác nhau. Viết những câu chuyện đó là một kinh nghiệm có tính nền tảng đối với tôi, có thể nói, đây là một bổn phận, và một sự cần thiết.-Khi ông ở Nhật Bản, có vẻ như ông &quot;tránh né&quot; văn hóa pop, những cuộc du lịch Âu Châu, và Mỹ. Một lần tại Hoa Kỳ ông có nói tới nhu cầu &quot;về nguồn&quot;...Đây không phải là vấn đề liên quan tới căn cước (identité) của một cá nhân, nhưng mà là một trách nhiệm, như là một tiểu thuyết gia và như một người. Như là một nhà văn, tôi cảm thấy cần phải làm một điều gì đó.-Có phải âu lo về một trách nhiệm như thế đó mà ông đã đề cập tới những tội ác và những điều ghê gớm, tởm lợm của Cuộc Đệ Nhị Chiến tại Trung Hoa trong Ký sự về chim lên dây thiều?Tôi sinh năm 1949, sau cuộc chiến. Một số người nói: &quot;Chúng tôi không có trách nhiệm về nó. Chúng tôi sinh ra sau cuộc chiến.&quot; Đây không phải là quan điểm của tôi. Bởi vì Lịch Sử là một ký ức mang tính tập thể. Chúng tôi cảm thấy trách nhiệm về thế hệ những ông bố của chúng tôi, bởi vì chúng tôi chia sẻ cái ký ức, về những gì mà những ông bố của chúng tôi đã làm. Chúng tôi trách nhiệm về những gì mà bố mình đã làm trong cuộc chiến. Chính vì lý do đó mà tôi đã viết về tất cả những điều ghê gớm tởm lợm đó. Chúng tôi phải suy nghĩ nghĩ lại về chúng, khư khư giữ chúng ở trong chúng tôi.-Và bây giờ, sống tại Nhật Bản, ông có nghĩ sẽ có ngày, lại ra đi?Trong nhiều năm tôi luôn sống ở bên ngoài Nhật Bản, tại Ý, tại Hy Lạp, và nhất là tại Hoa Kỳ, bởi vì tôi được rất nhiều đại học ở đó mời tới [nhất là Harvard và Princeton]. Nhưng nói thực, tôi chẳng cảm thấy rất ư là thoải mái với những đại học. Họ có những nhóm riêng của họ, những ngôi sao, cũng riêng của họ. Tôi không cảm thấy dễ chịu với họ. Vào lúc này, thế là, tôi bèn ở Nhật Bản. Tôi trở nên vững vàng, mạnh dạn hơn trước đây, và tôi tính giữ cho mình cái thế giới riêng của tôi, cho dù sống ở Tokyo. Tôi tạo lập một cung cách của tôi, một lối sống của tôi. Thành thử, đối với tôi, nơi sống thoải mái, dễ dàng, hóa ra lại là Tokyo, so với những nơi khác, mặc dù tôi vẫn tiếp tục đi du lịch.-Trong những cuốn sách của ông có một mô típ trở đi trở lại: những con mèo. Trong Chạy theo cừu hoang, nhân vật kể chuyện chấp nhận cuộc điều tra, với điều kiện người ta phải lo lắng cho con mèo của mình, nhân vật chính trong Ký sự chim dây thiều mất con mèo trước khi mất bà vợ, hai nhân vật chính trong Biên giới phía nam, mặt trời phía tây cùng có một tình yêu chung, với những con mèo...Như Hajime [người kể chuyện trong Mặt trời phía nam...], tôi là đứa con một [độc nhất], trong gia đình. Tôi sống một mình với cha mẹ, tôi có thế giới của riêng tôi, ở trong nhà. Ba &quot;nhân vật&quot; [éléments: phần tử] thiết yếu tạo nên cái thế giới của riêng tôi đó là âm nhạc, những cuốn sách và những con mèo. Đó là những cây cột trụ chống trời của cái thế giới của tôi. Tôi mê [adorer] chúng, và tôi tiếp tục mê chúng. Tôi luôn có một thứ tình cảm trìu mến đặc biệt dành cho những con mèo. Tôi không nuôi chúng, bởi vì bà xã và tôi luôn đi du lịch thành thử không có ai lo cho chúng. Nhưng mỗi lần ở một công viên, hay trên đường phố, tình cờ nhìn thấy một chú mèo, là tôi tới gần con vật. Chúng thì êm ả, trầm lặng, kỳ bí. Chắc là do đó mà tôi hay viết về chúng.-Tất cả những cuốn sách của ông vay mượn rất nhiều từ con người, cuộc sống riêng tư của ông: những thú thưởng ngoạn, những sở thích, những sự vật mà ông yêu mến. Có phải vì thế mà ông hay sử dụng ngôi thứ nhất, nhân vật xưng tôi?Vâng. Nhưng tôi đã thay đổi văn phong của mình. Trong những năm đầu, tôi viết tất cả những cuốn sách của tôi bằng ngôn thứ nhất, tôi còn không thể đặt tên cho những nhân vật của mình....Chuyện này kéo dài sáu năm. Rồi thì tôi... phát triển, nẩy nở ra; Trong Sau trận động đất, lần đầu tiên, không một truyện nào trong đó có nhân vật chính ở ngôi thứ nhất. Và rồi tới cuốn Kafka on the shore [Kafka ở bờ biển, bản tiếng Pháp sẽ do nhà xb Belfond phát hành vào năm 2005], tức cuốn mới nhất của tôi, cả nửa cuốn được kể bằng nhân vật ngôi thứ ba [anh ta, cô ta, nó...]. Độc giả sẽ gặp một ông già hơi mất trí... ông già có thể nói chuyện với mấy con mèo [Cười].-Ông có thể nói sơ qua vế tác phẩm này...Đây là câu chuyện một đứa trẻ mười lăm tuổi , và dúng là m?t thách đố, đối với tôi. Phần lớn những nhân vật của tôi đều ở quãng tuổi từ hai chục tới ba chục. Tôi nghĩ, bây giờ sao? Chẳng lẽ cứ thế mãi? Năm chục hay tuổi thiếu niên, vừa mới lớn? Tôi chọn khả năng sau. Thật tuyệt vời khi viết về một cậu nhỏ. Tôi có thể trở lại với những ngày mà chính tôi là một đứa trẻ mười lăm tuổi. Tôi có một kỷ niệm thật sống động, thật tươi mát về cậu nhỏ là tôi đó, và tôi có thể nhìn thế giới qua cặp mắt của một thiếu niên. Đây chính là phép lạ tuyệt vời: là một nhà văn. Nếu bạn thực sự muốn là &quot;một ai đó&quot;, thế là bạn trở thành &quot;người ấy&quot;! Tuyệt vời hơn nữa là, nếu tôi thực sự sống kinh nghiệm là một đứa trẻ mười lăm tuổi, độc giả của tôi cũng thực sự sống nó, chia sẻ nó với tôi. Đây là món quà đẹp nhất mà một cuốn tiểu thuyết, hoặc một truyện ngắn đem tới cho bạn. Chính điều này giúp tôi sống. Cuộc sống của chúng thực là lẻ loi, cách biệt, nhưng với những cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn, chúng ta không cô độc nữa. Chúng ta có thể giao cảm với nhau, từ trái tim tới trái tim, từ tinh thần tới tinh thần. Không phải luôn luôn, nhưng chuyện như thế có thể xẩy ra, và đây là một quyền năng số một, độc nhất vô nhị [unique].-Điều ông vừa nói làm nhớ tới Những người tình Spoutnik, khi một trong những nhân vật giải thích, rằng &quot;spoutnik&quot; có nghĩa là &quot;bạn đường&quot; (companon de voyage), Le Spoutnik bị kết án phải quay vòng quanh trái đất và không bao giờ được tới gần...Con người luôn cận kề bên nhau, vậy mà vẫn luôn luôn có khoảng cách giữa họ, cho dù chúng ta có thể hiểu nhau. Gặp gỡ nhau làm chi, rồi xa nhau tức thì, rồi làm sao quên được lần gặp gỡ đó, những kỷ niệm quí báu về nó. Như hai cái spoutnik đi theo quĩ đạo của chúng ở trong không gian. Chúng ta thoáng thấy nhau, gặp gặp nhau, rồi chia tay, với kỷ niệm cùng chia sẻ, nó làm cho chúng ta ấm áp, tin tưởng thêm lên. Đó là điều đáng kể. Những câu chuyện hay, những cuốn sách tốt, chúng có đó là vì như vậy. Sau cuốn Kafka trên bờ biển, tôi mở một trang web trên internet, và nhận được 6.000 emails, tôi đọc hết tất cả, và tôi gửi trả 1000. Tôi làm việc mọi ngày để trả lời. Thật là hấp dẫn, và mệt, tất nhiên, nhưng cũng thật quan trọng, bởi vì tôi muốn trao đổi ý kiến trực tiếp với những độc giả của mình. Và cũng thật là kỳ (fanfastique). Tôi có thể có một ý nghĩ về họ, họ là những ai, họ nghĩ gì. Tôi không đọc những nhà phê bình, tôi không tin tưởng họ, nhưng tôi tin tưởng những độc giả của tôi. Kafka trên bờ biển bán được 300 ngàn ấn bản, nhưng ở Nhật Bản, con số không có nghĩa gì cả. Điều đáng nói, là biết được có cái gì ở đằng sau những con số như thế. Trang web đó thật là quan trọng, thiết yếu đối với tôi. Tôi như được độc giả nâng đỡ. Một số người chỉ trích sách của tôi, họ nói chúng làm họ thất vọng, nhưng quan trọng chi chuyện đó. Tôi biết, làm sao làm hài lòng tất cả mọi người, nhưng điều tuyệt vời, là bạn có thể với tay tới tất cả, sờ được tay họ. Internet quả là một phương tiện thông tin đại chúng (media) lý tưởng cho tôi. Đúng là một thứ dân chủ trực tiếp, như vào thời kỳ Hy Lạp cổ đại. Người ta có thể nói chuyện trực tiếp, mặt nhìn mặt, ngay lập tức, và chẳng khó khăn gì hết. Ngay cả cái đó cũng đòi hỏi thì giờ, đến nỗi sau cùng, tôi phải đóng trang web.-Những người tình của spoutnik có vẻ như là cuộc gặp gỡ của hai ảnh huởng chính ở trong ông, chuyện tình và chiều kỳ quái (la dimension fantastique)?Tôi đã không suy nghĩ theo những từ như thế. Tôi muốn viết một tam giác tình bằng cách thay đổi (détourner) cái khung cổ điển, nói rõ ra là cái tam giác tình ở trong cuốn sách của tôi gồm có một liên hệ đồng tính nữ (relation lesbienne). Người kể chuyện là điểm yếu của chuyện. Anh ta kể câu chuyện của hai người đàn bà, và hài lòng nhìn chuyện xẩy ra như thế đó. Tôi chẳng biết gì về những người đồng tính nữ, mà chỉ dùng trí tưởng tượng của mình. Tôi có cảm tưởng, rằng mình biết chuyện gì xẩy ra giữa hai người đàn bà. &quot;Những người tình spoutnik kể về những mối tình chết yểu, bị kết án ngay từ khởi đầu. Đây là câu chuyện mà tôi thích nhất, tôi cũng chẳng hiểu tại sao..-Và bây giờ, ông đang làm về một cái gì thế?Chẳng làm về một cái gì. Tôi làm chuyện ngưng, nghỉ. Hôm qua, tôi gặp Kazuo Ishiguro [nhà văn gốc Nhật, ở Anh, viết văn bằng tiếng Anh, được giải thưởng The Booker với cuốn Tàn Ngày, The remains of the day]. Ông ta bảo tôi, ông ta mất ba năm mới viết xong một cuốn sách, và sau đó dành ra một năm để làm những &quot;tua&quot; (tours) trình diễn, giới thiệu sách, gặp gỡ báo chí, đi ra nước ngoài - đây là cái điều mà tuần này tôi làm. Mùa thu này, tôi ngồi vào bàn. Viết đòi hỏi rất nhiều sức lực và nghị lực. Để làm việc, tôi dậy vào lúc bốn giờ sáng, và viết tới chín giờ. Tôi tập trung hết mực vào việc làm, và hoàn toàn kiệt lực sau năm giờ đồng hồ. Thời gian còn lại, tôi chơi thể thao hết mình, bơi lội, chạy... Đây là nhịp thường ngày, một kỷ luật mà tôi nghiêm khắc đặt ra cho chính mình. Để viết, người ta nghĩ ra những luật lệ cho chính mình, và phải tôn trọng chúng. Cuối cuốn sách, tôi trống trơn, cạn láng, chẳng còn gì hết.-Liền sau đây, ông đi Luân Đôn, gặp gỡ báo chí?Vâng, mệt thật đấy, nhưng một cách nào đó... Tôi vốn không ưa những cuộc phỏng vấn, tôi cảm thấy khớp, không thoải mái, Nghề của tôi là viết, không nói. Đôi khi thật không dễ, cái chuyện giải thích những tình cảm của mình, viết như thế nào, muốn viết cái gì, tại sao làm, cái chuyện viết đó. Bằng trực giác, tôi biết, nhưng bảo giải thích, hoặc khi tìm cách giải thích, thế là tôi nói ẩu, nghĩa là nói những điều mà người ta không thể nói.Jennifer Tran chuyển ngữ4. Akhmatova, và...Khi chẳng cần chi,Tôi bước đi như một đứa trẻ,Dựa vào bóng, như một người bạn,mà tôi khao khát.Gió thổi từ lùm cây, mỗi lúc một mạnh,Và bàn chân tôi mấp mé mộ phần...When nothing is needed, I walk like a child,My shadow serves as a friend I crave.The wind breezes out of a grove gone wild,And my foot is on the edge of the grave.1964Anna Akhmatova, Poems.[Lyn Coffin tuyển và dịch qua tiếng Anh.Joseph Brodsky giới thiệu,nhà xb W.W. NORTON, NY]Ở đâu có bi kịch, ở đó có thi sĩ....Tin tôi đi, không phải rắn cắn,Nhưng mà là hồn vọng này,Đã hút máu trong tôi.Trong cánh đồng trắng kia, tôi trở thành cô gái trầm lặng,Với giọng của một con chim, tôi than khóc tình tôi.[Believe me, not the serpent&#39;s sharp sting,But longing has drunk my blood.In the white fields I became quiet girl,With the voice of a bird I cry out for love]Akhmatova... But in the world there is no power more threatening and terribleThan the prophetic word of the poet.[... Nhưng trên đời, tiếng thơ tiên tri của nhà thơ mới đáng sợ, mới khủng khiếp cỡ nào.]AkhmatovaKhi biết cô gái rượu của mình tính in thơ trên một tờ báo ở St. Petersburg [ở Hà Nội], ông bố bèn bảo, rằng bố cũng không cấm cản một việc làm như vậy - làm thơ, và rồi in thơ - nhưng theo bố, đừng đem xấu xa đến cho dòng họ nhà mình, con nên tìm một bút hiệu.Và thế là &quot;Anna Akhamatova&quot; đi vào văn học Nga, thay vì &quot;Anna Gorenko&quot;.Chuyện chọn một bút hiệu như thế, thì cũng chẳng có chi là chắc chắn, nếu nói về chọn cho mình một nghề - nghề làm thơ - hay về chuyện cái thông minh, thiên phú, thiên tài trời cho bây giờ mới nở ra; nó cũng chẳng xác nhận, rằng, chỉ du di một tí, về căn cước, tên gọi của mình, là có ngay một nhà văn, nhà thơ. Đây chỉ là giữ sao cho được cái vẻ bên ngoài &quot; Gorenko là một trong những cái tên như thế đó: một thế gia vọng tộc. Và cái nghề viết văn làm thơ vốn chỉ được thiên hạ nhìn, với chút dè bỉu: ôi dào, cái cô Anna Gorenko ấy, tưởng làm vương làm tướng gì, tại làm sao đổ đốn ra như vậy: viết văn, làm thơ? Chẳng lẽ không có cách nào tốt hơn để chọn cho mình một cái tên? Kẹt quá thì kiếm một thằng bác sĩ, kỹ sư, đàn bà làm quan tắt là chuyện thường, mà!Tuy nhiên, đòi hỏi của ông bố như vẫn có một cái gì hơi bị quá đáng. Nói cho cùng, Gorenko đâu thuộc dòng dõi những ông hoàng. Nhưng, gia đình Gorenko sống ở Tzarskoe Selo - Tzar&#39;s Village - nơi nghỉ mát của hoàng tộc, và một địa linh như thế làm sao mà không nẩy ra nhân kiệt, làm sao mà không ảnh hưởng tới những đấng con trai trong gia đình? Tuy nhiên, với cô gái mười bẩy tuổi của ông, trong một khu vuờn tại nơi chốn phải nói là tuyệt vời vô cùng này, một thế kỷ trước đây, đóa hoa thiên tài Puskin đã &quot;nở ra một cách thật là cẩu thả&quot; (carelessly blossomed). [Điều này quả là có một ý nghĩa đáng kể, đối với riêng cô, nếu không, cô đâu dám liều mình... làm thơ, và bây giờ... in thơ, mà lại đặt tên tập thơ của mình là.... Nằm Nghiêng?]Nhưng, [từ Khắc Hiếu đến Tản Đà, từ Đứa Bé Lưu Lạc (Lạc Nhi) tới Cuốn Sách Huyền, có những nhà văn nhà thơ không chỉ bịa đặt những bút hiệu, những nhân vật có những cái tên mà chỉ mình mới biết hết những bí mật, những âm hưởng khi nghe đọc lên... mà còn bịa đặt luôn cả những ông tổ ông cố chẳng hề có, cho dòng họ nhà mình...], chỉ nội bút hiệu, Akhmatova, tự nó đã có vẻ, nếu không nói huyền thư, huyền hoặc, huyền thoại, thì cũng liên quan, về phía bên ngoại, tới những ông hoàng Đông Phương, những &quot;tất liệt:&quot; (khan), và người ta phải mò tới &quot;the last khan of Golden Horde&quot;: tới Achmat-khan, một hậu duệ của Chengiz-khan. (1)&quot;Mình là một Chengizite&quot;, Akhmatova nói, chẳng thèm giấu diếm, ít nhiều kiêu ngạo, ở trong đó...[&quot;Mình là dòng Núi Tản Sông Đà nhà thơ nữ của chúng ta nói, chẳng thèm giấu... Liệu có phải nhắc tới nàng công chúa, con vua Hùng thứ mười tám, để làm rõ ra cái nét kiêu ngạo, nhưng đâu phải riêng nữ sĩ, mà cả nước đã từng hãnh diện vì nguồn gốc Con Rồng Cháu Tiên của &quot;chúng mình&quot; rồi...]Và với một cái tai Nga -xô [một cái tai Xứ Đoài Mây Trắng], &quot;Akhamatova&quot; rõ ràng là nghe ra cái giọng Đông Phương Huyền Hoặc - Tartar to be precise, Brodsky - [với nữ thi sĩ của chúng ta, thì lại là Tây Phương huyền hoặc, Tây Phương ở đây là tên một ngôi chùa ở Xứ Đoài]....[Với một người cùng quê hương xứ Đoài, cô khiêm tốn, thành thực hơn, và cũng cởi mở hơn, nói: Mình dân Kẻ Nủa]....Tác giả Nằm Nghiêng đã từng thở than, tôi chẳng hề muốn lưu vong trên đất mẹ...Còn với Akhamota, việc chọn cho mình một cái tên như thế, hóa ra là có tính tiên tri, Brodsky viết như vậy. Chưa kể điều này: Bàn tay em &quot;năm&quot; ngón, Ru mãi ngàn &quot;năm&quot;: &quot;năm&quot; chữ &quot;a&quot; mở ra tên thi sĩ [Anna Akhmatova] hớp hồn người nghe [Brodsky viết: có một hiệu quả thôi miên], và đẩy cái tên này lên trên đầu của cái bảng mẫu tự thi ca Nga. Theo một nghĩa nào đó, đây là một khởi đầu thành công, cho một nghiệp thơ, của một thi sĩ.Làm sao bạn có thể quên nổi một cái tên như thế, hay một cuốn sách huyền hoặc, một ngọn đỉnh trời, một ngọn sông Đà, với câu thơ, bài hát:Chiều nay sương khói lên khơi,Thùy dương rũ bến tơi bờiLàn mây hồng pha dáng trờiSóng Đà Giang thuyền qua xứ người...Chiều nay trên bến muôn phương,Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường...Thơ Huyền Kiêu, Phạm Duy phổ nhạc. Tôi có một kỷ niệm tuyệt vời với bài Thuyền Viễn Xứ này. Ở trong trại cải tạo.[Cho phép người viết lạc đề một chút, ở đây, nhân nói chuyện bút hiệu. Cái tên Thanh Tâm Tuyền, là từ Tâm, và Thanh Tuyền. Theo như người viết được biết, qua bà cụ thân sinh ra thi sĩ, khi cô Thanh Thuyền này lên xe hoa, thi sĩ &#39;đau quá&#39;, &quot;quằn quại suốt đêm, gãi sồn sột&quot;... bà cụ thương tình, khuyên, ôi dào, thiếu gì, con... còn cả lố.. ở ngoài đời đấy!....]Anna Akhmatova thuộc về những nhà thơ không cần phả hệ, mà cũng không cần một sự &quot;phát triển&quot; rõ rệt. Bà là một thứ thi sĩ giản dị có đó [She is the kind of poet that simply &#39;happens&#39;]. Được trang bị chẳng thiếu một thứ chi, bà mang thơ tới giữa đời: Đây này, thơ mình như thế này này:... [with an already established diction and his/her own unique sensibility. Brodsky].Và bà chẳng hề giống ai.Còn điều này nữa: Trong bao nhiêu kẻ bắt chước bà, chẳng hề có kẻ nào có một tí Akhamatova ở trong những dòng thơ &#39;mô phỏng&#39; của họ đó, và tiếu lâm thay, họ lại cứ hao hao giống nhau, nghĩa là hao hao dở ẹch như nhau![Hình như trước đây, chưa hề có ai dám đặt tên cho tập thơ của mình, lúc đầu là &quot;Giấc Mơ Của Lưỡi&quot;, sau đổi là &quot;Nằm Nghiêng&quot;].(1): Golden Horde: Từ tiếng Nga Zolotaya Orda, dùng để chỉ Ulus Juchi, phần đất phía tây của Đế Quốc Mông Cổ, nổi lên từ giữa thế kỷ 13 tới 14. Đã từng chinh phục Nga xô. Vào thế kỷ 14, đế quốc Golden Horde đã coi Hồi giáo như là tông giáo chính thức của nó, vì vậy mà Nga xô đã chịu ảnh hưởng của cả hai, Hồi giáo và văn hóa Á Châu. [Theo bách khoa Britannica và Columbia]Lưu vong trên đất mẹ... She [Akhmatova] không ruồng bỏ Cách Mạng. Một dáng đứng thách đố, khinh khi cũng không. &quot;Tôi không hiểu những từ đao to búa lớn&quot;, bà nói. Một thi sĩ, sinh ra là dân chủ, không phải chỉ nhờ tính may rủi do vị trí của nhà thơ mà có được, nhưng bởi vì &#39;đâu cần nhà thơ có&#39; [he caters to the intire nation], và nhà thơ sử dụng ngôn ngữ của cái xứ sở cần tới nhà thơ [its nation]. Ở đâu có bi kịch, ở đó có thi sĩ. Brodsky viết: Akhamotova, thơ của bà luôn luôn quyện vào với tiếng bản địa, thổ ngữ, với tục ngữ, ca dao, chính vì vậy mà bà có thể đồng nhất với mọi người, dễ dàng hơn, so với những thi sĩ khác chỉ &quot;lo làm thơ&quot;, hoặc nhắm những yêu cầu khác: Bà nhận ra nỗi đau [của cái quốc gia mà bà sử dụng ngôn ngữ của nó]:CINQUEĐúng như vậy, tôi luôn luôn thù ghét nóKhi mọi người thương hại tôi.Nhưng nếu bạn cảm thấy thương hại, mủi lòng: Hãy nói ra đi -Mặt trời mới, trong thân thể tôi.Chính vì vậy mà bình minh ở khắp nơi.Tôi có thể tạo phép lạ, ở đây hoặc ở đó,Đó là lý do tại sao!1945-1946Akhmatova[Cinque: Năm, như trong lá bài số năm, hoặc năm điểm của con xúc xắc].*****Volkov: Thật mong manh, cái gọi là ký ức của con người.... Tôi muốn, nhân dịp này, khêu gợi chút mong manh, trước khi chìm vào quên lãng: Chút ký ức của ông về Akhmatova...Brodsky: Rất hân hạnh. Và thích thú. Đó là một phần đời của tôi, và nói về đời mình, thì đúng là chơi cái trò của một con mèo, muốn tóm được, chính cái đuôi của nó. Khó vô cùng, khó không thể chịu nổi. Nhưng cứ nói, như thế này: Mỗi lần gặp Akhmatova là một kinh nghiệm đặc biệt đối với tôi: Một khi mà bạn cảm thấy, về mặt thể chất, mình kém xa, so với người đó. Người đó hơn hẳn bạn. Chỉ nội giọng nói của người đó, là đã thay đổi, chuyển hóa bạn.Và Akhmatova chuyển hóa bạn thành Homo sapiens, chỉ bằng giọng nói, hoặc lúc lắc cái đầu của bà... Có lẽ bởi vì tôi còn trẻ, khi đó...[Có lẽ bởi vì tôi đã già, khi đó. Khi trở lại Hà Nội]Jennifer TranThuyền Viễn XứChiều nay sương khói lên khơiThùy dương rũ bến tơi bờiLàn mây hồng pha dáng trờiSóng Đà giang thuyền qua xứ ngườiThuyền ơi viễn xứ xa xưaMột lần qua rạt bến lau thưaHò ơi, giọng hát thiên thuSuối nguồn xa vắng chiều mưa ngàn vềNhìn đường về cố lý, cố lý xa xôiĐời nhịp sầu lỡ bước, bước hoang mang rồiQuay lại hướng làng, Đà giang, lệ ướt nồngMẹ già ngồi im bóng mái tuyết suơngMong con bạc lòngChiều nay gửi tới quê xưaBiết là bao thương nhớ cho vừaTrời cao chìm rơi xuống đờiBiết là bao sầu trên xứ ngườiMịt mờ sương khói lên hươngLũ thùy dương rũ bóng ven sôngChiều nay trên bến muôn phươngCó thuyền viễn xứ nhổ neo lên đườngThơ Huyền KiêuPhạm Duy phổ nhạcBiết là bao thương nhớ cho vừa..Biết là bao sầu trên xứ người...JT5. Felix Culpa: Đọc Nắng Hồng Phương NamTiểu thuyết của Nguyễn Chí Kham
NQT: Trước tiên, người viết cần xác định, đây không phải là một bài điểm sách, theo đúng nghĩa của nó. Chỉ là tản mạn xung quanh một vụ nắng, và một vụ mùa. Về những điều bật ra, khi đọc, có khi chẳng liên quan gì tới cuốn sách.Sau đây là một vài gợi ý.- NHPN viết về một thời kỳ sau 1975. Nhân vật chính từ giã cuộc đời thường để vào cuộc đời tù. Độc giả, từ những dòng tóm tắt như thế, tự nhiên là sẽ có ý nghĩ, chắc là &quot;căng&quot; lắm đấy. Nhưng không phải như vậy. Cuộc giã từ, đổi đời thường lấy đời tù diễn ra rất ư là &quot;êm ả&quot;, trong khi thực tế không phải như vậy. Ngay cả khi cho rằng, bởi vì đây chỉ là một cuộc du ngoạn diễn ra chừng 10 ngày, theo như thông báo của nhà nước mới, nó cũng không thể êm ả như vậy. Tại sao tác giả lại chọn một cách viết như thế?- Cách viết giả tưởng, và lịch sử vốn đi kèm với nó, đặc biệt, lịch sử Lò Thiêu, Trại Tù của một số tác giả như Kertesz, Sebald... liệu có thể áp dụng để giải thích NHPN?- NHPN: Chỉ là Trăng Ơi Thơ Ấu Mãi, tập truyện đầu tay của NCK, nối dài, trải rộng ra?- NHPN: một great design? Một cách nhìn khác về Trại Tù? Và như một geat design, cho dù thất bại, vẫn đáng một ngọn đèn cầy (Brodsky viết về Akhmatova)?- Trừ những bài ca phản chiến theo đúng nghĩa của nó, và bây giờ trở thành &quot;void&quot;, những bản nhạc tình ca của TCS cứ sống hoài, tuy được viết ra từ những ngày phản chiến đó. Liệu NHPN là một lập lại kinh nghiệm trên?Từ những gợi ý trên, đưa đến nhận định chìa khóa, về cuộc chiến VN, nhìn từ phương nam: một cuộc chiến không thể có anh hùng miền nam?***Ông viết, &quot;Một cuốn sách phải quậy nát bấy, những vết thương... Một cuốn sách phải là một hiểm nguy. Những cuốn sách của ông, chúng nguy hiểm theo nghĩa nào?&quot;&quot;Thì đúng như vậy. Hãy nghe này:... khi cuốn Précis của tôi ra lò, một tay phê bình của tờ Thế Giới (Le Monde) gởi cho tôi một lá thư, với lời trách móc: &#39;Ông không nghĩ đến hậu quả, nếu cuốn sách lọt vào tay mấy người trẻ tuổi?&#39;. Thật là phi lý! Sách phục vụ lớp trẻ? Phục vụ như thế nào? Dạy dỗ chúng? Giúp chúng học? Nếu như vậy, chúng chỉ cần tới trường, tới lớp.&quot;&quot;Không, tôi cho rằng cuốn sách đúng là một vết thương. Nó phải thay đổi cuộc đời của người đọc, cách này hoặc cách khác.... Một bà viết về tôi, mới đây (1), trên tờ Le Quotidien de Paris: &#39;Cioran viết điều mà người ta phải nói thầm, khi nhắc lại&#39;. Tôi không viết, theo nghĩa &#39;làm ra một cuốn sách&#39;, để cho người ta đọc. Không, tôi viết để hất đi một gánh nặng cho tôi. Nhưng rồi sau đó, khi nghĩ về &#39;nhiệm vụ của những cuốn sách của tôi&#39; (la fonction de mes livres), tôi nói với mình, chúng phải như một vết thương. Một cuốn sách, mà người đọc &#39;vũ như cẩn&#39; sau khi đọc nó, là một cuốn sách vứt đi.&quot;CioranKafka cũng từng nói như vậy: Ông viết cho bạn là Oskar Pollak, vào năm 1904: &quot;Tôi nghĩ chúng ta chỉ nên đoc những cuốn sách ngoạm, hoặc đâm chúng ta. Nếu cuốn sách mà chúng ta đọc không lay động chúng ta tỉnh hẳn người, giống như bị ai đó giáng một cú vào sọ, thì ích chi đâu mà đọc nó? Sách làm cho chúng ta hạnh phúc? Cám ơn Trời, chúng ta hạnh phúc biết bao nếu chẳng sách gì hết. Những cuốn sách làm chúng ta hạnh phúc, chúng ta có thể tự viết lấy. Sách mà chúng ta cần, chúng đập chúng ta giống như gặp một chuyện bất hạnh đau đớn nhất, như cái chết của một người thật thân thiết mà chúng ta yêu hơn cả yêu chúng ta, nó làm chúng ta cảm thấy như bị tống xuất tới một nơi rừng rậm, hẻo lánh, xa hẳn con người, giống như tự tử. Cuốn sách phải giống như cái rìu phá cái biển đóng băng ở bên trong chúng ta. Tôi tin như vậy.&quot;(Alberto Manguel trích dẫn, trong cuốn A History of Reading, nhà xb Alfred A. Knopf Canada, 1996)**********Người viết quen Nguyễn Chí Kham từ những ngày ở Quán Chùa. Khi còn tờ Nghệ Thuật, và Sài Gòn còn tương đối thanh bình. Thập niên 1960. Đọc bài văn đầu tiên của anh, trong mục Những Người Viết Mới, trên Nghệ Thuật do Viên Linh làm tổng thư ký.Ngồi Quán Chùa, anh cho biết, đó không phải là bản văn đầu tay. Anh đã từng viết trước đó. Đã có nhiều truyện ngắn đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Năm. Đã lãnh tiền nhuận bút nhiều lần. Những truyện ngắn đó, tuy không tệ, vì được chọn đăng, nhưng anh muốn, một cách viết khác. Đoản văn trong mục Những Người Viết Mới là thử nghiệm đầu tiên, cho một thứ văn học, khác. Tôi nói, tôi thường đọc Tiểu Thuyết Thứ Năm, và biết những truyện ngắn ở đó như thế nào. Và một khởi đầu như vậy, dù muốn hay không muốn, nó cũng bám chặt lấy anh. Đọc Nắng Hồng Phương Nam là thấy ngay điều đó. Câu chuyện có thể dài hơn nữa, dầy hơn nữa. Nhưng không phải như vậy. Tôi nhớ, Faulkner đã từng nói, trong một truyện ngắn, cái lấy ra khỏi quan trọng hơn là cái giữ lại. [ Barthes: Sự đánh giá của chúng ta chỉ trông cậy vào thực tập, và thực tập này là của việc viết. Một bên, là cái có thể viết, và một bên là cái không còn có thể viết: Cái gì nằm trong thực tập viết, cái gì đã bị bỏ đi, đã rời khỏi nó. Bản văn nào tôi bằng lòng viết (lại viết), mong viết, thèm viết....?: Our evaluation can be linked to a pratice, and this pratice is that of writing... (S/Z, trang 4, bản tiếng Anh của nhà xb Hill and Wang, New York]. Tôi nghĩ, định luật này phải áp dụng cho cả truyện dài. Khởi đầu dễ dãi quá làm hỏng những trang viết tiếp theo. Theo nghĩa này, người ta cho rằng câu mở đầu là rất quan trọng. Bạn cứ viết được câu mở, là có thể kéo dài nó. Cũng vẫn theo nghĩa này, Walter Benjamin cho rằng những mẩu đoạn mà một nhà văn lớn hì hục với chúng, nặng ký hơn so với những tác phẩm đã hoàn tất. Trường hợp này đã từng xẩy ra trong văn học. Trên tờ Người Nữu Ước, đã lâu lắm, nhắc tới một nhà văn Mỹ rất nổi tiếng, thuộc loại best-sellers, tôi không còn nhớ tên (tác giả một cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt với nhan đề Người Lữ Hành Kỳ Dị), ông này đúng ra có thể viết những tác phẩm &quot;vượt thời gian&quot;, nhưng lại bằng lòng làm một tác giả best-seller. Tờ báo kết luận, ông ta đã &quot;bán rẻ&quot; tài năng của mình.Trong NHPN có những câu văn thuộc loại bán rẻ, bên cạnh những câu văn thuộc loại bán đắt. Thí dụ như, ngay ở đoạn đầu...Câu mở đầu là rất quan trọng, Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, tôi đã từng trải qua một kinh nghiệm như thế. Chấp nhận thành công dễ dãi kéo theo những tác phẩm dễ dãi. Có thể có người nghĩ khác, nhưng với tôi, đây là một &quot; kỷ luật&quot;, đối với ai đó tính lựa chọn cuộc đời &quot;trăm năm rách nát với văn chương&quot;. (Nguyễn Du). Beckett còn khó hơn nữa: Hãy thua. Thua nữa. Thua cho bảnh.*****Theo tác giả một cuốn sách viết về Chekhov, William Faulkner đã lấy Chekhov làm thí dụ, &#39;Trong một truyện ngắn, bạn càng nói nhanh, càng giản tiện về một điều, một chuyện, và nếu được, thì đây là thứ số một, như Chekhov, khi ông sử dụng mỗi lần hai hay ba ngàn từ. Nếu không được thứ số một, ông phải dùng tới tám chục ngàn từ&#39;. Về truyện dài, ông nói, &quot;Trong một cuốn tiểu thuyết, bạn có thể cẩu thả, nhưng trong truyện ngắn, không thể cẩu thả. Tôi nói tới những truyện ngắn của Chekhov. Chính vì vậy mà tôi coi tiểu thuyết là thứ hạng nhì.... trong truyện ngắn bạn phải hết sức chính xác.&quot;Chekhov vốn không viết được truyện dài, và để giải thích cho sự không thể viết: &quot;Chỉ những nhà văn thuộc nòi phong nhã [issu de la noblesse] mới biết viết tiểu thuyết. Còn chúng ta, thuộc thứ tiểu-trưởng giả, tiểu thuyết vượt quá sức chúng ta.&quot;[Roger Grenier, Hãy nhìn tuyết rơi (những ấn tượng về Chekhov), nhà xb Gallimard, tủ sách Folio, 1992]***Khi người ta viết [được], thì hà cớ chi mình [còn cố mà]... viết?Tôi có đọc được ở đâu đó, trong cái cõi văn Việt, một ông nhà văn có tuổi, trong thư gửi một người bạn trẻ lăm le viết, rằng, hồi còn nhỏ, ông ta mê đọc lắm, có đồng nào, là cúng cho tiệm cho mướn truyện, đồng đó. Rồi tới một lúc, ông tự hỏi tại sao người ta viết được, mà mình lại chịu... thua, [chịu bỏ tiền ra mướn truyện]?Thế là ông viết, và trở thành nhà văn.Tôi nghĩ, ông ta dù thế nào đi chăng nữa, cũng có chút thành thực, khi nhìn lại cái thuở tập tành viết của mình. Rằng cái chuyện viết nó cũng chẳng ghê gớm gì lắm đâu. Sartre cũng đã từng khuyên y chang như vậy, khi nói: Muốn biến một câu chuyện trở thành một cuộc phiêu lưu, thì cứ việc ngồi vào bàn, và viết.Giống như một anh chàng lần đầu mê gái, ẩn tàng trong công việc ngồi vào bàn, và viết, là một chân lý của văn chương, khi dám liều mình làm quen với... mớ chữ!Nhưng giả sử có người hỏi tiếp: Nếu người ta viết được mà tôi cứ cố tình chịu... thua, vưỡn cố tình không chịu... viết, thì sao?Nói rõ hơn, cái việc tớ ngồi vào bàn và viết đó, nó không liên quan gì đến người khác. Người khác viết được hay không, tớ đếch cần. Điều [tớ] cần, là [tớ] viết!Hoặc nói bảnh hơn, riết róng hơn: Chỉ khi nào tớ thấy rằng, người khác viết không được, nên tớ mới đành phải... viết:Vả chăng, những kẻ thật biết viết văn ở đời, ban đầu nào có ý định viết văn? (Lý Trác Ngô. Tựa Tây Sương Ký)Người khác viết được, tớ chỉ cần đọc, chẳng cần viết làm gì cho nó mệt... c[ử] [ả] mình!Đây là ý nghĩa câu của Barthes: Khi nhà văn xuất hiện, là mở trong hắn ta/ chị ta, một vụ án văn chương. Và cái gọi là văn chương tiền phong, trước hết, và trên hết, là một yêu cầu tự thân, và chỉ chỉ liên can tới, chỉ một nguời. Thí dụ như Nguyễn Du, chẳng hạn. Khi Truyện Kiều xuất hiện, người ta biết được một điều: văn chương chỉ có mỗi một nhiệm vụ, là ca tụng cái đẹp, thí dụ như thân thể một người đàn bà, nhất là khi người đó đang... tắm:&quot;Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,&quot;Sờ sờ trước mắt một tòa thiên nhiên!&quot;Coetzee lại giải thích khác, khi đi tìm ngưyên nhân của cái việc viết dở như hạch ở một số tác giả...Bởi vì, cũng chính Sartre, đã để cho nhân vật của mình, là anh chàng Roquentin,Trong khi mơ màng nghe một nàng Kiều đen hát, qua dĩa nhạc Jazz, tại xen cuối ở Điểm Hẹn (Rendez-vous des Cheminots) trong Buồn Nôn:Some of these days, You&#39;ll miss me honey.&quot;[Một ngày nào em sẽ nhớ anh...]Và mơ tưởng viết về một cuộc &quot;phiêu lưu&quot;: &quot;Nó phải đẹp và cứng như thép&quot;....[Il faudrait qu&#39;elle soit belle et dure comme de l&#39;acier][Phiêu Lưu_Viết_ Dục Vọng Cương Cứng Mong Được Trường Tồn_Le Dur Désir De Durer_ Belle et Dure Comme De L&#39;Acier]Buồn Nôn thoạt đầu có tên Buồn Phiền: La Mélancolie. Cái tít này, Sartre mượn của Durer, một họa sĩ Đức (được nhắc tới trong Les Mots).Thân Phận Tình Yêu của Bảo Ninh, sau đổi là Nỗi Buồn Chiến Tranh.Liệu Nắng Hồng Phương Nam, một cái tên vô thưởng vô phạt, huề vốn như thế, là nhằm trung tính hóa (neutraliser), những cái tên như Bếp Lửa, Nỗi Buồn, Dựa Lưng Nỗi Chết, Mùa Hè Đỏ Lửa, và sau này, Đáy Địa Ngục, Đại Học Máu....?Cũng vẫn Sartre, trong bài viết về Francois Mauriac, sau in lại trong Nhận Định I (Văn Chương Là Gì?), cho rằng, &quot;Sách nói cho cùng chỉ là mớ giấy lộn, nhưng coi chừng, nó còn là một con đại bàng đang chuyển động&quot; (nguyên văn: một cái dáng lớn đang chuyển động, une grande forme en mouvement). Con đại bàng đang xỏa hết hai cánh rộng của nó đó, là: Sự Đọc. La Lecture..... &quot;Một cuốn tiểu thuyết lớn phồng ra bằng thời gian của những độc giả của nó (un roman... se gonfle, et se nourrit avec le temps de ses lecteurs).&quot;******Trong bài trả lời phỏng vấn của Thanh Tâm Tuyền (La Part d&#39; Exil; trong lời giới thiệu, Lê Hữu Khóa đã coi ông là một tác giả đáng gờm nhất, le plus redoutable, đối với giới phê bình Việt Nam, do tính sáng tạo đa dạng, do lý thuyết văn chương tổng hợp), ông viết: Sau khi được giải phóng - après ma libération, tức là sau khi ra khỏi trại tù, chứ không phải sau 1975 (người viết bài này thêm vô) - trên con đường trở về, việc đầu tiên mà tôi làm, là cúi gập mình ghi chép những bài thơ đã được ký ức lưu giữ suốt thời gian bị giam giữ... Tôi là một kẻ sống sót, nhưng tôi không muốn là nhà văn nữa, như tôi từng mong muốn. Khi ở trong trại tù, tôi đã viết trong ký ức: Viết, phải làm sao, đối với tôi, như chẳng có gì xẩy ra, chẳng có gì thay đổi. Và bây giờ, tôi tự bảo mình: Một việc như thế, khi nào tôi có thể?: Lại-viết (re-écrire)......Liệu có thể đọc NHPN: như chẳng có gì xẩy ra, chẳng có gì thay đổi?*****Ở cuối cuốn tiểu thuyết của Cees Nooteboom, In the Dutch Mountains, người kể chuyện-tiểu thuyết gia nhập vào câu chuyện gẫu, về sự thực và giả tưởng, với những cái bóng của Plato, Milan Kundera, và Hans Christian Andersen....&quot;Tại sao&quot;, nhân vật Nooteboom hỏi,&quot; tôi lại ham muốn không thể cưỡng lại được, cái việc giả tưởng hóa, nghĩa là kể ra những điều dối trá?&quot;...&quot;Đó là do bất hạnh&quot;, Andersen trả lời, &quot;Nhưng bạn bất hạnh chưa đủ, cho nên bạn chẳng làm sao mà viết ra nổi&quot;.[Coetzee, trong bài viết về Cees Nooteboom: Tiểu thuyết gia và Du lịch gia]Coetzee cho rằng, chưa từng có một tác giả nào nhận xét cay đắng như vậy, về chính những gì mà ng ười đó viết ra, và ông giải thích thêm, nỗi bất hạnh của Noteboom, là do ông ta quá thông minh, quá rắc rối nhiêu khê, quá kẻ tỉnh (urban), cho nên không thể nào trao &quot;hết&quot; trứng cho ác (dấn thân hết mình vào chuyện viết, nghĩa là ảo tưởng hóa cuộc đời), và lại còn ít nhức nhối về cái số mệnh (nghiệp) viết (cuộc đời trăm năm rách nát vì văn chương), thành thử không làm sao có thể biến nó thành số mệnh (nghiệp) của chính nó.Theo Coetzee, chẩn đoán căn bệnh văn chương ở một số nhà văn bất hạnh chưa đủ mà đã đòi viết văn, của Andersen, thật đúng với cuốn In the Dutch Mountains: Với tất cả những tài năng, những dí dỏm, những hóm hỉnh, với tất cả những tia sáng sáng tạo, những chiếu rọi vào một cái tôi, và vào cái gọi là &quot;giả tưởng của cái tôi&quot;, với tất cả cái gọi là phong nhã, yểu điệu của một văn phong, cộng tất cả lại, vẫn chưa đủ &quot;cảm&quot; (feeling), để mà viết ra nổi một cuốn tiểu thuyết, tức là một câu chuyện.*****Borges nhắc tới một lời khuyên của Khổng Tử, rằng chúng ta phải kính trọng quỉ thần, nhưng Ngài nói thêm, liền đó, rằng chúng ta phải tránh né những loài siêu nhiên đó (the surnatural beings). Kính, và né. Những huyền thoại về Đạo Giáo (Taoism) và Phật Giáo cũng không hề coi thường một lời khuyên như vậy. Theo ông, không có một xứ sở nào lại mê tín như là xứ Trung Hoa. &quot;Cuốn tiểu thuyết bề thế của họ, Hồng Lâu Mộng (The Dream of the Red Chamber), là cuốn tôi [Borges] thường trở tới trở lui. Trong đó, hằng hà sa số, là những ngỡ ngàng, kinh ngạc, [những thần tiên, những mĩ nữ, nào gương báu để soi việc gió trăng, gương soi để khuyên răn người đời, nào tam sinh hữu hạnh, nào nước để tưới sự buồn...], chúng không phải là bất khả, đâu phải là không có, mà đầy rẫy ở trong Hồng Lâu Mộng: chính là bởi vì đây là hiện thực (precisely it is realist, and marvels are not considered impossible or even unlikely). (1)(1): Trích từ bài viết &quot;P&#39;u Sung-ling,The Tiger Guest&quot;,( trong Tuyển Tập Không Giả Tưởng của Borges, Selected Non-Fictions, J.L. Borges, Eliot Weinberger biên tập, Penguin Books, trang 507)Ở trên, tôi có đưa ra đề nghị: Nắng Hồng Phương Nam, do cái tên của nó, là nhằm hóa giải những cái tên như là Đáy Địa Ngục, thí dụ vậy. Bây giờ, mượn ý của Borges như vừa dẫn, qua một cuốn tiểu thuyết thật là đồ sộ, chắc chắn là đồ sộ hơn, chỉ nói về bề dầy, so với NHPN, chúng ta có thể nhìn ra một &quot;sự thực&quot;:Nếu ĐĐN là một thái quá về địa ngục, thì NHPN cũng là một thái quá, cũng vẫn một [đáy] địa ngục đó.Một khi bạn bình thường quá, hoặc &quot;ngây thơ quá&quot;, về &quot;vẫn cùng một&quot; thực tại, như vậy là biến nó trở thành không thực, thành một thứ quỉ thần,mà quỉ thần là phải Kính,và Né.Nhắc tới Borges, và qua ông, tới Hồng Lâu Mộng, tới tác giả của nó: Tào Tuyết Cần, (1716?) - 1763 (?), giống như phần lớn các nhà văn lớn Trung Hoa trong lịch sử, viết văn là để giải tỏa nỗi niềm cô phẫn, là để ký thác những suy tư về con người và thời đại.Ông vốn sinh ra trong một gia đình đại quí tộc... Năm lần vua Khang Hi tuần du phương Nam, thì bốn lần ở lại nhà họ Tào... có thể đoán biết cuộc sống trong phủ Giang hồi đó xa hoa, vương giả thế nào.... Trong Hồng lâu Mộng, Nguyên Phi về thăm nhà có một buổi mà phải xây cất bao nhiêu đình tạ... nữa là hoàng đế tuần dự ngự đến nhà.Nhà ông chẳng những hào môn vọng tộc hiển hách như thế, mà còn có truyền thống văn chương...Nhưng cuộc sống vàng son đó của gia đình ông đã trôi qua. Lúc Tào Tuyết Cần lớn lên thì tất cả đã ở đằng sau rồi: Cha bị khép tội bị cách chức, bị tịch biên gia sản, nhà họ Tào suy sụp và ông phải về sống ở vùng ngo&#92;ại ô phía tây thành Bắc Kinh trong cảnh cả nhà rau cháo, rượu thường mua chịu.Hồng Lâu Mộng có thể xem là làn phản quang những hồi ức của Tào Tuyết Cần về cuộc sống quí tộc đã tan vỡ đó.[Trích HLM bản tiếng Việt, do nhà Văn Học ở trong nước, xuất bản]Bây giờ người viết thử mô phỏng đoạn trên, ứng vào NHPN:Tác giả vốn thuộc vào một miền đất, từ khi bắt đầu lịch sử của nó, đã thừa mứa miếng ăn cái mặc, đã bao lần họ Trịnh muốn thôn tính nhưng đành chịu thua, phải trở về lại đất bắc, rồi tới ngày 30 tháng Tư năm đó... Vào lúc tác giả bắt đầu viết NHPN thì tất cả đã ở đằng sau rồi, cả một miền đất trở thành.... một chân lý không bao giờ thay đổi, cả một cuộc chiến trở thành tủi nhục, cả những ngày tháng dài cải tạo cũng đã quá xa rồi, khi ông viết, ông ở bên Mỹ, và NHPN có thể xem là làn phản quang những hồi ức của tác giả về cuộc sống đã có một thời đẹp đẽ đó, nếu không phải của tất cả thì cũng là của riêng ông, với một số người đẹp ở trong quãng đời đó, nhất là quãng đời cải tạo ở miền bắc, chưa nói đến chuyện nhờ nó mà ông, người tù_như một nhà văn, hân hạnh gặp được Nhất Linh, và luôn cả Loan, tại Hà Nội....Bạn có thể cho rằng, người viết quá cay đắng, cay nghiệt, quá... nhưng sự thực là như thế đó: Nếu Hồng Lâu Mộng chỉ là một giấc mơ ở lầu hồng, chỉ là cuộc tình tay ba tay tư tay năm tay sáu tay bẩy, giữa Bảo Ngọc và một mớ con gái đẹp, NHPN thật sự chỉ là một cuộc tình, của một anh chàng sĩ quan đi cải tạo, với một số những người đàn bà....Vần đề còn lại, thật là nhức nhối: Tại sao HLM thì thành công mà NPHM lại... thất bại?Liệu cái thất bại của NHPN có đáng một ngọn đèn cầy, như Joseph Brodsky đã nói, về trường hợp một &quot;great design&quot;?Tôi tin là đáng!Theo nghĩa, một tác phẩm thất bại (dở) nhiều khi cho chúng ta nhiều bài học quí giá, so với một tác phẩm &quot;được&quot;, nào đó, cũng viết về cuộc chiến, đó!********Đỗ Long Vân, viết Vô Kỵ Giữa Chúng Ta, tại Sài Gòn, vào năm 1967.Cuộc chiến, &quot;ba mươi năm nội chiến từng ngày&quot;: Ở bên ngoài Sài Gòn. Xa. Xa lắmNhững ngày Mậu Thân 1968. Một năm sau đó. Chưa có. Chẳng thể nào có.Vậy mà người đọc vẫn cảm thấy, chúng, cái thực, cái chết chóc, cái hung bạo, hiện diện ở trên từng trang sách.Khi cảm thấy độc giả hơi lơ là với nó, tác giả cảnh cáo: Tại sao, tại sao...Tôi tin rằng, sau này, sử gia, tiểu thuyết gia, nhân loại gia... muốn nhìn lại những ngày Mậu Thân, không thể bỏ qua Vô Kỵ giữa chúng ta của Đỗ quân.Đâu phải tự nhiên Thánh Thán bỏ công đọc truyện trai gái ở dưới Mái Tây. Một nhà cách mạng Việt Nam (Nhượng Tống) bỏ công dịch nó.&quot;Vở &#39;Mái Tây&#39; tôi dịch hầu các bạn đây nguyên là một vở tuồng Tầu. Người viết vở tuồng ấy là Vương Thực Thủ đời Nguyên. Cũng như tất cả các nhà viết tuồng ở Đông hay Tây phương thường lấy một truyện xưa làm &#39;lam bản&#39;, họ Vương viết truyện này lấy truyện &#39;Hội Chân&#39; làm lam bản. &#39;Hội Chân&#39; nghĩa là &#39;gặp tiên&#39;.....&quot;[Nhượng Tống: Cùng Bạn Đọc. Viết trên Phong Mãn Lâu đêm 25.1.1942][Trích từ bản in của nhà xb Văn Học, Hà Nội. 1992][Bạn đọc để ý: thời gian Nhượng Tống dịch Mái Tây, là trước 1942, rõ hơn: trước Cách Mạng Mùa Thu. Đỗ Long Vân viết Vô Kỵ giữa chúng ta: trước 1968, trước biến cố Mậu Thân, mà trận địa chính của nó là Sài Gòn, &quot;hang ổ của Mỹ Ngụy&quot;, nói theo những người CS, hay nói theo Đỗ quân: &quot;Hiện tượng Kim Dung như thế nào? Nó có nghĩa gì giữa cảnh tai biến của chúng ta và tại sao lại có thể xẩy ra? Ấy là những nghi vấn mà cố gắng của bài này là tìm ra một đáp thuyết&quot;].Đâu phải tự nhiên, thay vì viết về cuộc chiến Tây Sơn, và một ông vua Gia Long người miền nam thống nhất đất nước sau đó, Nguyễn Du viết về một con điếm ở mãi bên Tầu, bán mình chuộc cha....******Làng Kế Bên: Nắng Hồng Phương Nam?Làng Kế Bên của Kafka là một câu chuyện gồm gần như chỉ một câu, mà người viết trích lại sau đây:Làng kế bên.Nội tôi thường nói: &quot;Đời vắn chi đâu. Như Nội đây, nhìn lại nó, thấy đời như co rút lại, thành thử Nội không hiểu nổi, thí dụ như chuyện này: làm sao mà một người trẻ tuổi rong ruổi sang làng kế bên mà không e ngại - bỏ qua chuyện tai nạn - một đời thọ như thế, hạnh phúc như thế, vẫn không đủ thời gian cần thiết cho một chuyến đi như vậy&quot;.Bản tiếng Anh:The next village.My grandfather used to say: &quot;Life is astoundingly short. To me, looking back over it, life seems so foreshorthened that I scarcely understand, for instance, how a young man can decide to ride over to the next village without being afraid that  not to mention accidents  even the span of a normal happy life may fall far short of time needed for such a journey&quot;.Bây giờ cứ giả sử như Làng Kế Bên là:Địa Ngục,Trại Cải Tạo,Đại Học Máu...,Miền Đã Mất [Lost Domain],Cõi Thiên Thai,Quãng đời để dành, theo nghĩa:Khi còn đang sống ở bên trong một cuộc chiến, bị nó hành hạ, nên phải bịa đặt ra một quãng đời để dành, bây giờ mới có thì giờ rảnh ranh để sống nó!Ở đây, [tôi muốn nói, ở trong Nắng Hồng Phương Nam] bạn [tôi muốn nói, tác giả, và độc giả của NHPN] sẽ gặp lại tất cả những giấc mộng lớn nhỏ, mà cuộc chiến làm cho phải bỏ dở...Cái anh chàng sĩ quan cải tạo, trong thời gian còn cuộc chiến, anh ta bị khốn quẫn về nó.... nên chẳng có thì giờ, dù chỉ để nghĩ, tới làng kế bên, có thể có thực, thí dụ như những người tình mà anh đã từng gặp, mà vì chưa có dịp sống, nên nhét tất cả vào trong đó....có thể do anh bịa đặt...Rồi chiến tranh kết thúc. Dù muốn, người ta cũng chẳng cho anh có thì giờ lo cho vợ con, gia đình.... Anh phải đi cải tạo, và anh dành cái quãng đời không còn có thể lo cho gia đình đó, mơ tưởng về một cõi thiên thai, về một làng kế bên....****Nắng Hồng Phương Nam: Một thứ &quot;Lam Bản&quot; tìm thấy lại, theo nghĩa của Milton:Paradise Lost: Time Regained. Thiên Đàng Mất Đi là Thời Gian Tìm Thấy LạiTime Regained: Paradise Lost. Thời Gian Tìm Thấy Lại là Thiên Đàng Mất Đi.Vấn đề là: Thời gian tìm thấy lại, là thời gian nào?Thời gian trước, hay sau,Trại Tù?****Nắng Hồng Phương Nam: &quot;Felix Culpa&quot;: &quot;Happy Fault&quot;, &quot; Happy Guilt&quot;: &quot;Tề Ngụy Hạnh Phúc&quot;?O felix culpa, quae talem ac tantum meruit habere RedemptoremMissalO happy fault, which has deserved to have such and so mighty a Redeemer.Trích theo tự điển những trích dẫn, The Oxford Dictionary of Quotations.Norman Manea [cho rằng câu này có thể là của St. Augustine, nhưng như từ điển trích dẫn Oxford cho thấy, của Missal] dịch là (nguyên bản tiếng Anh của chính tác giả):O happy guilt, which has served such a great Redeemer, trong bài viết về Mircia Eliade, khi trích một câu trong nhật ký của triết gia này:&quot;Tôi thường nghĩ về mình như sau: nếu không có cái felix culpa đó - là một đệ tử của Nae Ionescu - tôi có thể ở lại quê hương. Tốt nhất, tôi nên chết vì bịnh lao, trong một nhà tù.&quot; Ngày 29 tháng Tám 1985.[Manea trích theo Ricketts, tác giả cuốn sách về Eliade: Mircia Eliade, The Romanian Roots, p. 142).Normal Manea trong bài viết FELIX CULPA, đã chỉ trích Mircea Eliade, về thái độ ủng hộ phát xít của triết gia này, tương tự trường hợp Heidegger, bị chỉ trích hợp tác với Nazi, và sau đó giữ một thái độ câm lặng thách đố, khinh khi...Liệu có thể coi NHPN như một &quot;felix culpa&quot;, &quot;đối cực&quot; của những đại học máu, đáy địa ngục?Ôi chao,Được Sống Sót Cuộc Chiến,Được Cứu Chuộc Cuộc Tù,hóa ra là chỉ để:Được (hay Bị?)ViếtNắng Hồng Phương Nam!***Thanh Tâm Tuyền, đã từng làm lại được thơ, ở trong trại cải tạo, nghĩa là một cách nào đó, ông lại trở lại được với Làng Kế Bên: Cõi Sáng Tạo.&quot;...Chẳng có chi là rõ ràng đối với tôi. Tuy nhiên, tôi nhủ thầm, tôi đang sống lại, nghĩa là thơ ca đang trở lại, và tôi sung sướng vì điều này. Tôi rụt rè e lệ như khi còn trẻ, với những bài thơ đầu, tôi giấu bạn tù những bài thơ, tôi không dám đưa cho họ đọc.Khi bạn sống dửng dưng, ngày này qua ngày khác, chẳng nghĩ tới tương lai, chẳng nhớ về dĩ vãng, không âu lo hiện tại, bạn còn lại chi? Còn cái điều đã có ở trong bạn; nó có đó, chẳng cần đến sự mong muốn của bạn.Để qua đi những ngày đen tối, những đêm mưa gió, ngày lạnh căm, bão bùng, mùa này, mùa nữa... tôi tìm lạc thú ở cái điều &quot;đã hiện hữu ở trong tôi&quot; đó; tôi mang theo, chỉ có nó; nó luôn luôn ở trong thân thể tôi.&quot;Thanh Tâm Tuyền: Thơ Giữa Chiến Tranh và Trại Tù
6.&nbsp; Rời nhà tù Trung QuốcLời giới thiệu:Jiang Qisheng, cựu sinh viên triết và nhà hoạt động nhân quyền, bị bắt vào năm 1999 vì đã tưởng niệm những nạn nhân vụ Thiên An Môn năm 1989. Sau bốn năm tù, ông vừa mới được tha. Ông viết bài sau đây, khi nhận giải thưởng The Spirit of Freedom Award of the Independent Fedederation of Chinese Students and Scholars. Bài này đã được lớn giọng đọc lên, bằng tiếng Anh, bởi một người bạn, trước Tòa Đại Sứ Trung Quốc tại thủ đô Washington vào ngày 1 tháng Sáu, 2003, và được đăng trên tờ Điểm Sách Nữu Ước số đề ngày 17 tháng Bẩy 2003.Perry LinkVào ngày 17 tháng Năm 2003, tôi rời nhà tù sau khi trải qua thời gian thọ án. Đúng như người Trung Hoa chúng tôi thường nói, nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại, khi tôi vô tù thì còn là thế kỷ cũ, khi ra, đã là một thế kỷ mới. Cử chỉ đầu tiên mà công an - những tên lính gác của một thế lực vua chúa hậu kỳ [liệu có thể nói, mạt kỳ?] - làm, là chỉ cho tôi tới đồn công an khu vực. Tại đây, người ta chỉ dẫn cho cho tôi rõ, rằng, án tù như vậy là chưa xong đâu, mày còn phải chịu thêm một năm &quot;mất quyền lợi chính trị nữa&quot;, và án này có hiệu lực kể từ ngày hôm nay, &quot;đúng theo luật hiện hành&quot;.Thái độ và hành động của họ thật hoàn toàn tương phản những gì tôi cảm nhận từ các bạn, ở đây, phía bên này Thái Bình Dương, cũng như từ rất nhiều bạn của tôi, ở bờ bên kia, ở Trung Quốc, tất cả đều biểu lộ niềm quan tâm thực sự và bên cạnh đó là những lời chúc tốt lành nhất của các bạn dành cho tôi. Các bạn giới thiệu tôi - một công dân Trung Quốc, mà, bởi vì kẻ đó yêu tự do và dám hành sử, thực tập nó, và mất nó, thời gian khi ở tù - tới với Giải Thưởng vì Tự Do Tinh Thần của các bạn: Tôi thật quá hãnh diện.Là con người, ai mà chẳng thích thú được ăn nói thẳng thắn, chân chật, theo đúng ý mình, và chẳng ai cảm thấy mình vẫn là một con người đầy đủ, thực sự, một khi quyền tự do nghĩ sao nói vậy này bị chối từ. Lề luật này, là chung cho tất cả các quốc gia, tất cả các nhóm dân, ở mọi thời, mọi nơi. Không ai có thể nói, người Trung Quốc khác [theo nghĩa, họ không cần tự do], rằng, một cách nào đó, họ không muốn nói sự thực, và chỉ muốn nói một phần sự thực. Ngay vào lúc này, tại đây, tôi dám nói điều này, là những đồng bào Trung Quốc của tôi đang [làm cái chuyện] nói lên sự thực - ở công trường Yuyuan Park tại Bắc Kinh, ở chân núi Mount Yu tại thành phố quê hương của tôi, và tại nhiều nơi khác không thể đếm xuể, những người Trung Quốc bình thường đã nghĩ, và đi đến quyết định, là, họ có thể nói lên những gì họ đang nghĩ ở trong đầu, và họ không cho rằng làm như thế là gây nên, là mắc vào thảm họa. Điều tôi làm, điều làm tôi vào tù, thì cũng đơn giản: Tôi nói ngay giữa thanh thiên bạch nhật, giữa chốn đông người, cái điều mà tại tất cả những nơi chốn, trên tất cả đất nước Trung Quốc, những đồng bào của tôi, cũng nói như vậy. Là một kẻ trí thức, có thể tôi đã cố gắng gọt rũa thêm một chút, làm cho cái thông điệp kể trên gọn gàng, bảnh bao, làm cho những sự kiện đến thẳng với người nghe, ngắn gọn, xác thực. Chỉ có vậy thôi.Đóng góp của tôi, nhỏ bé, nhưng tôi hiểu rõ, sự nguy hiểm của nó. Tôi biết, những người cầm quyền Trung Quốc không thể bỏ qua. Vào ngày 18 tháng Năm, 1999, sau 10 giờ đêm một chút, tôi quyết định nói ra những quan điểm của tôi, một lần nữa, lần này, bằng điện thoại, với Đài Phát Thanh Á Châu Tự Do. Trong lần nói chuyện này, tôi nói, rằng, nếu tôi bị bỏ tù vì nói ra sự thực, thì cũng đành thôi, tù thì tù. Chừng một tiếng, hoặc tiếng rưỡi đồng hồ sau đó, cả một bầy công an tới dẫn tôi đi, và kể từ đó, bắt đầu cuộc hành trình kéo dài 1,460 ngày và đêm không thể nào quên, giữa tường cao, và hàng rào gài điện.Cái giá mà tôi phải trả, nỗi đau khổ tôi chịu đựng thật chẳng là gì nếu phải so với những người khác - nạn nhân cuộc tàn sát ngày Bốn Tháng Sáu, và thân nhân của họ, những tội nhân mà nhà cầm quyền gọi là những kẻ gây rối (rioters) vẫn còn đang ở trong nhà tù số 2 tại Bắc Kinh, và tất cả những nhóm người chẳng có chút sung sướng, chẳng có chút đặc quyền đặc lợi, tức là những con người bất lợi vẫn tiếp tục sống trong đau đớn và chán ngắt vì sự bất công mang tính hệ thống của chế độ. So với họ, tôi được chú tâm nhiều hơn. Nếu trường hợp của riêng tôi có gì đặc biệt, thì đó là, nó khiến người ta đối diện với một sự kiện thật rất ư bực mình: ngay bây giờ, vào buổi bình minh của thế kỷ 21, một công dân Trung Quốc bị bỏ tù vì điều mà người đó nói. Một kẻ, mà, do hành sử nhu cầu rất ư bình thường, nói điều mình nghĩ, vậy mà được coi là một vị anh hùng được ban phát giải thưởng! Thật kỳ cục, bất thường, các bạn ạ. Liệu có thể coi là tuyệt vời, khi, vào một ngày nào đó, mọi con người Trung Quốc, anh hùng cũng được, mà hạ tiện cũng được, cả hai đều tha hồ nói điều cả hai nghĩ, không nhà tù, mà giải thưởng cũng không?Một lần nữa, cám ơn tất cả các bạn.Jennifer Tran chuyển ngữ [Từ bản tiếng Anh của Perry Link, trên NYRB số đề ngày 17 tháng Bảy, 2003]
7.&nbsp; Bông Hồng số 4.Le sens trop précis rapture la vague litérature. [Cái nghĩa quá rạch ròi làm hại cõi văn mơ mòng] (1)Nước Pháp phát minh ra tôi. Tôi đâu có hiện hữu. Caillois làm cho tôi được nhìn thấy. Than ôi, thiên hạ nhìn ông ta rõ quá! [Borges viết về Roger Caillois, người giới thiệu ông với độc giả Pháp và sau đó, thế giới].Trong bảng phong thần cho những cuốn sách cuối cùng, trước khi cúng bà hoả [Dernier inventaire avant liquidation], tác giả Frédéric Beigbeder chỉ chọn được 50 cuốn. Đứng đầu bảng là cuốn Kẻ Xa Lạ của Camus. Ông Hoàng Nhỏ của Saint-Exupéry, số 4.&quot;Làm ơn vẽ cho tôi một đại tác phẩm. Làm ơn chỉ cho tôi số 4 trong Bảng Phong Thần Cuối Cùng&quot; là cuốn nào?&quot;Ông Hoàng Nhỏ của Saint-Exupéry [1900-1944] là câu chuyện thần tiên độc nhất của thế kỷ 20. Thế kỷ 17 người ta có chuyện cổ tích của Perrault; thế kỷ 19, của Andersen. Tới thế kỷ 20, người ta có Ông Hoàng Nhỏ, một cuốn sách được viết bởi một ông phi công người Pháp lưu vong tại Huê Kỳ từ năm 1941 tới 1943. Cuốn sách được in ấn tại đó, trước khi được xuất bản tại Pháp vào năm 1945, một năm sau khi tác giả mất. [Do kỹ thuật in ấn của ông Tây quá tệ, bản tiếng Tây do đó đã phải giữ y chang những bản vẽ trong bản in lần đầu bằng tiếng Mẽo]. Từ khi xuất hiện cuốn sách có hình này đã trở thành một hiện tượng trong ngành in ấn, mỗi năm phát hành chừng vài triệu cuốn trên toàn thế giới.&quot;&quot;Tại sao? Bởi vì, không cố tình [làm ra vẻ ngây thơ] Saint-Exupéry đã sáng tạo ra những nhân vật ngay lập tức trở thành huyền tượng [figures mythiques].&quot;Người ta có thể cho cuốn sách một cái tên khác, là, &quot;Đi tìm một đứa trẻ thất lạc&quot;, Frédéric Beigbeder đề nghị. Bởi vì theo ông, &quot;tác giả cuốn sách luôn nhắc tới &quot;những người lớn&quot; nghiêm túc, biết suy nghĩ điều hơn lẽ thiệt, và bởi vì cuốn sách không thực sự nhắm tới những đứa trẻ mà là tới những người tin rằng họ không còn trẻ nữa. Đây là một &quot;pamphlet&quot; [bài văn đả kích] chống lại tuổi lớn và những con người hữu lý [rationnel], được viết bằng một thứ thơ ca dịu dàng, một minh triết giản dị [une sagesse simple] (Harry Potter, hãy về nhà với mẹ của mi đi!), và với một sự ngây ngô giả vờ, thực ra, giấu ở bên dưới sự ngốc nghếch đó, là một sự hóm hỉnh và một nỗi buồn thê lương.&quot;Đi tìm một đứa trẻ đã mất. Khi đặt tên lại cho cuốn sách như trên, theo tôi [NQT], tác giả Bảng Phong Thần Cuối Cùng, bởi vì là người Pháp, nên đã &quot;vơ vào&quot;, nghĩa là muốn nhắc tới Proust, một ông Tây khác nữa, tác giả Đi Tìm Thời Gian Đã Mất. Nhưng còn một lý do nữa, là chính cái chết của Saint-Exupéry đã khiến bật ra cái tên thứ nhì này. Tác giả Phong Thần Bảng cho thấy, như rất nhiều nhà văn khác, thí dụ như Lewis Carroll, Saint-Exupéry thuộc thứ tác giả không chịu già: vài tháng sau khi Ông Hoàng Nhỏ được xuất bản, tác giả của nó, lúc đó 44 tuổi, bèn lên máy bay, làm một phi vụ thám sát [mission de reconnaissance] bên trên vùng trời Địa Trung Hải, và biến mất như nhân vật của mình&amp;Saint-Exupéry là một tác giả quá quen thuộc với những tác giả, luôn cả độc giả, và luôn cả học trò người Việt: ở Sài Gòn, trước 1975 có một trường học mang tên ông. [Tôi không hiểu bây giờ còn không.]Trong lần về Việt Nam, nói chuyện bên &quot;chén riệu&quot; [ly rượu] với mấy anh em cũng dân viết lách, tại nhà một ông cũng &quot;có một nỗi buồn thê lương&quot;, nhân câu chuyện PXN còn nóng hổi, TTĐ gật gù, &quot;Nhầm Ông Hoàng Nhỏ với Cõi Người Ta là một sơ suất nặng!&quot;Chúng ta tự hỏi tại sao lại có sự lầm như thế. Không lẽ cứ buông một câu, tại dốt, tại không đọc! Với một tác giả xa lạ, có thể, nhưng với &quot;Xanh-Tếch&quot;, như cách gọi thân mật của người Việt dành cho ông, ở một xứ sở tuy &quot;người Pháp đã ra đi, nhưng nước Pháp ở lại [Malraux], chuyện không đơn giản.Vậy thì, tại sao?NQTChú thích: Tôi không nhớ tên tác giả. NQT
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/09/26 06:21:09</pubDate>
            <guid><![CDATA[VHNT Tin Văn 558:1028]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- w1.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Fri Nov 27 23:44:21 SGT 2009 -->
