Thư mục: Phiếm |
Nói Lái
Chổi trện st
Nói lái là một lối nói ghép chữ, đem
phụ âm tiếng trước ghép với cả âm tiếng sau hoặc ngược lại mà ta thường gặp,
thường dùng trong ngôn ngữ Việt Nam, ví dụ như cá đối # cối đá ( giữ nguyên các
dấu) hoặc thay đổi dấu như mèo cụt # mút kèo. Ngôn ngữ Việt Nam vốn đơn âm, nên
những tiếng nói lái tương đối dễ cấu tạo và dễ có nghĩa . Đây là một đặc điểm
của ngôn ngữ Việt nam mà từ khi có tiếng Việt chúng ta đã có nhiều giai thoại,
nhiều tác phẩm văn chương đã đi vào văn học sử, không những ta thấy nhiều kiểu
nói lái trong văn chương bình dân ( tục ngữ, ca dao) mà còn cả trong văn chương
uyên bác ( thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Khoa Vi ). Không phải như lối nói lái
(speak pig latin) hay nói lịu ( spoonerism) trong Anh Ngữ , lối nói lái trong
ngôn ngữ Việt Nam đa dạng, dễ dùng , dễ phổ biến và có nhiều ý nghĩa thâm trầm,
ý nhị .
Tuy nhiên đặc điểm nói lái trong ngôn ngữ Việt Nam phần lớn thường có khuynh
hướng thiên về dung tục, ghi chép ở trong sách vở hay phát biểu giữa nơi công
cộng thường không được tao nhã cho lắm . Nhiều người đã lợi dụng lối nói lái
thô tục trong các buổi trình diễn để chọc cười khán giả, khiến cho nhiều bậc
thức giả phải khó chịu nhăn mặt. Có lẽ vì vậy mà sự phát triển của cách nói lái
qua thời gian đã có nhiều đóng góp cho ngôn ngữ nhưng vẫn chưa được sắp xếp xem
như một phần của ngôn ngữ và văn học Việt Nam, dù là chỉ một phần nhỏ.
Nói về ý nghĩa, trong các giai thoại văn chương Việt nam, người ta thường dùng
lối nói lái như một vũ khí để phê bình, đả kích và phần lớn lại có tác dụng
mạnh mẽ, dễ gây nhiều ấn tượng hơn là lối nói thông thường. Trong phạm vi bài
này, chỉ muốn sưu tập một vài tài liệu về nói lái trong văn chương và thời sự
Việt Nam với tính cách một bài phiếm luận hơn là đi sâu vào công trình của một
bài khảo cứu về ngôn ngữ của một nhà ngôn ngữ học
ooOoo
NÓI LÁI TRONG VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN.
Tịnh Ngọc.
Trong nhân gian, khi xử dụng ngôn ngữ trong khi giao tiếp
hàng ngày, người ta thường tránh những tiếng có thể gây ngộ nhận, vì khi những
tiếng nói ấy được phát ra, người ta nghĩ ngay đến tiếng nói lái kèm theo thô
tục và suồng sã. Nhiều người trẻ tuổi vì không hiểu cách nói lái đã bị hiểu lầm
khi vô tình xử dụng các tiếng nghe rất thông thường nhưng rất tục khi được nói
lái lại như : nắng cực, đồn lầm, công ngủ, trái gì ? trái giứng... có rất nhiều
trong ngôn ngữ Việt Nam.
Trái lại trong ca dao, câu thơ ví von sau đây, nói lái, đối đáp rất có ý nghĩa
và thanh nhã:
- Con cá đối nằm trên cối đá.
Mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối được, dẫu nghèo cũng ưng.
- Con mỏ kiến đậu trong miếng cỏ,
Chim vàng lông đáp dựa vồng lang.
Anh đà đối đặng, e nàng vong ngôn.
Trai gái miền trung hẹn hò gặp gỡ nhau, sợ có người nghe thì tìm cách nói lái
vẩn vơ về ruộng đồng, rơm rạ để hiểu ngầm với nhau. Chàng nói bâng quơ : "bị
môn, bị khoai, bị nưa", nàng khất: "cau khô, trầu héo, tái
môi." hay "nón cụ, quai thao, tốt mối." Hoặc "bưởi
đỏ, cam sành, tốt múi". Người qua đường không thể hiểu rằng bị nưa là
bựa ni (bữa nay), tái môi là tối mai, tốt mối là tối mốt, tối múi là túi mốt.
Chàng trai xưa kia có râu, cạo râu xong, cô gái nhận không ra. Chàng bèn làm
thơ nói lái như vầy :
Xưa tê câu ró ngó xinh
Bây giờ câu rạo vô tình ngó lơ.
Thì ra câu ró, câu rạo không dính líu xa gần với chuyện đi câu cả.
ooOoo
GIAI THOẠI VỀ TRẠNG QUỲNH NÓI LÁI.
"...Trong nhân gian, người ta rất thích thú được nói
lái và nghe nói lái, có khi bất chợt tình cờ vô ý mà tiếng nói ra thành một
tiếng nói lái, có khi người ta tìm cách đẽo gọt, tìm tòi để kiếm ra những từ
nói lái có ý nghĩa. Tác giả có thể là một mà cũng có thể là nhiều người, dần dà
ngôn ngữ nói lái thành ra tài sản chung, đóng góp vào trong kho tàng văn chương
bình dân của ngôn ngữ ViệtNam..."
Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, sinh dưới thời Lê Trung Hưng (1530-1540),
quê quán Nghệ An là người hay chữ, thông minh xuất chúng, với bản tính nói
ngông hay châm chọc vua chúa quan quyền thời bấy giờ đã để lại nhiều giai thoại
trong lịch sử.
Trạng Quỳnh một lần đã dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn mà Quỳnh đã khoác lác
là một món ăn tuyệt hảo, ngoài có đề hai chữ Đại Phong. Sau khi ăn thử, chúa
Trịnh cật vấn trạng về món ăn lạ, thì Trạng giải thích rằng đại phong là gió
to, gió to thì tượng lo, tượng lo nói lái là lọ tương.
Một lần khác để dằn mặt một công chúa thời bấy giờ có tính khinh người và kiêu
căng, trên đường công chúa sắp đi qua, Trạng Quỳnh xắn quần xuống chiếc ao vệ
đường liên tục lấy chân đá vào những cánh bèo trên mặt ao.
Thấy lạ, quan quân dừng lại để công chúa hỏi chuyện, thì Trạng nói Trạng đang
đá bèo, chúng ta phải hiểu trạng Quỳnh đang chơi xỏ công chúa.
Nhân gian cũng truyền tụng Trạng Quỳnh là tác giả câu nói lái con gầy- cây gòn
, sương cho sáo- sao cho sướng và may ngón tóc- móc ngón tay...
ooOoo
NÓI LÁI TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG HAY NÓI LÁI TỤC.
Hồ Xuân Hương với những bài thơ tả vật, tả cảnh đã dùng
những hình tượng, chữ nghĩa rất táo bạo khiến cho người ta thường nghĩ ngay đến
các sinh thực khí hay những quan hệ giữa nam nữ, như một ám ảnh tâm lý, nếu nói
theo các nhà phân tâm học.( Vịnh Cái Quạt, Đánh Cờ Người, Quả Mít, Đèo Ba
Dọi...) lẽ cố nhiên nhà thơ họ Hồ cũng không quên dùng nhiều chữ theo lối nói
lái một cách táo bạo trong thơ bà, mà người đọc ai cũng hiểu:
...Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo.
(Kiếp Tu Hành)
...Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm Sư cụ đáo nơi neo.
Chày kình, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vải lần đếm lại đeo
.(Chùa Quán Sứ)
...Đang cơn nắng cực chửa mưa hè,
Rủ chị em ra tát nước khe.
(Tát Nước)
...Thú vui quên cả niềm lo cũ
Kìa cái diều ai nó lộn lèo.
( Quán Khách)
Nhân nói chuyện lái trong thơ Hồ Xuân Hương, xin trích dẫn một bài thơ nói lái
của một tác giả vô danh nhan đề là Trông Trời ( xin đọc theo kiểu bắc kỳ là
Chông Chời ):
Cô kia sao cứ trông trời,
Để tôi xin nguyện làm trời cô trông.
Trông trời sướng lắm phải không?
Trời mà trông lại còn mong nỗi gì !
ooOoo
BÀI THƠ NÓI LÁI THỜI KHÁNG CHIẾN.
Trong thời kháng chiến chống Pháp, khoảng những năm 1951- 52, sau Đại hội Đảng
Lao Động , chính phủ bắt đầu tinh giảm biên chế và loại các thành phần tiểu tư
sản ra khỏi bộ máy công quyền, một bài thơ nói lái do một nhân vật vô danh bất
mãn bỏ kháng chiến về thành tung ra rất được phổ biến. Chính vì những tiếng nói
lái đặc biệt ( tiếng Hán Việt lái thành tiếng nôm ) mà bài thơ được người ta
nhớ lâu và truyền tụng :
Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi,
Chiến khu thu cất chú khiêng rồi.
Thi đua thắng lợi thua đi mãi,
Kháng chiến lâu ngày khiến chán thôi.
ooOoo
GIAI THOẠI NÓI LÁI THỜI PHÁP THUỘC.
Một giai thoại thời thủ tướng Nguyễn Văn Tâm được lưu truyền ở miền nam như
sau: hồi Thủ Tướng Tâm còn là Quận Trưởng Cai Lậy ( có biệt danh là Hùm Xám Cai
Lậy ) lúc ăn mừng tân gia, có người đem tặng một bức hoành có khắc bốn chữ nho
: Đại Điểm Quần Thần tạm dịch nghĩa là bề tôi chức vụ lớn. Nguyễn
Văn Tâm lấy làm hãnh diện đắc ý, nhưng sau đó có người phát giác ra là ông Tâm
bị chưởi xéo, vì bốn chữ Đại Điểm Quần Thần, dịch nôm sát nghĩa là Chấm
To Bầy Tôi nói lái ra thành Chó Tâm Bồi Tây.
Lối nói này cũng phổ biến như người ta nói tới một người đàn bà " bách diệp", nghĩa nôm là "trăm lá", nói lái là "tra lắm" ( già lắm).
ooOoo
NÓI LÁI THỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
Sau tháng 4 năm 1975, dân tình cực khổ, do đó trong nhân
gian có những câu nói lái rất phổ thông:
Quy mã là qua Mỹ.
Kỹ sư đôi lúc làm cư sĩ.
Thầy giáo lắm phen cũng tháo dày.
Giáo chức giờ đây đành dứt cháo,
Khoái ăn sang nên... sáng ăn khoai.
Nói về tệ nạn cửa quyền tham nhũng và các tệ nạn thì nhân gian có các câu nói
lái :
Thủ tục đầu tiên là .. tiền đâu ?
Vũ Như Cẩn là Vẫn như cũ.
Nguyễn Y Vân là Vẫn Y Nguyên
Bùi Lan là Bàn Lui
Hộ khẩu là Hậu khổ.
Chỉ riêng ngành giáo dục không thôi đã có nguyên một bài nói lái tự thán như
sau :
Thầy giáo tháo giày đi dép,
Nhà trường nhường trà uống nước trong.
Tháng đầy thầy đáng dăm lon gạo,
Lương thầy tiền lính tính liền xong.
Thầy giáo tháo ủng tháo giày,
Tháo ủng thủng áo tháo giày nóng chân.
Giáo án dành lại khi cần,
Thay vải dán áo việc làm tốt thôi.
ooOoo
THƠ NÓI LÁI KHÔNG TỤC.
Cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi là một nhà thơ Đất Thần Kinh, ở Vỹ
Dạ đã làm một bài thơ nói lái rất công phu và có ý nghĩa như sau:
Cầu đạo nên chi phải cạo đầu,
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu.
Na bường bát tới nương bà vải,
Dầu sãi không tu cũng giải sầu.
Ông Tôn Thất Đàm ở Úc đã có một bài nói lái nhan đề "Má Con" như sau:
Má đưa con đi trong mưa đá,
Má đặt con lên mặt đá bằng.
Má đi vào xem mi đá bóng,
Má đang mang đá tới lót nền.
Má lột một lá dính vào phên,
Má lấy bên hè đi mấy lá.
Má lòn mòn lá cửa ngoài hiên,
Má cần mần cá để kho liền.
Má cắt con mắt cá đầu tiên,
Má cũng mua đầy hai mủng cá.
Má can con ăn mang cá kình.
Trong nhân gian, người ta rất thích thú được nói lái và nghe nói lái, có khi
bất chợt tình cờ vô ý mà tiếng nói ra thành một tiếng nói lái, có khi người ta
tìm cách đẽo gọt, tìm tòi để kiếm ra những từ nói lái có ý nghĩa. Tác giả có
thể là một mà cũng có thể là nhiều người, dần dà ngôn ngữ nói lái thành ra tài
sản chung, đóng góp vào trong kho tàng văn chương bình dân của ngôn ngữ Việt
Nam.
Xin trích dẫn một số tiếng nói lái thông thường mà chúng ta hay bắt gặp trong
cuộc sống hằng ngày :
- Trễ giờ thì trở (về) dề,
- Ôm nhiều thành yếu và yêu nhiều thành ốm,
- Đơn giản như đang giỡn,
- Chà đồ nhôm là chôm đồ nhà,
- Cây còn ( mộc tồn ) là con cầy.
- cờ tây là cầy tơ.
- Con chín bến đò (con chó bến đình)
- Hương bên đèo (heo bên đường)
- Theo con Hương (thương con heo)...
Trong Nam, mấy bạn nhậu thường hay nói chữ : "Tửu phùng tri kỷ thiên bôi
thiểu" cũng đừng vội tưởng họ sính nho, thật ra họ đùa "rượu gặp tri
kỷ có trời mới biểu (bảo) thôi" (thiên = trời, bôi thiểu = biểu thôi)....
- Kia mấy cây mía.
- Có vài cái vò.
Một câu đối khác, nghe được sau 75, lúc người dân trong Nam không còn gì để
sinh sống, đặc biệt là giới thầy cô thuộc chế độ cũ được lưu dụng. Dầu gì chăng
nữa, trước đó họ là lớp người tuy sống nhờ đồng lương cố định, nhưng cũng có
cơm ăn áo mặc đầy đủ. Người ta nghe thấy hai câu đối tết, nhại theo Tú Xương
ngày trước, nhưng rất đặc sắc và chua xót:
- Chiều ba mươi, thày giáo tháo giày ra chợ bán,
Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.
Thực tế là giày không còn là một phần trong y phục của thày giáo, nhưng cháo đã
là phần lương thực thường thấy trong bữa ăn hàng ngày.
Trong một đám cưới, chú rể người Hóc Môn, cô dâu ở Gò Công; có người rắn mắt
đọc đùa câu đối:
- Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc,
Gái Gò Công vừa gồng vừa co.
Trong văn chương bình dân Việt Nam, câu đố chiếm một vị trí tuy khiêm nhường
nhưng có sức sống tuơng đối mạnh mẽ so với hò đối đáp chẳng hạn. Ngày nay ta
vẫn thường nghe những câu đố trong khi không còn thấy hò đối đáp trong sinh
hoạt hàng ngày của người bình dân.
Trong các dạng câu đố, cách dùng nói lái để đánh lừa người khác là một trong
những cách tuy dễ nhưng cũng làm khó cho người bị đố không ít. Sau đây là vài
câu đố dùng nói lái, lời giải có ngay trong câu đố:
- Tổ kiến, kiển tố, đố là chi? - (đáp: tổ kiến)
- Khoan mũi, khoan lái, khoan khứ, khoan lai
Bò la, bò liệt đố ai biết gì? - (đáp: khoai lang).
Những chữ mũi, lái, khứ, lai chỉ cốt để đánh lừa người bị đố
- Con gì ở cạnh bờ sông, cái mui thì nát cái cong thì còn - (đáp: con còng -
cong còn nói lái thành con còng)
- Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng - (đáp: ngón chưn cái)
- Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn - (đáp: con ngựa)
- Miệng bà ký lớn, bà ký banh
Tay ông cai dài, ông cai khoanh - (đáp: canh bí, canh khoai)
Nói lái thành thơ có lẽ là nghệ thuật chơi chữ tuyệt diệu và độc đáo trong
tiếng Việt:
Dòng châu lai láng, đĩa dầu chong,
Công khó đợi chờ, biết có không ?
Nhắc bạn thêm thương người nhạn,
Trông đời ngao ngán giữa trời đông.
Một dị bản khác:
Nhắc bạn thêm thương tình nhạn bắc,
Trông đời chỉ thấy cảnh trời.
Đêm thâu tiếng dế đau thêm mãi,
Công khó chờ nhau biết có không ?
Một bài thơ của cụ Thảo Am viết sau khi nghe tin giặc Pháp chiếm lại đồn Mang
Cá, 1946.
Lũ quỷ nay lại về luỹ cũ,
Thầy tu mô Phật cũng thù Tây.
Làm thơ nói lái thật không dễ. Ví dụ bài thơ nhắn bạn sau đây:
Làng vọng còn hơn cái lọng vàng,
Mang sơ tấm áo, chớ mơ sang.
Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn,
Hang lỗ tìm vào bắt hổ lang.
Hoặc một bài thơ khác:
Đời chua, bậu cứ thử đùa chơi,
Chơi ngổ xong rồi, kiếm chỗ ngơi.
Bến đậu thênh thang, mời bậu đến,
Ngồi đây say tít, ngất ngây đời.
Câu cuối của bài thơ ngồi đây đã bị ép thành ngây đời. Điều đó chứng tỏ nói lái
thành thơ, không phải dễ! Ấy vậy mà bài thơ sau đây sẽ còn làm chúng ta thật sự
ngạc nhiên về sự phong phú, đa dạng của ngôn từ tiếng Việt cũng như sự tài tình
của nhà thơ. Nếu ai định dịch nó sang ngôn ngữ khác, chắc là phải bó tay! (khi
đọc nhớ lái ở ba từ cuối mỗi câu):
Mỗi độ xuân sang chả có gì (chỉ có già),
Giàu sang, keo kiệt để mà chi? (...)
Vui xuân chúc tết cầu gia đạo,
Cạn chén tiêu sầu tiễn người đi.
Trong cuộc sống hiện đại, người lao động thường tập trung vào công việc, dễ gây
mệt mỏi vì vậy họ cũng thích nói lái để tạo sự hài hước, dí dỏm vui tươi.Thực
tế có những cách nói lái phù hợp với hoàn cảnh. Khi vui, tuỳ lúc họ có thể nói:
ngày cưới - người cái (mỗi người uống một chung rượu), ít ly - y lít, bí mật -
bật mí, tình nghĩa - tỉa (một) nghìn... Hoặc khi chưa hài lòng về một điều gì
đó, tuỳ lúc họ có thể nói: thi đua - thua đi, đấu tranh – tránh đâu, đầu tư -
từ đâu, bàn tính - bình (rồi) tán, kinh tế - kê rồi tính…
Còn những lúc vui bên bàn tiệc thì người ta lại cao hứng: âu cái đằn - ăn cái
đầu, ê cái mằn - ăn cái mề ...cách nói lái sáng tạo như vậy cũng được người
nghe chấp nhận vì nó tạo được sự chú ý và liên tưởng bất ngờ.
Như vậy, ta có thể hiểu nói lái là cách đánh tráo vần, thanh điệu... giữa hai
hoặc ba tiếng với nhau, nó không rườm rà không phức tạp mà rất đơn giản dễ vận
dụng để tạo thêm nghĩa mới phù hợp với mục đích giao tiếp.
Một số người cho rằng: nếu không có những cách nói lái này, quá trình giao tiếp
sẽ kém sinh động hơn, đơn điệu hơn. Tuy nhiên nói lái cũng tuỳ hoàn cảnh, mức
độ vừa phải, dùng thường xuyên sẽ gây nhàm chán. Ngoài ra những cách nói lái
nếu dùng không đúng chỗ, đúng nơi, sẽ không thể hiện được nét văn hoá giao tiếp
chắc chắn khó được chấp nhận. Ví dụ chỗ hội họp quan trọng không ai dùng cách
nói lái.
Chổi trện st
Phạm Công 14:09 29-10-2009