QUÊ HƯƠNG luôn hiển thị tươi đẹp dưới ánh mặt trời. Kẻ ngoại đạo Ruchung tôi không ngừng khao khát lưu giữ lại .

Tâm trạng

Đóng

Tâm trạng

Từ 02-11-2009 đến 25-11-2009

Danh sách bài đã đăng

Sửa Đóng
Thư mục: Tổng hợp |
Đăng ngày: 11:56 25-11-2009

Blogger nguyethuthuy: Bức tranh hay quá nhưng có điểm riêng gì để chứng tỏ đấy chính là Quảng Bình quan hả bác? Nếu bác post thêm một bức ảnh chụp ban ngày về QBQ thì người xem mới thấy đối chứng rõ ràng hơn!

Từ năm 1631 đến nay, trên nền móng Quảng Bình Quan tọa lạc hiện nay từng có 5 quan môn tồn tại do biến thiên của lịch sử:

-  Quan môn do Đào Duy Từ xây bằng đất năm 1631, cùng lúc với Lũy Trấn Ninh làm thành lũy phòng ngự chống quân Trịnh trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh.

- Quan môn do Nguyễn Ánh khôi phục lại năm 1801 với tư cách là một điểm phòng ngự quân sự để ngăn chặn cuộc tấn công cuối cùng của Tây Sơn, Quang Toản.

- Quảng Bình Quan do Minh Mạng xây lại bằng gạch đá năm 1826, có lẽ để bảo tồn di tích và tưởng nhớ tiền nhân, vì thời điểm này đất nước đã thống nhất. Tuy nhiên, năm 1954 quân đội Pháp đã phá hủy khi họ rút khỏi Đồng Hới.  

- Quảng Bình Quan do chính quyền cách mạng trùng tu sau hòa bình 1958-1960. Năm 1965 bị người Mỹ phá hủy hoàn toàn

- Quảng Bình Quan ngày nay ( được trùng tu 1992)

Trong lịch sử, Quảng Bình Quan được các triều vua nhà Nguyễn rất coi trọng. Năm 1837, đời vua Kiến Phúc, hình tượng Quảng Bình Quan được khắc vào Nghị đỉnh.

 

Hình tượng Quảng Bình Quan được khắc trên Nghị đỉnh. (Ảnh của Hoàng)

(Quanh hông mỗi đỉnh đều chạm trổ 17 cảnh vật, tổng cộng có 153 cảnh vật được chạm nổi trên Cửu Đỉnh. Đó là các hình ảnh: sông, núi, trăng, sao, cây cối, hoa cảnh, sinh vật, vũ khí, xe, thuyền... tập hợp thành một bức tranh toàn cảnh đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn.)

 

Nghị đỉnh (Ảnh của Hoàng)

Cửu đỉnh là một công trình nghệ thuật bằng đồng gồm 9 chiếc nằm trước sân Thế Miếu, dùng làm biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất đất nước và ước mơ triều đại mãi mãi vững bền. Bộ đỉnh được vua Minh Mạng cho đúc, từ tháng 12-1835 đến 6-1837 hoàn thành. Mỗi đỉnh khắc tên một vị vua nhà Nguyễn, là biểu tượng của vị vua đó: Cao Đỉnh (vua Gia Long); Nhân Đỉnh (vua Minh Mạng); Chương Đỉnh (vua Thiệu Trị); Anh Đỉnh (vua Tự Đức); Nghị Đỉnh (vua Kiến Phúc); Thuần Đỉnh (vua Đồng Khánh )và Tuyên Đỉnh (vua Khải Định).Riêng Dũ Đỉnh và Huyền Đỉnh chưa tượng trưng cho vị vua nào. (Ảnh của Hoàng)

N¨m ThiÖu TrÞ thø 2 (1842), vua xa gi¸ b¾c tuÇn, vÞnh ba bµi th¬, cho kh¾c vµo bia ngoµi Quảng Binh Quan:

Bia Quảng Binh Quan hiện bị vỡ (Ảnh của Phương)

Hiện nay, Quảng Bình Quan là di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng quốc gia. Trong tâm thức của người Quảng Bình, Quảng Bình Quan đã trở thành biểu tượng văn hóa-lịch sử tỉnh Quảng Bình. Tại tỉnh Quảng Bình, hầu hết các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội quan trọng, cũng như các ấn phẩm có quy mô cấp tỉnh đều sử dụng hình tượng Quảng Bình Quan làm logo chính thức.

 

 

 

 

Phụ lục

Một tham luận của Ruchung tôi tham gia Hội thảo tìm luận cứ khoa học để khôi phục Quảng Bình Quan :

LẠM BÀN VỀ VIỆC CHỌN GIẢI PHÁP KIẾN TRÚC CHO DI TÍCH

QUẢNG BÌNH QUAN KHI CÓ ĐIỀU KIỆN KHÔI PHỤC

          Hội thảo khoa học về di tích Lũy Thầy và Quảng Bình Quan đã tìm được tiếng nói chung là nên chọn di tích Quảng Bình Quan để đề xuất khôi phục lại. Khía cạnh này, theo chúng tôi chưa phải là một phát hiện khoa học gì mới mẻ; nhưng nó lại có tác dụng đặt vấn đề cho một nội dung khoa học khác hình thành mà hội thảo này buộc phải tham gia giải quyết. Đó là: nên chọn giải pháp kiến trúc nào cho Quảng Bình Quan khi có điều kiện khôi phục lại di tích này?

          Sỡ dĩ chúng ta phải đặt vấn đề này là vì, từ năm 1631 đến nay, trên nền móng di tích này từng tọa lạc 4 quan môn mà chúng ta tin rằng không cái nào giống cái nào hoàn toàn về mặt tạo dáng kiến trúc.

          Có thể liệt kê 4 quan môn từng tồn tại ở đây theo trình tự lịch sử như sau:

1) Quan môn do Đào Duy Từ xây cùng lúc với Lũy Trấn Ninh năm 1631.

2) Quan môn do Nguyễn Ánh xây năm 1801.

3) Quảng Bình Quan do Minh Mạng xây năm 1826.

4) Quảng Bình Quan do chính quyền cách mạng trùng tu sau hòa bình 1958-1960.

Do mục đích sử dụng từng quan môn ở từng thời điểm lịch sử khác nhau, kết hợp với ý thức tôn tạo di tích của hậu thế, khiến các quan môn này lần lượt sai lạc nhau đi về mặt kiến trúc, đó là điều không tránh khỏi. Bằng chứng là Quảng Bình Quan do chính quyền cách mạng khôi phục sau hòa bình có nhiều nét khác biệt với Quảng Bình Quan thời Minh Mạng xây dựng, mặc dù lưu ảnh và vật liệu xây dựng Quảng Bình Quan thời Minh Mạng thậm chí vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Mặc dù hai quan môn được xây dựng đầu tiên đến nay không còn để lại một dấu vết gì, nhưng qua vị trí và tính chất của nó, chúng ta cũng có thể suy luận ra được tầm quan vóc của từng quan môn một cách tương đối đúng mà không sợ sa vào võ đoán hoặc tư biện.

Chẳng hạn về quan môn đầu tiên do Đào Duy Từ xây dựng cùng lúc với Lũy Trấn Ninh năm 1631, chỉ có thể là quan môn đồ sộ, bề thế vì một mặt nó phải phù hợp với sự to lớn của lũy, mặc khác nó là cửa ngõ “quốc gia”, là một thứ “ải Nam quan” của Đàng Trong thời bấy giờ.

Sự bề thế của quan môn này chưa thấy có tài liệu cổ nào ghi chép cả, nhưng người ta vẫn có thể thấy được nó một cách gián tiếp qua những dòng miêu tả của giáo sĩ Cadière về cổng vòm ra vào của đồn binh Động Hải trong tài liệu “Những di tích lịch sử ở Quảng Bình”, một cổng ra vào nhỏ hơn rất nhiều so với quan môn kể trên còn sót lại sau biến cố 1774, quân Bắc phá lũy Trấn Ninh thành bình địa.

Hai mươi bảy năm sau, năm 1801, Nguyễn Ánh cho đắp lại lũy này để ngăn chặn cuộc tấn công cuối cùng của Tây Sơn, Quang Toản. Theo đó quan môn này được khôi phục lại với tư cách là một điểm phòng ngự quân sự thực sự.

Hiện nay, để khôi phục di tích Quảng Bình Quan, người ta thường đặt vấn đề nên lựa chọn giải pháp kiến trúc nào trong hai giải pháp còn tồn giữ được hình ảnh. Đó là giải pháp của Minh Mạng có tu sửa lại vào năm 1936 - 1937 và giải pháp sau hòa bình lập lại, mà không thấy đề cập đến các quan môn xa xưa khác đã kể trên.

Tuy nhiên, nếu cứ câu nệ vào bản gốc thời Đào Duy Từ, hoặc ít nhất bản gần  gốc nhất thời Gia Long để đạt được yêu cầu tái tạo lịch sử, thì đó cũng chỉ là một sự không tưởng trong điều kiện tư liệu thiếu thốn hiện nay.

Để khôi phục lại di tích Quảng Bình Quan, tôi nghiêng về giải pháp kiến trúc tái tạo lại Quảng Bình Quan đã được nhân dân Đồng Hới Quảng Bình trùng tu sau hòa bình lập lại vì những lí do sau đây:

Trong ngôn ngữ tái tạo di tích, có một nét nghĩa được chấp nhận là tôn tạo di tích cho gần gũi với thời đại. Quảng Bình Quan thời Minh Mạng được khôi phục lại từ Quan môn thời Đào Duy Từ - Gia Long nhưng chứa đựng trong đó không ít những chi tiết tôn tạo mà vẫn được nhân dân đương thời chấp nhận.

Quảng Bình Quan do nhân dân Đồng Hới - Quảng Bình khôi phục lại năm 1958- 1960 có một số chi tiết được tôn tạo lại, như chúng ta đã biết và cũng được nhân dân Quảng Bình chấp nhận, thậm chí đã trở thành biểu tượng chính thức của tỉnh Quảng Bình trong tâm thức của nhiều thế hệ người dân Quảng Bình.

Nếu nói rằng phục hồi di tích cần phải tiến gần đến sát bản gốc, đó là theo giải pháp kiến trúc của Minh Mạng vì đó là lịch sử, mặc dù đã có nhiều yếu tố tôn tạo; vậy thì, theo thiển ý của tôi, Quảng Bình Quan được khôi phục sau hòa bình cũng đã lùi vào lịch sử so với ngày nay rồi. Thế tại sao chúng ta tôn trọng giá trị lịch sử tôn tạo này mà không tôn trọng giá trị lịch sự tôn tạo khác, trong khi sự tôn tạo sau chẳng những tồn giữ được tinh túy của di tích mà còn làm bay bổng thêm giá trị của di tích.

Mặt khác, nếu khôi phục lại Quảng Bình Quan theo giải pháp Minh Mạng thì đó cũng mới chỉ là sự khôi phục nửa vời so với lịch sử. Và chắc chắn nó sẽ gây ra nhiều xáo trộn trong tâm thức của người dân Đồng Hới Quảng Bình về một biểu tượng thân thuộc của mình, đã thành niềm khao khát cần khôi phục.

 

 

 

Danh sách bạn bè

Sửa Đóng

Danh sách bạn bè

Bạn chưa kết nối với ai

Bạn chưa có trang yêu thích nào.

Thống kê

Sửa Đóng

Thống kê

  • Khách hôm qua: 10
  • Tổng số khách: 204
  • lượt xem hôm nay: 0
  • Tổng lượt xem: 2449
  • Bài viết: 40
  • Hình ảnh: 313
  • Lời bình : 167
 

R H
G S
B V

#