Thư mục: Lịch sử |
Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Hàn Nguyên Nguyễn Nhã
A- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC CHÍNH QUYỀN TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG HOA) KHẢO SÁT TRÁI PHÉP QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀO NĂM 1909 VÀ TIẾP TỤC XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở HOÀNG SA CHO ĐẾN NĂM 1930
Việt Nam bị Pháp xâm lược năm 1858, mất hết chủ quyền tự chủ ngoại giao theo
Hiệp ước cuối cùng ký với Pháp năm 1884, nên đã không bảo vệ được chủ quyền
của mình tại Hoàng Sa khi bị các nước khác xâm phạm.
Trong thời Pháp thuộc, vào tháng 6/1909, chính quyền Quảng Đông (Trung Hoa) do
Tổng Đốc Trương Nhân Tuấn đứng đầu, vào tháng 6 năm 1909 như báo chí Quảng Châu
hồi bấy giờ đưa tin, lần đầu tiên đă cử một hạm đội nhỏ của nhà Thanh đã đi khảo
sát trái phép quần đảo Paracels, vốn của Việt Nam từ lâu, tên chữ là Hoàng Sa
hay tên nôm gọi là Cát Vàng hay Cồn Vàng.
Tên Tây Sa là tên do chính quyền Quảng Đông đặt ra sau sự kiện tháng 10/1907,
khi chính quyền Nhà Thanh đuổi được nhóm thương gia người Nhật Nishizawa
Yoshiksugu chiếm giữ đảo Pratas trong 3 tháng (từ 2-7-1907). Cũng bắt đầu từ
đó, chính quyền Quảng Đông đặt tên Pratas là Đông Sa, vốn là tên một đảo ở
ngoài khơi tỉnh Quảng Đông, đã được ghi rất rõ trên bản đồ “Duyên hải toàn đồ”
trong sách Hải quốc văn kiến lục của Trần Luân Quýnh (1730).
Không phải chính quyền thực dân Pháp không biết sự kiện khảo sát trái phép này.
Chính bức thư của Lãnh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu gửi Bộ Trưởng Bộ Ngoại
Giao Pháp ngày 4-5-1909 đã nêu rõ ý đồ của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Hoàng
Sa của Việt Nam khi viết: “Như tôi đã trình bày với ông khi kết thúc bản báo
cáo gần đây của tôi (số 86 ngày 1-5-1909) về vấn đề các đảo Đông Sa (Pratas), vấn
đề này khiến Chính phủ Trung Hoa chú ý đến các nhóm đảo khác nằm dọc bờ biển của
Thiên triều và tới một mức độ nhất định có thể được coi như một bộ phận của
Thiên triều, trong đó có quần đảo Paracels“. [Monique, Chemillier - Gendreau,
La
souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys, Paris, L’Harmattan, 1996, p.206].
Cũng cần lưu ý, bức thư trên được viết khi chính quyền Quảng Châu đang chuẩn bị
thực hiện chuyến khảo sát. Cuộc khảo sát diễn ra sau đó, có mặt cả người Đức.
Đoàn khảo sát rời Hồng Kông vào ngày 21-5-1909 và về Quảng Châu vào ngày
9-6-1909.
Cũng trong thư trên đề ngày 4 tháng 5 năm 1909, Lãnh sự Pháp ở Quảng Châu gửi
cho Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp có một số nội dung đáng lưu ý sau đây:
- Do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm luôn
quần đảo Paracels gần Hải Nam.
- Cuộc khảo sát trái phép đầu tiên là của Ngô Kính Vinh đã cho thấy ở mỗi đảo
Hoàng Sa đều có một ngôi miếu nhỏ xây kiểu nhà đá (tất cả tường mái là đá san
hô và vỏ sò). [Monique, Chemillier - Gendreau, sđd, Paris, L’Harmattan, 1996,
p.207]
- Các ngư dân Việt Nam mang cả vợ con đến sống ở Hoàng Sa, bị đối xử tàn tệ, vợ
con bị bắt đến Hải Nam. [Monique, Chemillier-Gendreau, sđd, Paris, L’Harmattan,
1996, p. 210]
Như thế Chính phủ Pháp ngay tại chính quốc đã rõ ý đồ của chính quyền Trung
Hoa (dù chỉ là chính quyền địa phương) xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại
Paracels (Hoàng Sa). Sở dĩ chính quyền Pháp không ngăn chặn hành động khảo sát
trên vì nhiều lý do:
Một là khi ấy, Pháp chưa quan tâm đến vấn đề bảo vệ sở hữu quần đảo của nước
“An Nam” mà Pháp bảo hộ theo Hiệp ước Patenôtre 1884. Vấn đề ngăn chặn ý đồ của
Trung Hoa ngay từ năm 1909 mà Lãnh sự Pháp ở Quảng Châu là Beauvais đã báo cáo,
bị chính quyền Pháp ở mẫu quốc bỏ qua.
Điều này cũng dễ hiểu, nếu như các đảo ấy vốn thuộc sở hữu của nước Pháp hoặc
thuộc đất Nam Kỳ, nhượng địa hay thuộc địa chứ không phải đất bảo hộ, thì chắc
chắn Chính phủ Pháp sẽ có hành động ngăn chặn ngay và sẽ không thể xảy ra tranh
chấp lâu dài về sau. Nếu không, Chính phủ Pháp sẽ bị kết tội hay sẽ bị lên án
do chính người Pháp hoặc giới chính trị hoặc những công dân yêu nước của Pháp.
Hai là chính quyền thực dân Pháp ngại sự ngăn chặn có thể làm phát sinh trong
ḷòng dân chúng Trung Hoa một phong trào “sô vanh” có hại cho quyền lợi Pháp ở
Trung Quốc.
Điều này cũng đã được Ông Beauvais nêu ra trong chính văn thư báo cáo ngày
4-5-1909 gửi Ông Bộ trưởng Ngoại giao Pháp và đã được Chính phủ Pháp cân nhắc
làm theo :
“Như vậy, thưa Ông Bộ trưởng, nếu ta còn lợi ích trong việc ngăn không cho
Chính phủ Trung Hoa nắm lấy nhóm các đá ngầm này, có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng
nghiên cứu, tìm ra các lập luận chứng minh rõ ràng quyền của chúng ta và những
bằng chứng không thể bác bỏ về quyền đó. Nhưng nếu việc đó không đáng làm, sau
khi đã suy nghĩ chín chắn, có lẽ nên nhắm mắt làm ngơ. Một cuộc can thiệp của
chúng ta sẽ có khả năng làm xuất hiện một phong trào sô vanh mới làm cho chúng
ta bị thiệt hại nhiều hơn lợi ích mà việc sở hữu được thừa nhận đối với quần đảo
Hoàng Sa đem lại ” (Monique Chemillier-Gendreau, La Souveraineté sur les
Archipels Paracels et Spratleys, L’Harmattan, 1996, p.211-212).
Trong văn thư đề ngày 14 Janvier 1921 của Ông Chủ tịch Hội đồng Pháp quốc (tức
Thủ tướng) kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Pháp gửi Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp cũng
đã khẳng định Bộ Ngoại giao Pháp đã nghe theo ý kiến của Beauvais (Monique
Chemillier-Gendreau, sđd, tr. 205).
Ba là các quan chức thực dân Pháp từ Phủ Toàn quyền đến Bộ Thuộc địa hay Bộ Ngoại
giao Pháp không biết rõ hoặc rất mơ hồ về sở hữu từ lâu thuộc về Việt Nam.
Có rất nhiều bằng chứng như chính Ông Beauvais trong bản báo cáo trên cũng
không chắc chắn mà chỉ nói : “có lẽ sẽ dễ dàng nghiên cứu…”.
Cho đến ngày 6 tháng 5 năm 1921, có nghĩa sau hơn 1 tháng ngày 30-3-1921, lệnh
mang số 831 của Ban Đốc chính chính quyền quân sự miền Nam Trung Hoa sau phiên
họp ngày 11-3-1921 đã quyết định sáp nhập về mặt hành chính các đảo Hoàng Sa
vào huyện Yai Hien (Châu Nhai, đảo Hải Nam), Vụ Các vấn đề chính trị và Bản xứ
thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương đã có văn bản ghi chú (Note) ghi rất nhiều điều
liên quan đến quần đảo Hoàng Sa lấy từ Hồ sơ hiện có ở Phủ Toàn quyền Đông
Dương, cho biết đã tìm trong kho tư liệu của hải quân Sài Gòn, lưu trữ của Thống
đốc Nam kỳ, của Phủ Toàn quyền không thấy có tư liệu nào có tính chất làm rõ quốc
tịch của các đảo Hoàng Sa. Chính lúc Toàn quyền Đông Dương ra chỉ thị điều tra
về vấn đề quốc tịch của Hoàng Sa cũng là lúc nhận được bức thư của Tổng Lãnh sự
Beauvais ở Quảng Châu báo tin có sự kiện chính quyền quân sự Nam Trung Hoa quyết
định sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Đông.
Rõ ràng sự kiện Chính quyền quân sự miền Nam Trung Hoa ra tuyên bố sáp nhập Tây
Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam vào huyện Châu Nhai, đảo Hải Nam thuộc tỉnh Quảng
Đông ngày 30 tháng 1 năm 1921 cũng đã xảy ra vào thời Pháp thuộc, khi Việt Nam
đã hoàn toàn mất chủ quyền.
Khi còn mơ hồ về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Ḥoàng Sa, trong khi ấy thực
chất quyền lực nhà nước là do chính quyền thực dân Pháp nắm, nên chính quyền thực
dân Pháp không tích cực ngăn chặn sự vi phạm chủ quyền của chính quyền Quảng
Đông tại quần đảo Hoàng Sa là chuyện đương nhiên. Chắc chắn khi Việt Nam vẫn
còn chủ quyền, được độc lập tự chủ hay Hoàng Sa vốn thuộc chủ quyền của Pháp
thì chính quyền nào cũng phải lấy nhiệm vụ tối thượng là bảo vệ sự toàn vẹn
lãnh thổ của nước mình. Vì thế chung quy không có sự ngăn chặn kịp thời sự xâm
phạm chủ quyền của chính quyền quân sự miền Nam Trung Hoa vào năm 1921 cũng như
của chính quyền Quảng Đông năm 1909 chính là do Việt Nam bị Pháp đô hộ, không
c̣òn chủ quyền để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình.
Vậy về phía Việt Nam nguyên nhân sâu xa hay khách quan dẫn đến sự tranh chấp
không đáng có chính là Việt Nam bị Pháp đô hộ, mất hết chủ quyền để có thể bảo
vệ lãnh thổ của mình khi bị xâm phạm.
Về phía Trung Hoa, nguyên nhân khách quan là do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm
Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm luôn quần đảo Paracels gần Hải Nam để
tránh xảy ra sự kiện bất cứ nước nào nhất là các cường quốc hồi bấy giờ phỗng
tay trên, chiếm cứ những đảo ở Nam Hải mà Trung Hoa coi là vô chủ.
Về phía chính quyền thực dân Pháp, nguyên nhân chủ quan chính là do quyền lợi
riêng của chính quyền thực dân Pháp đã khiến Pháp không phản ứng kịp thời để
Trung Hoa cho là đất vô chủ và đi sâu vào hành động xâm phạm chủ quyền của Việt
Nam ở Hoàng Sa và sự thiếu hiểu biết do hạn chế của người đi đô hộ, không hiểu
quan điểm của Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Song sau đó, Chính quyền thực dân Pháp đã bắt đầu quan tâm đến hành động trái
phép của chính quyền Quảng Đông với quần đảo Hoàng Sa. Nguyên nhân nào khiến
Chính quyền thực dân Pháp bắt đầu quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền của Việt
Nam tại Hoàng Sa trong thời gian từ năm 1921 đến 1930?
Đó chính là do tầm quan trọng của vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa đối với
an toàn quyền lực của chính quyền thực dân Pháp và do sự hiểu biết lập trường của
Việt Nam (theo Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề giải thích).
Trước hết chính vì vị trí chiến lược quan trọng của quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa cũng như Biển Đông đối với lãnh thổ Pháp đang cai trị, nên thực dân Pháp ở
Đông Dương phải cân nhắc lợi hại, đã quyết định đối mặt với những ý đồ tranh
chấp chủ quyền của các nước khác trong đó có Trung Quốc.
Lúc ban đầu, trong bản báo cáo ngày 04 tháng 5 năm 1909, Tổng Lãnh sự Pháp
Beauvais ở Quảng Châu đã đề cập tới tầm quan trọng vị trí của quần đảo Hoàng
Sa, song lại chưa sát sườn với lợi ích của chính quyền thực dân, dù có hệ trong
đến hàng hải hay sự đe dọa đối với ngư dân Việt nam như sau:
"Về vấn đề này, nhân viên của chúng tôi nhận xét rằng các đảo Hoàng Sa đối
với chúng ta có một tầm quan trọng nhất định: vì nằm giữa tuyến đường đi từ
Sài Gòn đến Hồng Kông, các đảo đó là một mối nguy hiểm lớn đối với hàng hải và
việc chiếu sáng ở đó có thể là cần thiết. Ngoài ra, các đảo đó thường có ngư
dân An Nam và Trung Quốc qua lại: họ đến đó trong quá trình đánh cá để sơ chế
sản phẩm. Đã xảy ra những cuộc đổ máu giữa ngư dân hai nước trong dịp đó".
[Cf. Monique Chemillier - Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels
et Spratleys, L’Harmattan, 1996, p.197].
Trong văn thư của Khâm sứ Trung Kỳ Le Fol gửi Toàn Quyền Đông Dương vào ngày
22-1-1929 đã nhấn mạnh về vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa:
"Trong tình hình hiện nay, không ai có quyền phủ nhận tầm quan trọng chiến
lược rất lớn của các đảo Hoàng Sa. Trong trường hợp có xung đột, việc nước
ngoài chiếm đóng chúng sẽ là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất có thể
có đối với việc phòng thủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang [Đông
Dương]".
"Thực vậy, các đảo nói trên là sự kéo dài tự nhiên của Hải Nam. Đối phương
có thể lập ở đó một căn cứ hải quân hùng mạnh nhờ những vụng và nhiều nơi đậu
tàu tuyệt vời. Một đội tàu ngầm dựa vào căn cứ đó sẽ có thể, không những phong
tỏa cảng Đà Nẵng là cảng quan trọng nhất của Trung Kỳ, mà còn cô lập Bắc Kỳ bằng
cách ngăn cản việc đi đến Bắc Kỳ bằng đường biển. Lúc đó để liên lạc giữa giữa
Nam Kỳ với Bắc Kỳ ta phải dùng đường sắt hiện có, một con đường rất dễ bị đánh
vì chạy dọc theo bờ biển, pháo hải quân đặt trên các chiến hạm có thể mặc sức
phá hủy".
"Đồng thời, mọi con đường thông thương giữa Đông Dương – Viễn Đông – Thái
Bình Dương sẽ bị cắt đứt: hải lộ Sài G̣òn – Hồng Kông đi gần quần đảo
Paracels, do đó nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của căn cứ trên các đảo".
[Cf. Monique Chemillier - Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels
et Spratleys, L’Harmattan, 1996, p.174].
Mặc dù có những báo cáo rất rõ về tầm quan trọng của Hoàng Sa đối với việc bảo
vệ lãnh thổ thuộc địa Đông Dương của Pháp, song phải có sức ép của dư luận báo
chí của người Pháp ở Đông Dương thì chính quyền thực dân Pháp mới có những hành
động cụ thể để bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa của nước được Pháp bảo hộ.
Đầu tiên, với loạt bài trong các số 606, 622, 623, 627 (tháng 1, 5, 6 năm
1929), nhà báo Henri Cucherousset đã lược qua về chủ quyền của Việt Nam tại quần
đảo Hoàng Sa với những dẫn chứng hết sức cụ thể như:
1/ Jean Baptiste Chaigneau viết năm 1820 dưới nhan đề: Notice sur la
Cochinchine cho biết năm 1816 vua Gia Long đã thực sự chiếm đảo Hoàng Sa.
2/ Giám mục Jean Louis Taberd viết trong Journal of the Asiatic Society of
Bengal, Tập VI, năm 1837, tr.737 và những trang kế tiếp; Tập VII, năm 1838,
tr.317 và những trang kế tiếp đề cập đến quần đảo Hoàng Sa trong mục
“Géographie de la Cochinchine”.
3/ Dubois de Jaucigny viết trong L’Univers – Histoire et Description de tous
les peuples de leurs religions. Moeurs, coutumes; Japon, Indochine, Ceylan xuất
bản năm 1850 tại Paris, F. Didot xuất bản, có đoạn viết: “… từ 34 năm về trước
quần đảo Hoàng Sa (mà người An nam gọi là Cát Vàng đã được chiếm cứ bởi các
người xứ Nam Kỳ”. Cucherousset còn viết những chi tiết về quần đảo Hoàng Sa
trong Nam Việt địa dư Hoàng Việt địa dư?, Minh Mạng năm thứ 14; Đại Nam nhất thống
chí, in thời Duy Tân, Tập 6, tờ 18b, 19a cùng việc tàu De Lanessan thám sát
Hoàng Sa năm 1925.
Theo tác giả, quần đảo Hoàng Sa quan trọng do 5 đặc tính sau đây:
1/ Là trạm cho thủy phi cơ tuyến Sài Gòn – Hồng Kông, Tourane – Philippines.
2/ Là điểm tựa chiến lược cho tàu ngầm khi có chiến tranh.
3/ Là trạm thông báo khí tượng.
4/ Là nơi tranh gió bão cho tàu đánh cá.
5/ Giàu quặng phốt phát.
Lý do tác giả viết loạt bài đó là vì một Đại úy người Anh muốn nhân danh Anh
Hoàng đặt chủ quyền Anh lên đảo Sein, đồng thời tác giả cực lực phản đối việc hải
quân Trung tá Rémy ở Sài G̣òn trả lời cho một công ty hàng hải Nhật rằng không
biết quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của ai, và việc ông Monguillot đã viết
cho ông Gravereaud nói rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa.
Theo tác giả, Chính quyền bảo hộ Pháp phải xác định chủ quyền trên quần đảo
Hoàng Sa bằng các hành động:
a/ Vẽ bản đồ tổng quát Hoàng Sa tỉ lệ 1/200.000, vẽ bản đồ chi tiết 1/25.000, vẽ
bản đồ hải quân và bản đồ địa chất.
b/ Đặt đài hải đăng.
c/ Đặt trạm quan sát và thông báo khí tượng.
4/ Lập đội trú phòng trú đóng tại Hoàng Sa.
Tác giả còn trách cứ Chính quyền Pháp đã quá lơ là trong việc xác nhận và bảo
vệ chủ quyền tại Hoàng Sa.
Sau đó, chính bức thư của Toàn quyền Pasquier gửi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa
ngày 18-10-1930 đã làm chấm dứt thái độ do dự của Chính quyền Pháp đối với hành
động xâm phạm trái phép của Chính quyền Trung Hoa đối với chủ quyền của Việt
Nam tại Hoàng Sa. Trong bức thư trên, Toàn quyền Pasquier đã gửi tập tư liệu về
quần đảo Hoàng Sa bao gồm:
1. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Đại Nam nhất thống
chí, Quyển 6 hay Biên niên sử của chính phủ An Nam.
2. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Nam Việt địa
dư, Tập 2 hay Địa dư thời Minh Mạng [Chú thêm của tác giả: tức Hoàng Việt địa
dư chí].
3. Một đoạn trích bằng chữ Hán với bản dịch bằng tiếng Pháp của Đại Nam nhất thống
chí hay Địa dư thời Duy Tân.
Kèm theo là bốn thư phụ lục và bốn bản đồ. Toàn Quyền Pasquier viết: “Chắc hẳn
Ngài cũng đánh giá như tôi rằng chúng ta đã đủ để xác định không thể tranh cãi
rằng An Nam đã thực sự nắm sở hữu quần đảo và làm như vậy trước năm 1909 nhiều.”
[Cf. Monique Chemillier - Gendreau, La Souveraineté sur les Archipels Paracels
et Spratleys, L’Harmattan, 1996, p.233].
B- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA VÀ PHÁP TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945, THỜI GIAN PHÁP
CÒN ĐÔ HỘ VIỆT NAM
Từ 1931 đến 1933, Cucherousset lại tiếp tục viết 7 bài viết cũng trên báo
L’Éveil Économique de L’Indochine (E.E.I) trong các số 685 (10-5-1931), 688
(31-5-1931), 743 (26-6-1932), 744 (03-7-1932), 746 (17-7-1932), 777
(26-02-1933), 790 (28-5-1933). Trong loạt bài báo kể trên, không thấy nhắc đến
lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam nữa mà chỉ tập trung vào thái độ của Toàn
quyền Pasquier về việc xử lý việc bảo vệ chủ quyền ấy.
Tác giả chỉ trích một lá thư của Toàn quyền Pasquier khi ông này viết: “Chủ quyền
của xứ An nam trên quần đảo Hoàng Sa là điều không thể chối cãi được nhưng lúc
này chưa phải cơ hội để xác nhận chủ quyền ấy“.
Tác giả gay gắt chất vấn ông Toàn Quyền: “Tại sao nay không phải là cơ hội? Trở
lực nào đã ngăn cản xứ “An nam” nhìn nhận chủ quyền trên đảo Hoàng Sa mà họ đã
chấp hữu từ trăm năm trước? Có phải chăng đợi đến lúc người Nhật khai thác đến
tấn phốt phát cuối cùng? Có phải người Nhật đã trả thù lao một phần cho ai
chăng?”
Vì những bài báo lập luận vững chắc và chỉ trích nặng lời Toàn quyền Pasquier,
Tòa soạn báo E.E.I bị ông Dự thẩm Bartet ra lệnh khám xét ban đêm, và buộc nhà
báo phải nộp hồ sơ liên quan đến vụ Hoàng Sa.
Trong số báo 743, Cucherousset cực lực phản đối và nhất quyết không giao nộp hồ
sơ, nếu muốn nghiên cứu thì chỉ cho đọc tại chỗ. Trong số báo 746,
Cucherousset viết, nếu không có loạt bài của E.E.I thì có lẽ Chính quyền Pháp
đã làm ngơ vụ Trung Hoa chiếm hữu Hoàng Sa.
Trong số báo 777, Cucherousset đã trình bày nguyên nhân tại sao ông phản đối
Toàn quyền Pasquier nhún nhường trước hành động của Tổng đốc Quảng Đông:
a/ Chính quyền tỉnh Quảng Đông chưa bao giờ được nước Pháp thừa nhận là một
chính quyền tự trị.
b/ Chính phủ Trung Hoa ở Bắc Kinh lúc trước, ở Nam Kinh bây giờ, chưa hề lên tiếng
tranh giành quần đảo này và không thừa nhận chủ quyền Quảng Đông.
c/ Ngược lại từ hơn 100 năm nay rồi, nước Nam đã có chủ quyền trên Hoàng Sa và
sự việc này có ghi rõ trong văn khố của triều đình Huế. Hơn nữa Chính quyền
Quảng Châu không thể dựa vào lý do ngư phủ Trung Hoa thường xuyên ghé đảo bắt
rùa, phơi lưới để bảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa, bởi ngư phủ Pháp cũng thường
làm như vậy tại bờ biển Terre Neuve nhưng Terre Neuve vẫn thuộc nước Anh. Trong
khi ấy, trong một phiên họp của Hội đồng Tư vấn Đông Dương, để trả lời vị đại
diện của xứ An nam là ông Piguax, Toàn quyền Pasquier cho biết vụ Hoàng Sa đã
có tiếng vang tại Pháp và vị Tổng trưởng Bộ Thuộc địa đã quyết định đưa nội vụ
ra Tòa án quốc tế La Haye.
Ngoài tờ báo E.E.I, c̣òn nhiều báo của người Pháp ở Đông Dương và cả ở Pháp
cũng đăng những bài về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa như Revue
Indochinoise Illustrée, số 38, 1929 (Sài g̣òn), tr.605-616, P.A. La Picqueđã dẫn
nhiều tài liệu về chủ quyền của Việt Nam; việc Chính quyền Quảng Đông trả lời
không chịu trách nhiệm về việc dân Hải Nam cướp trên các tàu bị đắm Le Bellona
năm 1895 và Imezi Maru 1896 vì Hoàng Sa không thuộc chủ quyền Trung Quốc; dịch
lại bài báo đăng trên Quảng Châu Báo ngày 10-7-1909 kể chuyện chuyến đi khảo
sát Hoàng Sa của hải quân tỉnh Quảng Đông. Mémoire No 3 du Service
Océanographique de L’Indochine(Sài gòn), 1930, tr.24 do J. de Lacour &
Jabouillé kể chuyến đi khảo sát Hoàng Sa 21-7-1926 theo lời mời của M.A.Krempf.
Avenir du Tonkin, số 10495 (17-04-1931), tr.2 khẳng định năm 1816, vua Gia Long
long trọng cho dựng cờ trên đảo. Vì thế, cho nên dù năm 1909 Trung Hoa có muốn
giành chủ quyền, Chính phủ Pháp phải lên tiếng xác nhận quyền bảo vệ các đảo ấy.
Trong hoàn cảnh hiện nay, không ai có thể phủ nhận sự quan trọng có tính cách
chiến lược của Hoàng Sa.
Nature(Paris), số 2916, 01-11-1933, tr.385-387, Sauvaire-Jourdan cho biết trên
tờ Công báo ngày 19-7-1933 đăng một thông tư về việc hải quân Pháp chiếm cứ một
vài đảo ở phía Nam Biển Đông, và điểm qua lịch sử từ khi vua Gia Long cho hải đội
đổ bộ và dựng cờ trên đảo năm 1816, đến sự kiện năm 1909 được bài báo ở Quảng
Châu đăng ngày 20-6-1909, và đưa ra các đề nghị không nên bỏ rơi quyền sở hữu
các đảo ấy.
La Géographie, bộ LX (tháng 11-12/1933), tr.232-243, A. Olivier Saix đưa ra những
luận cứ theo đó Chánh quyền bảo hộ của Pháp tại Việt Nam phải bảo vệ và duy trì
chủ quyền cho Việt Nam vì:
a/ Hoàng Sa có vị trí rất cần thiết để lập hải đăng.
b/ Là vị trí thiết lập đài quan sát khí tượng và trạm vô tuyến kịp thời báo thời
tiết bão cho tàu bè.
c/ Hoàng Sa có nhiều nguồn lợi kinh tế: quặng phốt phát, cá, rùa…
d/ Vị trí quân sự quan trọng của Hoàng Sa: phong tỏa Vịnh Bắc Việt, cảng Đà Nẵng,
hải lộ quốc tế.
e/ Lịch sử xác lập chủ quyền: Vua Gia Long đã cho hải đội Hoàng Sa đổ bộ lên đảo
dựng cờ, lập cứ điểm từ năm 1816. Thượng thư Bộ binh Thân Trọng Huề ngày
3-3-1925 nói rằng: “Các đảo đó bao giờ cũng là sở hữu của nước An nam, không có
gì tranh cãi trong vấn đề này“.
Rõ ràng với sức ép dư luận trên, chính quyền thực dân Pháp đã phải hành động.
Trước hết, khoảng năm 1930 đến 1933, Pháp đã thiết lập chủ quyền tượng trưng tại
Trường Sa cũng như Hoàng Sa.
Với Hoàng Sa thuộc về Trung Kỳ, đất bảo hộ của Pháp, nên không cần phải hành động
xác lập chủ quyền mà chỉ cần những hành động thực thi chủ quyền. Tiếp theo những
hành động khảo sát Hoàng Sa đầu tiên năm 1925 của Viện Hải dương học Nha Trang,
là những hoạt động theo đề nghị của dư luận báo chí thời ấy. Ngày 15–6–1932,
chính quyền Pháp ra Nghị định số 156-SC ấn định việc thiết lập một đơn vị hành
chánh gọi là quận Hoàng Sa tại quần đảo Hoàng Sa.
Năm 1937, Kỹ sư trưởng công chánh Gauthier nghiên cứu khả năng xây dựng một hải
đăng trên đảo Pattle (Hoàng Sa); năm 1938 Pháp bắt đầu phái các đơn vị bảo an tới
các đảo và xây dựng môt hải đăng, một trạm khí tượng (OMM đăng ký số 48860) đặt
ở đảo Pattle (Hoàng Sa) và số 48859 ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée), một trạm vô tuyến
TSF trên đảo Pattle.
Tháng 3-1938, Hoàng đế Bảo Đại ký Dụ số 10 sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa
Thiên thay vì Nam Ngãi như các triều trước. Tháng 6 năm 1938, một đơn vị bảo
an lính Việt Nam tới trấn đóng Hoàng Sa. Một bia chủ quyền được dựng trên đảo
Pattle với dòng chữ: “République Francaise- Royaume d’Annam- Archipels des
Paracels 1816-Ile de Pattle 1938″.
Còn với quần đảo Trường Sa phía Nam thuộc địa giới Nam Kỳ, là đất thuộc địa của
Pháp, nên Pháp có hành động xác lập chủ quyền cho nước Pháp. Song để ngăn chặn
nước thứ ba cũng như đối phó với pháp lý quốc tế, Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại
giao Pháp đã viết trong Bản Ghi chú cho Vụ Châu Á Đại dương rằng: “Việc chiếm hữu
quần đảo Spratleys do Pháp tiến hành năm 1931-1932 là nhân danh Hoàng đế An
nam”. Ngày 13-4-1933, một hạm đội nhỏ do Trung tá Hải quân De Lattre chỉ huy từ
Sài gòn đến đảo Trường Sa (Spratley) gồm thông báo hạm La Malicieuse, pháo
thuyền Alerte, các tàu thủy văn Astrobale và De Lanessan. Sự xác định chủ quyền
được tiến hành theo nghi thức cổ truyền của Phương Tây: Một văn bản được thảo
ra và các Thuyền trưởng ký thành 11 bản. Mỗi đảo nhận 1 bản, được đóng kín
trong 1 chai rồi được gắn trong 1 trụ xi măng xây trên mỗi đảo tại một địa điểm
ấn định và cố định trên mặt đất. Người ta kéo cờ Tam tài và thổi kèn trên từng
ḥòn đảo.
Ngày 26-7-1933, Bộ Ngoại giao Pháp đã có một thông tin đăng trên Công báo Pháp,
ghi rõ 6 nhóm hải đảo và tiểu đảo từ nay đã thuộc chủ quyền Pháp quốc, trong
đó gồm nhóm Spratley (8o39’ B – 111o55’ Đ) và các tiểu đảo nhỏ xung quanh được
chiếm hữu sớm nhất từ ngày 13-4-1930, đảo Thị Tứ được chiếm cuối cùng vào ngày
12-4-1933. Ngày 21-12-1933, Thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký nghị định số
4762 sát nhập các nhóm hải đảo thuộc quần đảo Pratleys (Trường Sa) vào tỉnh Bà
Rịa.
Năm 1938 Pháp lập một bia chủ quyền, một hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm
vô tuyến tại đảo Itu – Aba (Ba Bình).
Tất cả những hành động thực thi chủ quyền của Pháp nhân danh “An nam” trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa diễn ra một cách suôn sẻ, dù muộn màng, không gặp
bất cứ ngăn cản nào, bởi chỉ duy có Chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông có
ý đồ, có dự án khai thác Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, và muốn chiếm hữu
Hoàng Sa vì cho là đất vô chủ. Song, các dự án của chính quyền địa phương đó mới
chỉ trên giấy tờ, chính quyền trung ương Trung Quốc chưa mặn mà. Tuy vậy Nhật Bản
lại giấu mặt về ý đồ chiếm giữ Hoàng Sa và Trường Sa, đã lên tiếng phản đối sự
chiếm giữ của Pháp trong thông báo cho Chính phủ Pháp vào ngày 24-7-1933. Ngày
31-3-1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản ra tuyên bố gửi tới Đại sứ Pháp ở Nhật Bản khẳng
định Nhật Bản là người đầu khám phá Trường Sa vào năm 1917 và tuyên bố Nhật kiểm
soát Trường Sa. Nhật đã nhanh chóng chiếm đảo Phú Lâm (Ile Boisée) của Hoàng
Sa và đảo Itu-Aba (Ba Bình) của Trường Sa vào năm 1938, song mãi đến ngày
9-3-1945, Nhật mới bắt làm tù binh những lính Pháp đóng ở các đảo Hoàng Sa cũng
như đất liền của Việt Nam.
Luật pháp quốc tế thời đó sau Định ước Berlin năm 1885 được hiểu là:
- Việc xác định chủ quyền lãnh thổ là hành động của quốc gia. Chính quyền địa
phương (tỉnh Quảng Đông) không đủ danh nghĩa đại diện cho quốc gia.
- Cũng theo Định ước này, hành động của phía Trung Quốc (năm 1909) không đủ
mang lại danh nghĩa chủ quyền cho Trung Quốc vì chưa thỏa mãn các tiêu chí về
xác định chủ quyền lãnh thổ thời đó. Do vậy, sự im lặng của Chính quyền Pháp ở
Đông Dương không có nghĩa là sự thừa nhận chủ quyền của phía Trung Quốc.
Nhật bản bại trận và đầu hàng vô điều kiện Đồng minh 16-8-1945, và đã rút khỏi
Hoàng Sa và Trường Sa.
C- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA, PHÁP TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT
NAM TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TỪ THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN THÁNG 4 NĂM 1956, KHI
PHÁP XÂM CHIẾM TRỞ LẠI
Ngày 19-8-1945 Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2-9-1945 nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa (VNDCCH) ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ở Quảng
trường Ba Đình, chấm dứt chế độ đô hộ của Pháp.
Sau khi Nhật bại trận, Pháp trở lại đô hộ Việt Nam, quân Tưởng Giới Thạch tiếp
quản những nơi quân đội Nhật chiếm đóng từ phía Bắc vĩ tuyến 16. Cả hai nước
Pháp và Trung Hoa đều tiếp tục tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Việt Nam bận lo kháng chiến chống Pháp trong khi quân Pháp làm chủ Biển Đông.
Quân Nhật rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa vào năm 1946, Pháp trở
lại Việt Nam và làm chủ Biển Đông, lập tức cử một phân đội bộ binh Pháp đổ bộ
từ tàu Savorgnan de Brazza đến thay thế quân đội Nhật từ tháng 5/1946, nhưng
đơn vị này chỉ ở đó trong vài tháng. Trong thời gian từ 20 đến 27/5/1946, đô đốc
D’Argenlieu, Cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm L’Escarmouche ra nắm tình
hình đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí Minh
lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì ngày
26-10-1946, lợi dụng thời cơ, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa dân quốc gồm 4 chiến
hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc Trung đội
độc lập về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của quân thủy đánh bộ) xuất phát từ
cảng Ngô Tùng ngày 9-10-1946. Ngày 29-11-1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên
tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa
(mà lúc này Trung Quốc còn gọi là Đoàn Sa, chưa phải mang tên Nam Sa – tác giả
nhấn mạnh).
Trong phiên họp ngày 11-10-1946, Ủy ban liên bộ về Đông Dương thuộc Chính phủ
lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định quyền của Pháp đối với quần đảo Hoàng
Sa và thể hiện việc tái chiếm bằng việc xây dựng một đài khí tượng. Đại tướng Juin
cho rằng “lợi ích cao nhất” của nước Pháp là phòng ngừa mọi ý đồ của một cường
quốc nào muốn chiếm lại các đảo có khả năng kiểm soát việc ra vào căn cứ tương
lai Cam Ranh, con đường hàng hải Cam Ranh – Quảng Châu – Thượng Hải [Thư số
199/DN/S. col ngày 7-10-1946 của Đại tướng Juin, Tổng Tham mưu trưởng quân đội
Pháp tại Paris].
Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp trên của Trung
Hoa dân quốc và ngày 17-10-1947 Thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến
Hoàng Sa để yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Phú Lâm nhưng họ không rút.
Pháp gửi một Phân đội lính trong đó có cả quân lính “Quốc gia Việt Nam” đến
đóng một đồn ở đảo Pattle (Hoàng Sa). Chính phủ Trung Hoa dân quốc phản kháng
và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25-2 đến ngày 4-7-1947 tại
Paris. Tại đây, Chính phủ Trung Hoa dân quốc đã từ chối không chấp nhận đề xuất
của Pháp nhờ trọng tài quốc tế giải quyết. Ngày 1-12-1947, Bộ Nội vụ Chính quyền
Tưởng Giới Thạch công bố tên Trung Hoa cho hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh
thổ Trung Hoa.
Vào cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập, không còn ràng
buộc vào Hiệp định Patenôtre 1884 với Pháp. Song Pháp vẫn cho rằng theo Hiệp định
Sơ bộ ngày 6-3-1946, VNDCCH vẫn còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại
giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn
đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chính quyền Pháp bổ sung quân sự bằng cách đóng quân và thực hiện quản lý trên
hai quần đảo. Điều này chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đã
được củng cố vững chắc từ thời Pháp thuộc.
Do Chính phủ VNDCCH kháng chiến chống Pháp và hải quân Pháp làm chủ Biển
Đông, nên với Hiệp định ngày 8-3-1949, Pháp gây dựng được chính quyền thân Pháp
còn gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, đối đầu với chính
quyền Cách mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên thực tế, trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đang làm chủ Biển Đông trong đó có quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa thay mặt nhà nước Việt Nam.
Tháng 4 năm 1949, Đổng lý văn phòng của Quốc trưởng Bảo Đại là Hoàng thân Bửu Lộc,
trong một cuộc họp báo tại Sài gòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt
Nam đã từ lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa.
Vào ngày 1-10-1949, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập ở lục địa Trung
Quốc, Trung Hoa dân quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu rút ra Đài Loan. Tháng
4/1950, đồn lính Trung Hoa dân quốc chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm (Ile
Boisée) thuộc quần đảo Hoàng Sa rút lui. Còn đồn lính của Pháp đóng ở đảo Hoàng
Sa (Pattle) vẫn còn duy trì. Đến năm 1954, Pháp đã chính thức trao lại quyền quản
lý cho Chính phủ Việt Nam.
Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại
quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ
tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.
Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự từ ngày 5-9 đến ngày 8-9-1951 ký
kết hòa ước với Nhật. Ngày 5-9-1951, họp khoáng đại, Ngoại trưởng Gromyko đề
nghị 13 khoản tu chính. Khoản tu chính liên quan đến việc Nhật nhìn nhận chủ
quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn
nữa dưới phía Nam. Khoản tu chính này đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống
và 3 phiếu thuận. Như vậy, cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với
các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ trong khuôn khổ
một Hội nghị quốc tế.
Ngày 7-9-1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại
long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt
Nam: “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer
les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et
Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam”.
Không một đại biểu nào trong hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.
Kết thúc hội nghị là ký kết hòa ước với Nhật ngày 8-9-1951. Trong hòa ước này
có điều 2, đoạn 7 ghi rõ: “Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tham vọng đối
với các quần đảo Paracels và Spratly“.
Song đến đây, tình hình chính trị thế giới đã bắt đầu biến chuyển, chiến
tranh lạnh giữa hai khối Tư bản chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu và khối Xã hội chủ
nghĩa do Liên Xô đứng đầu đã bắt đầu tác động đến Việt Nam. Do đó chủ quyền của
Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa ngày càng bị tranh chấp, sự bảo vệ chủ quyền
trở nên hết sức khó khăn do có nhiều thế lực quốc tế can thiệp.
Ngày 24-8-1951, lần đầu tiên Tân Hoa xã lên tiếng tranh cãi về quyền của Pháp
và những tham vọng của Philippines, và kiên quyết khẳng định quyền của Trung Quốc.
Khi ra thông báo về bản dự thảo Hiệp ước với Nhật ở San Francisco, ngày
15-8-1951, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai ra
bản tuyên bố công khai khẳng định cái gọi là «tính lâu đời» của các quyền của
Trung Quốc đối với quần đảo, trong khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa
dân quốc không hề tham dự hội nghị này.
Cũng lợi dụng cục diện chiến tranh lạnh đang xảy ra, để giành giật thế lực ở Biển
Đông, phái đoàn Liên Xô đề xuất giao cho Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quản lý
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đề nghị này đã không được Hội nghị chuẩn nhận,
song vẫn là cái cớ để Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lên tiếng. Dù sao, sau năm
1950, ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không còn quân nước ngoài nào chiếm
đóng, mà chỉ có lực lượng trú phòng Việt Nam của chính quyền Bảo Đại.
Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công
nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam. Điều
1 qui định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ
tuyến 17). Đường ranh tạm thời này cũng được kéo dài ra bằng một đường thẳng từ
bờ biển ra ngoài khơi theo điều 4 của Hiệp định. Cũng theo điều 14 của bản Hiệp
định, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại sự thống nhất cho Việt Nam,
bên đương sự và quân đội do thỏa hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành
chánh trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông ở dưới
vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chánh của phía chính quyền quản lý miền
Nam vĩ tuyến 17.
Như thế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới sự quản lý hành chánh của
chính quyền ở phía Nam vĩ tuyến 17, lúc ấy hai quần đảo này chưa có sự chiếm
đóng của bất cứ quân đội nước nào ngoài quân đội Pháp. Chính quyền ở Phía Nam
vĩ tuyến 17 phải chịu trách nhiệm quản lý hai quần đảo trên ở ngoài khơi bờ biển
Việt Nam dưới vĩ tuyến 17.
Tháng 4/1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Miền Nam Việt Nam, Philippines
nêu vấn đề chủ quyền.
D – HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC, PHÁP, VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ CÁC
NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG
SA TỪ NĂM 1956 ĐẾN 1975
Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20-7-1954, khiến tháng
4/1956 quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam, để lại khoảng trống bố phòng ở Biển
Đông. Các nước trong khu vực trong đó có Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa
dân quốc (Đài Loan) và Philippines cho đây là cơ hội tốt để chiếm đóng trái
phép Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Khi ấy, quân đội Quốc gia Việt Nam sau gọi là Việt Nam cộng hòa (VNCH) đã chiếm
đóng các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle). Ngày
1-6-1956, Ngoại trưởng chính quyền VNCH Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định
chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài hôm sau,
Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết những quyền hạn mà Pháp đã có đối với
hai quần đảo trên từ năm 1933.
Ngày 22-8-1956, lục hải quân VNCH đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường
Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa,
ngày 22-8-1956, lực lượng hải quân của Chính phủ VNCH đã đổ bộ lên các hòn đảo
chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ.
Tháng 10/1956, hải quân Đài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu – Aba). Ngày
22-10-1956, sắc lệnh số 143–N của Tổng Thống VNCH thay đổi địa giới các tỉnh và
tỉnh lỵ tại “Nam Việt” (Nam Bộ). Trong danh sách các đơn vị hành chánh “Nam Việt”
đính kèm theo sắc lệnh có những thay đổi tên mới, trong đó có tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu được gọi là tỉnh Phước Tuy và đảo Spratly thuộc tỉnh Phước Tuy được gọi
là Hoàng Sa cùng tên với quần đảo phía Bắc là Paracels.
Trong khi ấy, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng đã nhanh chóng chiếm giữ đảo
Phú Lâm (Ile Boisée), đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa, song hành với việc
Đài Loan chiếm giữ đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Một tình hình hết sức
phức tạp, đen tối cho chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Song từ sau Hiệp định Genève mà Trung Quốc cũng đã ký, chính quyền phía Nam mới
là chính quyền có trách nhiệm quản lý chủ quyền Ḥoàng Sa và Trường Sa, vì
hai quần đảo này nằm phía dưới vĩ tuyến 17.
Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 chỉ ủng hộ Tuyên bố 12 hải lý về
lãnh hải của Trung Quốc, và những biểu hiện khác của Chính phủ VNDCCH vào thời
gian này không có giá trị pháp lý quốc tế về sự từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa.
Ngày 13-7-1961, Sắc lệnh số 174–N của Tổng thống VNCH đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc
tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải trực
thuộc quận Hòa Vang.
Trong sắc lệnh trên, ghi rằng: Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa
Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam (Điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã bao gồm
trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải, trực thuộc quận
Hòa Vang. Xã Định Hải dưới quyền một phái viên hành chính (Điều 2). Tháng
2/1959, nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng trên phần phía Tây quần đảo
Hoàng Sa, nhưng không thành công, bị hải quân VNCH bắt và trả lại phía Trung Quốc.
Ngày 13-7-1971, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH, ông Trần Văn Lắm có mặt ở Manila đã
lên tiếng nhắc lời yêu sách của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ sở cho những
yêu sách đó trên quần đảo Trường Sa.
Ngày 6-9-1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền VNCH đã sửa đổi việc quản lý
hành chính của Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy mà trước
đây vào năm 1956, thời chính quyền Ngô Đình Diệm đã có sắc lệnh gọi quần đảo
Spratly là quần đảo Hoàng Sa.
Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972 giữa Mỹ và Trung Quốc, tạo sự nứt rạn không
thể hàn gắn giữa Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trong khi đó cuộc chiến
tranh ở Việt Nam đang ở giai đoạn gần kết thúc. Cục diện chính trị thế giới biến
đổi đã ảnh hưởng đến Việt Nam, đến cả sự bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng
Sa và Trường Sa.
Ngày 11-1-1974, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố việc sáp nhập các đảo của
quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy của Việt Nam cộng hòa là sự lấn chiếm
lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc đối với hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 12-1-1974, chính phủ VNCH tuyên bố bác bỏ yêu sách của Trung Quốc.
Ngày 15-1-1974, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bắt đầu triển khai một lực lượng hải
quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh cá và có phi
cơ yểm trợ.
Bộ Tư lệnh hải quân VNCH đã điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đến Hoàng
Sa để tuần phòng và canh chừng.
Sau khi phát hiện sự có mặt của quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại vùng
Hoàng Sa với cờ dựng trên các đảo Quang Anh (Money), Hữu Nhật (Robert), lực lượng
quân đội VNCH được tăng cường với khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần dương hạm Trần
Bình Trọng, hộ tống hạm Nhật Tảo. Lực lượng tăng cường của Việt Nam cộng hòa có
các toán biệt hải được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ của quân đội Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa. Vài vụ xô xát đã xảy ra, súng đã nổ trên đảo Quang Hòa (Duncan)
và một đảo khác.
Ngày 16-1-1974, chính phủ VNCH đã ra tuyên cáo bác bỏ luận cứ của Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa và đưa ra những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để
xác nhận chủ quyền của VNCH trên hai quần đảo này.
Hai bên bắt đầu bố trí toàn bộ lực lượng, các chiến hạm hai bên cách nhau chừng
200 m. Sau đó hai bên bỗng tách rời nhau và cuộc hải chiến bắt đầu diễn ra vào
lúc 10 giờ 25 phút ngày 19-1-1974. Một chiến hạm Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bị
bốc cháy. Các chiến hạm Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mang số 281, 182 dồn sức
đánh trả khiến chiến hạm Nhật Tảo bị trúng đạn trên đài chỉ huy và hầm máy
chính, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh. Sau hơn một giờ giao tranh, hai chiến hạm
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chìm, hai chiếc khác bị bắn cháy. Bên lực lượng
VNCH ngoài hộ tống hạm Nhật Tảo bị chìm, còn có một số chiến hạm bị thương tổn,
trong đó có một số binh sĩ bị bắt và mất tích. Một người Mỹ tên Gerald Kosh, là
nhân viên dân sự thuộc văn phòng Tùy viên quốc phòng Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài gòn,
được biệt phái làm liên lạc viên cạnh Bộ chỉ huy hải quân Quân Khu I Việt Nam cộng
hòa cũng bị bắt [Nhật báo Chính Luận, số 2982, ngày 31-1-1974]. Kosh được trao
trả lúc 12 giờ trưa ngày 31-1-1974. Ngày 17-2-1974, chính quyền Bắc Kinh trả tự
do cho 43 quân nhân và nhân viên của VNCH tại Tân Giới (Hồng Kông).
Lầu Năm Góc được chính quyền Sài gòn yêu cầu can thiệp, quyết định đứng ngoài cuộc
xung đột. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Arthur Hummel cho chính quyền Sài gòn
biết Mỹ không quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.
Qua thông điệp ngoại giao được gởi đến tất cả các nước ký Hiệp định Paris
(1973), chính quyền VNCH nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam,
yêu cầu Hội đồng Bảo an họp một phiên họp đặc biệt.
Ngày 1-2-1974, chính quyền Sài gòn quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở quần
đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua Đại sứ ở
Manila, chính quyền Sài gòn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Trường
Sa và Hoàng Sa.
Ngày 1-2-1974, đoàn đại biểu của VNCH ra tuyên bố tại hội nghị của Liên hợp quốc
về Luật Biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo, tố
cáo Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa. Ngày 30-3-1974, đại biểu chính quyền VNCH khẳng
định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội đồng
Kinh tài Viễn Đông họp tại Colombia. Ngày 14-2-1975, Bộ Ngoại giao chính quyền
VNCH công bố Sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.
Tóm lại, Pháp xâm chiếm trở lại Việt Nam, dẫn đến cuộc kháng chiến chống Pháp
(1945-1954), Pháp vẫn làm chủ Biển Đông và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại
Hoàng Sa và Trường Sa. Hiệp định Genève năm 1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở xuống
thuộc Chính quyền phía Nam quản lý. Khi Pháp rút quân tháng 4/1956, xảy ra chiến
tranh lạnh giữa Liên Xô đứng đấu phe Xã hội chủ nghĩa và Mỹ đứng đầu phe Tư bản
chủ nghĩa, Việt Nam bị chia cắt khiến hai chính quyền bị cuốn hút vào sự đối đầu,
không có điều kiện bảo vệ toàn vẹn được chủ quyền để cho Trung Quốc chiếm từng
phần rồi toàn thể Hoàng Sa, VNCH chỉ trấn giữ quần đảo Trường Sa song lại để
cho Đài Loan chiếm đảo Ba Bình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa, để cho
Philippines chiếm một số đảo, đá trong đó có Song Tử Đông ở Trường Sa.
Chính vì vậy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các nước trong khu vực tranh chấp chủ
quyền của Việt Nam cũng như Trung Quốc chiếm giữ trái phép hoàn toàn Hoàng Sa
và Trường Sa trong thời kỳ này chính là những biến động chính trị ở Việt Nam
cũng như trên thế giới, do Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, không còn bảo vệ đồng
minh VNCH, để cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực.
E- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC, VIỆT NAM CÙNG CÁC NƯỚC TRONG KHU
VỰC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1975 ĐẾN
NAY
- Từ 1975 đến 1990, Việt Nam hợp tác toàn diện với Liên xô, Trung Quốc
đã ký với Mỹ Thông cáo chung ở Thượng Hải năm 1972; mâu thuẫn giữa
Trung Quốc và Liên Xô không giảm; Việt Nam và Trung Quốc xảy ra chiến
tranh năm 1979 khiến tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng
Sa và Trường Sa càng trở nên gay gắt.
Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, thời cơ chiến lược giải phóng Miền Nam đã đến. Bộ
Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong mùa khô 1975, bao
gồm cả các đảo và các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc…
Ngày 5-4-1975, Bộ Tư lệnh Hải quân chủ trương chuẩn bị chiến đấu giải phóng quần
đảo Trường Sa. Lực lượng tham gia giải phóng gồm có các tàu của đoàn vận tải
quân sự 125, đoàn 126 đặc công, tiểu đoàn 471, đặc công quân khu 5 và tiểu đoàn
407 cùng lực lượng đặc công tỉnh Khánh Hòa. Bộ Tư lệnh Hải quân chủ trương
nhanh chóng đánh đảo Song Tử Tây trước để làm bàn đạp và rút kinh nghiệm đánh
tiếp các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, An Bang, Trường Sa và các đảo còn lại của
quần đảo.
Ngày 9-9-1975, đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại hội
nghị khí tượng thế giới tiếp tục đăng ký Đài khí tượng Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa.
Ngày 10-9-1975, Bắc Kinh gửi công hàm cho VNDCCH khẳng định chủ quyền của Trung
Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam
Sa).
Ngày 24-9-1975, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ VNDCCH do Tổng
Bí thư Lê Duẩn dẫn đầu, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố sau này
hai bên sẽ bàn bạc về vấn đề Tây Sa và Nam Sa.
Ngày 12-5-1977, Chính phủ Việt Nam tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt
Nam.
Tháng 9/1977, khi thăm Philippines và tháng 10/1977 khi đi thăm Malaysia, Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với Tổng thống Ferdinand Marcos và Thủ tướng Hussein
On rằng hai bên sẽ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng thương lượng hòa
bình.
Tháng 3/1978, Hội nghị hành chính thế giới về thông tin vô tuyến điện thông qua
một nghị quyết cho phép Trung Quốc sử dụng một số tần số trên vùng trời Hoàng
Sa.
Ngày 30-12-1978, người phát ngôn Bộ ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (CHXHCNVN) ra tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong tuyên bố ngày 29-2-1978
của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, khẳng
định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại
lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất bình bằng
thương lượng hòa bình.
Ngày 30-7-1979, Trung Quốc đã công bố tại Bắc Kinh tài liệu để chứng minh rằng
Việt Nam đã “thừa nhận” chủ quyền Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa.
Ngày 7-8-1979, Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN ra tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa và
quần đảo Trường Sa, bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc trong việc công bố một số
tài liệu của Việt Nam liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định
lại chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này, nhắc lại lập trường của Việt
Nam về việc giải quyết sự tranh chấp về hai quần đảo giữa hai nước bằng thương
lượng hòa bình.
Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố một số tài liệu về chủ quyền Việt
Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam bác bỏ việc Philippines tuyên bố sáp nhập
hầu hết lãnh thổ Trường Sa vào lãnh thổ Philippines.
Ngày 30-1-1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện về Tây Sa và Nam Sa.
Ngày 5-2-1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc
của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30-1-1980.
Ngày 29-4-1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Malaysia phản đối việc
Malaysia công bố bản đồ Malaysia lấn vào vùng biển và thềm lục địa Việt Nam tại
vùng Trường Sa.
Ngày 8-5-1980, nhân chuyến viếng thăm và hội đàm với Malaysia, Ngoại trưởng
Nguyễn Cơ Thạch đã khẳng định đảo An Bang là của Việt Nam.
Tháng 6/1980, tại Hội nghị Khí tượng Khu Vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu
Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của
Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam được giữ
nguyên trạng trong danh sách các trạm như cũ.
Ngày 13-6-1980, Việt Nam yêu cầu OMM đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng
lưới OMM.
Tháng 12/1981, Tổng cục Bưu điện Việt Nam điện cho Chủ tịch Ủy ban đăng ký tần
số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Tháng 12/1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố sách trắng: “Quần đảo Hoàng Sa và
quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.
Tháng 6/1982, Tân Hoa xã loan tin là một hải cảng lớn được xây dựng tại Hoàng
Sa.
Tháng 10/1982, tại Hội nghị toàn quyền của UIT, đại biểu Việt Nam tuyên bố
không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève.
Ngày 12-11-1982, Chính phủ Việt Nam công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng
lãnh hải.
Ngày 4 tháng 2 năm 1982, Chính phủ Việt Nam thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh
Quảng Nam – Đà Nẵng.
Ngày 9-12-1982, Chính phủ Việt Nam lập huyện Trường Sa. Đến ngày 28-12-1982,
Chính phủ Việt Nam quyết định huyện Trường Sa được nhập vào tỉnh Phú Khánh.
Tháng 1/1983, Hội nghị Hành chính Thế giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem
xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa
tại hội nghị sắp tới.
Cũng tháng 1/1983, Hội nghị Hàng không Khu vực châu Á Thái Bình Dương họp ở
Singapore. Trung Quốc muốn mở rộng FIR Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và FIR
thành phố Hồ Chí Minh, nhưng Hội nghị quyết định duy trì nguyên trạng.
Từ ngày 4 đến 16-4-1984, đoàn đại biểu Quốc hội CHXHCNVN và đoàn đại biểu tỉnh
Phú Khánh thăm huyện Trường Sa. Thứ trưởng Bộ Thủy sản Việt Nam Vũ Văn Trác đi
khảo sát nghề cá tại huyện Trường Sa.
Ngày 25-4-1984, Ủy ban Địa danh Trung Quốc công bố tên mới cho các đảo, bãi, đá
trong Biển Đông trong đó có đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt
Nam.
Ngày 6-5-1984, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối việc đặt tên của
Trung Quốc.
Tại Hội nghị Tổ chức Thông tin Vũ trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại
Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi
Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc.
Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối Malaysia chiếm đóng đảo Hoa Lau trong quần đảo
Trường Sa. Việt Nam phản đối việc ngày 1-6-1984 Quốc hội Trung Quốc tuyên bố việc
thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa, Nam Sa.
Vào đầu năm 1985, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam ra
thăm quần đảo Trường Sa.
Năm 1986, ông Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng Lưu Hoa
Thanh, Trương Trọng Tiến đi thị sát Hoàng Sa.
Tháng 5/1987, Đô đốc Giáp Văn Cường, Tư lệnh Hải quân Việt Nam ra thăm quần đảo
Trường Sa.
Từ 16-5 đến 6-6-1987, hải quân Trung Quốc tập trận tại vùng biển Trường Sa.
Tháng 10/1987, hải quân Trung Quốc diễn tập quân sự tại Tây Thái Bình Dương và
Nam Biển Đông.
Ngày 10-11-1987, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên đá Louisa (Nandong Jiao) (113°–
6°8).
Tháng 1/1988, một lực lượng lớn tàu chiến, có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa,
đi từ đảo Hải Nam xuống phía Nam, trong đó có bốn chiếc được phái đến khu vực
quần đảo Trường Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động của hai tàu vận tải Việt
Nam trong khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên là hai bãi san hô còn
đang lập lờ mặt nước. Quân lính Trung Quốc cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời
cho tàu chiến thường xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải của Việt Nam
đang tiến hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các đảo do quân đội Việt
Nam bảo vệ. Trong đợt hoạt động trên, Trung Quốc đã thành lập một Bộ tư lệnh đặc
biệt, sử dụng lực lượng của hạm đội Nam Hải, được tăng cường một bộ phận của hạm
đội Đông Hải và họ thường xuyên dùng trên 20 tàu các loại ở khu vực quần đảo
Trường Sa.
Ngày 14-3-1988, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nổ ra cuộc chiến đấu trên biển
Nam Trung Quốc. Cuộc chiến đấu này mặc dù chỉ diễn ra trong thời gian 28 phút
nhưng nó đã làm cả thế giới quan tâm theo dõi. Trung Quốc sử dụng một biên đội
tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang
bị tên lửa và pháo cỡ 100 mm, vô cớ tiến công bắn chìm ba tàu vận tải Việt Nam
đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Lan Đao, Cô Lin, Gac Ma thuộc cụm đảo
Sinh Tồn của Việt Nam. Tàu vận tải số 64 của hải quân Việt Nam chở đầy binh
lính bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ số 505 và một tàu vận tải khác số 605 bị bắn
trọng thương, kéo theo đám cháy và cột khói đen ngòm. Tàu đổ bộ số 505 bị chìm
trên đường về, còn tàu đổ bộ số 605 thì bị mắc cạn. Cuộc chiến đấu không cân sức
trên giữa các tàu vận tải của Việt Nam với các tàu chiến của Trung Quốc, vẻn vẹn
chỉ diễn ra có 28 phút đã kết thúc với kết quả phía Việt Nam có một tàu bị chìm
tại chỗ, hai tàu bị thương, chết và bị thương 20 người, mất tích 74 người. Còn
phía Trung Quốc chỉ có một số nhân viên khảo sát và nhân viên khác trên đảo bị
thương, ngoài ra không bị tổn thất gì, đây là một trận chiến đấu trên biển mà
phía Trung Quốc cho là “đánh gọn và đẹp mắt” (sic!).
Về sự kiện xảy ra ngày 14-3-1988, Trung Quốc nói rằng: “Trung Quốc buộc phải phản
kích để tự vệ”. Theo cách nói đó, có nghĩa là hải quân Việt Nam là kẻ tấn công
(bằng hai tàu vận tải!), còn hải quân Trung Quốc là kẻ phòng thủ tự vệ. Sau các
va chạm trên, hải quân Trung Quốc tiếp tục ngăn cản các hoạt động tiếp tế do
tàu Việt Nam thực hiện.
Tính đến ngày 6-4-1988, Trung Quốc đã chiếm đóng: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá
Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi.
Ngày 3-1-1989, Trung Quốc đặt bia chủ quyền trên các bãi họ chiếm được trong
năm 1988: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá
Subi.
Năm 1988, chính phủ CHXHCNVN đã thông báo cho Liên hợp quốc, gửi nhiều công hàm
phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3/1988
đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục
chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14-4-1988, Bộ
Ngoại giao CHXHCNVN phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam [Nghị quyết ngày 13-4-1988 thành lập tỉnh
Hải Nam].
Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao CHXHCNVN công bố Sách Trắng: “Các quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa và luật pháp quốc tế”.
Ngày 14-8-1989, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh tế – Khoa học
– Dịch vụ trên vùng bãi ngầm Tứ Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc
Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam có toạ độ 7 – 8o3 B , 109 – 112 o20 Đ.
Ngày 2-10-1989, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu
trong bản tuyên bố của Trung Quốc ngày 28-4-1989, trong đó người phát ngôn Bộ
Ngoại giao Trung Quốc đã lên án Việt Nam xâm phạm trái phép một số đảo và cù
lao tại bãi Vạn An và Bãi Vạn Nhã thuộc “quần đảo Nam Sa”.
Ngày 9-3-1990, Trung Quốc kết thúc đợt khảo sát khoa học ở quần đảo Trường Sa bắt
đầu từ ba năm trước.
Ngày 18-3-1990, nhiều tàu đánh cá từ Quảng Châu đến đánh cá ở Trường Sa.
Ngày 16-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho Đại sứ quán Trung Quốc
tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự, tàu khảo sát, tàu
đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.
Ngày 28-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc
tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên
quần đảo Trường Sa.
- Từ năm 1990 đến nay, khối Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam đổi
mới, làm bạn với tất cả các nước kể cả Trung Quốc và Mỹ, sự tranh
chấp Hoàng Sa và Trường Sa giữa Trung Quốc và Việt Nam không còn gay
gắt như trước, song số dự trữ dầu lửa lớn ở Biển Đông khiến Trung
Quốc vẫn chưa chịu trả Hoàng Sa cho Việt Nam và các nước khu vực, và
Trung Quốc vẫn tiếp tục tranh chấp với Việt Nam ở Trường Sa.
Tháng 8/1990, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đề nghị tiến hành khai thác chung
khu vực quần đảo Trường Sa.
Ngày 1-12-1990 trong cuộc đi thăm Philippines, Thủ tướng Lý Bằng nói: “Chúng ta
có thể tìm ra một giải pháp thích hợp đối với vấn đề Trường Sa với các bên hữu
quan vào lúc thích hợp, nếu không phải là vào lúc này, tôi nghĩ chúng ta có thể
gác lại vấn đề này và không để nó gây trở ngại trong quan hệ giữa Trung Quốc với
các nước láng giềng hữu quan”.
Ngày 1-2-1991, Trung Quốc xây dựng nhiều hải đăng trên các bãi đá ngầm mới chiếm
được trong quần đảo Trường Sa.
Ngày 25-5-1991, Trung Quốc công bố kết quả 8 năm khảo sát khoa học ở Trường Sa
kể từ năm 1984.
Ngày 4-7-1991 tại KuaLa Lumpur tổ chức một hội thảo không chính thức về giải
quyết các tranh chấp trên vùng Biển Đông, Trung Quốc có cử đoàn cán bộ tham
gia, người phát ngôn Bắc Kinh tuyên bố việc tham gia như thế không có nghĩa là
Trung Quốc đã thay đổi lập trường và nói: “Trung Quốc chủ trương giải quyết
tranh chấp bằng phương pháp hòa bình, Trung Quốc sẵn sàng cùng các nước liên
quan thảo luận con đường và phương pháp cùng khai thác”.
Từ ngày 15 đến 18-7-1991, do sáng kiến của Indonésia, một hội nghị quốc tế đã
được tổ chức giữa các quốc gia trong khu vực về vấn đề quần đảo Trường Sa. Bản
thông cáo cuối cùng khuyến khích đối thoại và đàm phán.
Ngày 10-11-1991, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký tại Bắc Kinh thông báo
chung về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Ngày 25-2-1992, Quốc hội Trung Quốc công bố luật lãnh hải và vùng tiếp giáp
Trung Quốc, quy định lãnh hải rộng 12 hải lý và lãnh thổ Trung Quốc giữa bốn quần
đảo Đông, Tây, Nam, Trung Sa và đảo Điếu Ngư. Việt Nam đã lên tiếng công khai
phản đối sự kiện này.
Năm 1994, Việt Nam phản đối Trung Quốc đã xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền
kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc ký với Công ty Crestones (Mỹ) cho phép thăm dò
khai thác dầu mà Trung Quốc gọi là hợp đồng Vạn An Bắc 21.
Ngày 18-4-1994, ông R.C. Thompson, Chủ tịch Công ty Năng Lượng Crestones (Mỹ)
ra thông báo với báo chí, nói rằng họ đang tiến hành khảo sát địa chấn và chuẩn
bị thăm đảo để đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực, gọi là hợp đồng “Vạn An
Bắc 21″. Thông báo nói rằng: “Việc nghiên cứu khoa học và kế hoạch khai thác
thương mại trong tương lai là những bước phát triển mớinhất của lịch sử nghiên
cứu khoa học và thăm dò ở Biển Nam Trung Hoa và Khu vực Vạn An Bắc của Trung Quốc,
bắt đầu từ những báo cáo năm 200 trước Công Nguyên vào thời Hán Vũ Đế!”
Trước năm 1957, đã có nhiều công ty nước ngoài khảo sát địa vật lý và khoan
thăm dò ở thềm lục địa Nam Việt Nam, trong đó có hai giếng đã phát hiện dầu
thương mại. Vào cuối những năm 1970, có nhiều công ty như AGIP (Ý), DIMINEX
(CHLB Đức), BOW VALLEY (Canada) đã thăm dò 5 lô dầu ở thềm lục địa miền Nam Việt
Nam. Sau đó đến 1979, các công ty trên chấm dứt hoạt động. Tháng 9/1975, Tổng cục
Dầu khí Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu
khí. Thềm lục địa Việt Nam rộng chừng 1,3 triệu km2, được chia thành 171 lô với
diện tích trung bình mỗi lô khoảng 8000 km2. Trong đó có 31 lô có độ sâu mực nước
biển dưới 50 m, 35 lô độ sâu từ 50-100 m, 10 lô từ 100-250 m, 38 lô từ 200-2000
m và 57 lô là có mực nước sâu trên 2000 m. Trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam
có nhiều bồn trầm tích đệ tam có triển vọng chứa dầu khí. Cho đến cuối những
năm 80, trên toàn thềm lục địa Việt Nam, chủ yếu ở phía Nam, đã khảo sát trên
100.000 km tuyến địa vật lý, khoan hàng chục giếng tìm kiếm thăm dò và đã phát
hiện được ba mỏ dầu khí (Bạch Hổ, Rồng và Đại Hùng). Từ năm 1986, mỏ Bạch Hổ bắt
đầu được khai thác. Sản lượng năm 1986: 0,04 triệu tấn, 1988: 0,68 triệu tấn,
1989: 1,5 triệu tấn, 1990: 2,7 triệu tấn, 1991: 3,96 triệu tấn. [PTS Nguyễn Hiệp,
Phó Tổng Giám đốc Công ty Dầu khí Việt Nam, "Thăm dò và khai thác dầu khí ở
Việt Nam", Khoa học và Tổ Quốc, (số 93), 1992, tr.5].
Việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam trên khiến người ta
thấy tiềm năng vùng Biển Đông có nhiều triển vọng về dầu khí. Các tài liệu của
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho con số trữ lượng từ 23 đến 30 tỷ tấn dầu tại
vùng Nam Biển Đông. Chính số lượng dự trữ dầu lớn như vậy đã khiến
cho sự tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa
chưa dễ gì chấm dứt.
F- SỰ THỰC VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ GIẢI PHÁP BỀN VỮNG
CHO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA, BIỂN ĐÔNG
Như trên đã trình bày, Trung Hoa khi bắt đầu khảo sát Tây Sa vào năm 1909 đã
cho rằng Tây Sa là vô chủ. Năm 1898, chính quyền Quảng Châu, Trung Hoa đã trả lời
các khiếu nại của Công sứ Anh ở Bắc Kinh về việc những người Trung Hoa ở Hải
Nam cướp phá các tàu Bellona của Đức (bị đắm năm 1895) và tàu Humeji- Maru của
Nhật (bị đắm năm 1896) do Công ty Bảo hiểm người Anh bảo hiểm, rằng: “quần đảo
Tây Sa là những ḥòn đảo bị bỏ rơi, chúng không phải sở hữu của cả Trung Hoa lẫn
An Nam, cũng không sáp nhập về hành chánh vào bất kỳ quận nào của Hải Nam và
không có nhà chức trách nào chịu trách nhiệm về cảnh sát của chúng”. [Monique
Chemillier - Gendreau, sđd, p.158].
Đến khi Pháp bắt đầu đưa ra những bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam,
Trung Hoa hồi đó và Trung Quốc bây giờ lại luôn luôn nói rằng Tây Sa (tức
Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) đã thuộc về Trung Quốc từ lâu, bất khả
tranh nghị, khi thì nói từ đời Minh, khi thì nói từ đời Tống. Sự thực
thế nào?
Sự thực là quần đảo Hoàng Sa không hề là vô chủ như luận điểm của
chính quyền Trung Hoa năm 1909: Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam
đã xuất hiện liên tục qua các đời, từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ
XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có
khoảng gần 30 tư liệu các loại, không ít ỏi như thư của Toàn Quyền Pasquier gửi
cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc địa ngày 18-10-1930, mà đã khẳng định chủ quyền của Việt
Nam hết sức rõ ràng.
Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu
về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ
yếu là “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”, “Toản tập An Nam lộ” trong sách “Thiên hạ
bản đồ”, trong Hồng Đức bản đồ năm 1686 và Phủ biên tạp lục năm 1776 của Lê
Quý Đôn.
Trong “Thiên Nam tứ Chí lộ đồ thư” hay “Toản tập An Nam lộ”, năm 1686 có bản đồ
là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai
thác ở bãi Cát Vàng. Còn tư liệu trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, năm
1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề
cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt
động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải.
Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính
sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
- “Dư địa chí” trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821)
và sách Hoàng Việt địa dư chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách
trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cuối thế
kỷ XVIII.
- Đại Nam thực lục phần Tiền biên, Quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844)
tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của
đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.
- Đại Nam thực lục chính biên Đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); Đệ nhị kỷ (khắc in
xong năm 1864); Đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự
tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Tài liệu rất quí giá, là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được
lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản
tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay
những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm
cột mốc… Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại
tiếp tục.
- Trong bộ sách Đại Nam nhất thống chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai
và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định
hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản…
Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ bãi
Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.
Đặc biệt nhất sự kiện năm 1836 Vua Minh Mạng sai Suất đội thủy binh
Phạm Hữu Nhật, người gốc đảo Lý Sơn chỉ huy thủy quân đi cắm cột
mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, sau đó thành lệ
hàng năm. Đại Nam thực lục chính biên Đệ nhị kỷ, Quyển 165 cũng đã
chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua hàng năm
cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn
cắm cột mốc, dựng bia.Châu bản tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm
Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất
rõ: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột
mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc“.
Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ : “Vua Minh
Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai Suất đội thủy quân Phạm Hữu
Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi
bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mỗi bài khắc những
chữ: “Minh Mạng thập thất niên Bính Thân thủy quân Chánh đội trưởng
suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử
hữu chí đẳng tư (tờ 25b)”.
(Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân Chánh đội trưởng suất
đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu
dấu để ghi nhớ).
Vì sự kiện trên đã thành lệ hàng năm, nên Khâm định Đại Nam hội điển
sự lệ (1851), Quyển 207, tờ 25b-26a và Quyển 221 đã chép lại việc
dựng miếu, dựng bia đá, cắm cột mốc năm 1836 và lệ hàng năm phái
biền binh thủy quân đi vãng thám, vẽ bản đồ…
Về những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy:
- Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong Quyển 3 của Hải ngoại kỷ sựđã nói đến Vạn Lý Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.
- Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc.
Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung Quốc.
Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1/1974, nhiều đoàn khảo
cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền
cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì
để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt Bắc ngôi miếu
“Hoàng Sa tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée) bằng chứng hiển
nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.
Về những tư liệu Phương Tây cũng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
- Nhật Ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần
đảo thuộc về nước An Nam.
- Le Mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769 – 1825)
viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng
định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo
Paracels.
- Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions,
moeurs et coutumes của Giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng Hoàng
đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm
1816.
- An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd xuất bản năm 1838, phụ
bản của cuốn từ điển La tinh – Annam, ghi rõ «Paracels seu Cát Vàng»
với tọa độ rõ ràng như hiện nay chứ không phải như Trung Quốc cho là
ven bờ biển. («Seu» tiếng la tinh có nghĩa «hay là», Cát Vàng: chữ
nôm, Hoàng Sa: chữ Hán).
- The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của Giám
mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo
Paracels.
- The Journal of the Geographycal Society of London (năm 1849) GutzLaff ghi
nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ
để thu thuế ở Paracels.
Về sau Trung Hoa đưa ra những bằng chứng ngụy tạo nói ngược lại luận
điệu ban đầu xem là đất vô chủ (1909) mà cho rằng Tây Sa đã thuộc Trung
Quốc từ lâu. Ngay tên Tây Sa và Nam Sa cũng mới đặt từ sau năm 1907, và
Nam Sa lại bất nhất khi chỉ Trung Sa, khi chỉ Nam Sa ở vị trí hiện nay
(Spratleys).
Sự thực chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa đã rõ ràng như trên. Khi bị Trung
Hoa xâm phạm, vào thời điểm ban đầu, với tư cách là người đến xâm chiếm thuộc địa,
người Pháp chưa hiểu hết lịch sử chủ quyền lãnh thổ Việt Nam nên có lúc đã
không lên tiếng bảo vệ kịp thời. Tuy nhiên, không lâu sau đó, chính quyền thực
dân Pháp đã có đủ thông tin và thay đổi quan điểm, bảo vệ chủ quyền cho Việt
Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Sự thực là bất cứ chính quyền nào, kể cả chính quyền thuộc địa
chịu trách nhiệm về quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, chưa bao giờ từ
bỏ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Nguyên nhân chủ yếu khiến cho Trung Quốc tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại
Hoàng Sa và Trường Sa chính là Việt Nam đã bị Pháp đô hộ và chịu ảnh hưởng những
biến động chính trị quốc tế cũng như quốc nội, nhất là từ thời chiến tranh
lạnh và sau này và tham vọng bành trướng mở rộng lãnh thổ bằng vũ lực.
Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử dẫn đến
sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đã quá
rõ ràng, nên giải pháp phải là “cái gì của César phải trả lại cho
César”.
Bất kỳ
chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào, dù khác chính kiến đều coi
trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch
sử đã chứng minh dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên
cường, bất khuất, cuộc đấu tranh sẽ thành công. Đối với các nước Asean, trên cơ
sở Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, sẽ tương nhượng trong tinh thần hợp
tác giữa các thành viên trong khối, đôi bên đều có lợi.
Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông, đã có những bài học lịch sử
quý giá. Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm luôn kiên quyết bảo vệ quyền độc
lập tự chủ của mình, song luôn luôn tôn trọng nước đàn anh Trung Quốc, luôn
theo truyền thống làm “phên dậu của Trung Quốc”, không bao giờ làm hại đến quyền
lợi Trung Quốc.
Bất cứ giải pháp nào dựa vào sức mạnh như người Nhật đánh chiếm bằng vũ lực Hoàng Sa, Trường Sa năm 1938, 1939 cũng như Trung Quốc dùng võ lực năm 1974 chỉ mang tính nhất thời, không có giá trị pháp lý. Có đế quốc nào mạnh như đế quốc La Mã thời Cổ đại hay đế quốc Mông Cổ thời Trung đại, hay đế quốc Anh, Pháp thời cận đại, rồi có ngày cũng suy yếu, phải bỏ những lãnh thổ chiếm giữ bằng vũ lực.
Bất cứ giải pháp nào muốn vững bền phải dựa trên sự thực lịch sử, nhà nước Việt
Nam đã chiếm hữu thật sự trước tiên tại Hoàng Sa và Trường Sa từ lúc chưa có
ai tranh chấp, và phải dựa vào trật tự thế giới hiện hành khi có Hiến chương
Liên Hiệp Quốc năm 1945 và những Nghị quyết của Liên hiệp quốc sau đó, cùng với
Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982.
Mọi người kể cả người Trung Quốc phải thấy rõ sự thật lịch sử trên!
Việt Nam phải luôn luôn nhắc đi nhắc lại cho cả thế giới được biết rằng vụ Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 là trái phép hoàn toàn, trái với Hiến chương và các nghị quyết của Liên hiệp quốc. Không thể để cho Trung Quốc coi vụ chiếm đóng Hoàng Sa như đã xong. Khi nội lực Việt Nam chưa đủ mạnh thì dứt khoát không ký kết bất cứ một hiệp định nào gây sự thiệt hại cho Việt Nam.
Việc cần làm ngay là phải quảng bá rộng rãi lịch sử về chủ quyền của nhà nước
Việt Nam đới với Hoàng Sa và Trường Sa, và xây dựng nội lực Việt Nam vững mạnh,
đoàn kết hùng cường.
Cuộc đấu tranh đòi lại Hoàng Sa cho Việt Nam cũng như sự bảo toàn
quần đảo Trường Sa là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhưng nhất
định sẽ thành công cũng như Việt Nam đã từng giành được độc lập tự
chủ dù bị phong kiến phương Bắc đô hộ hơn một ngàn năm.
HNNN