Thư mục: Tranh luận |
Nghệ thuật vị… cái chi?
(Nhân vụ VAALA và ông họa sĩ Brian Doan)
Khi làm việc gì người ta đều có mục đích.
Thợ giày đóng giày để cho người ta mang, thợ may may áo cho người ta măc…
Người làm thơ, người viết văn, người họa sĩ làm ra những tác phẩm chỉ để mà chơi!!!
Thợ may, thợ giày, thợ xe, v.v… là những người phục vụ người
khác, phục vụ xã hội. Còn làm thơ, nếu không để tán gái như người ta thường
làm; viết văn, nếu không để được người ta kêu là văn sĩ cho oai; vẽ chân dung,
nếu không để cho người đẹp mê mẩn thì vì cái chi?
Làm thơ để chơi, viết văn để chơi, vẽ để khỏi… ngứa tay, chỉ để thỏa mãn cái
thích của mình, của mình mà thôi, thì cái đó gọi là “Nghệ thuật vị nghệ thuật”.
Ngược lại thì gọi là “Nghệ thuật vị nhân sinh.”
Hồi xưa, xưa là trước 1945, ông Xuân Diệu làm thơ để chơi, không dùng nó để tán gái như các ông thi sĩ đời sau, thì ông theo trường phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật.” Thật vậy, coi như bài thơ sau đây là bản tuyên cáo rất hùng hồn của ông:
Tôi là con chim đến từ núi lạ,
Ngứa cô hát chơi
Khi nắng sớm vào reo um khóm lá
Khi trăng khuya lên ủ mộng chân trời
Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn
Kêu tự nhiên mà biết bởi sao ca?
Tiếng to nhò không giúp làm trái chín
Khúc huy hoàng không giúp nỡ bông hoa
Hát vô ích thế mà chim vỡ cổ
Héo tim non cho quá độ tài tình.
Xuân Diệu ví người nghệ sĩ như một kẻ từ xứ lạ tới đây,
giống như ngày xưa người ta gọi Lý Bạch là trích tiên vậy. Trích tiên có nghĩa
rằng Lý Bạch nguyên là tiên trên trời, vì một lỗi lầm nào đó, bị phạt mà đày
xuống trần gian. Xuân Diệu làm thơ cũng chỉ vì… ngứa tay làm chơi, như chim
ngứa cổ hát chơi vậy, mỗi khi nắng mới “reo um khón lá” hoặc khi “trăng lên ủ
mộng chân trời”. Xuân Diệu làm thơ yêu, yêu say đắm, nhưng ông không biết tại
sao ông làm thơ, giống như chim “biết bởi sao ca?” Tiếng chim hót, trên thực
tế, không ích lợi gì hết, không làm cho trái cây mau chín hơn (để người ta ăn),
không làm cho bông hoa nở sớm hơn (để người đời thưởng thức). Thế là hót mà vô
ích, không ích lợi chi hết, rồi chim vỡ cổ mà chết, chết vì cái hay của nó, sự
tài tình trong tiếng hát của nó vậy.
Hót vỡ cổ mà chết, có lẽ Xuân Diệu không lấy sự tích ở con chim quốc, con chim
Nguyễn Khuyến có lần nói tới là:
Khắc khoải sầu đưa, giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ!
Đêm đêm ròng rã kêu ai đó
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ!
(Quốc kêu cảm hứng)
Chuyện cổ tích lịch sử kể rằng xưa vua Thục Phán (Thục Đế)
của ta, sau khi mất nước, đớn đau quá, chết hóa thành con chim quốc (ở quê tôi
thường gọi là con chim cuốc). Con chim quốc đi ăn đêm, cứ luôn miệng kêu “quốc!
quốc!” Danh từ Hán Việt quốc là nước. Mất nước nên gọi nước. Kêu tới sáng thì
chim “vỡ cổ mà chết” (Hát vô ích thế mà chim vỡ cổ - Xuân Diệu viết vậy).
Hoài Thanh, khi còn trẻ, dạy học ở trường Thuận Hóa, Huế. Ông sống trên một căn
gác nhỏ, “nóng như lửa” vì phía dưới chủ nhà làm lò bún. Trên căn gác nầy, ông
đã đọc cả ngàn bài thơ để nhận xét, tuyển chọn và phê bình, viết thành cuốn
“Thi Nhân Việt Nam.”
Ngay từ hồi đó, ông đã bút chiến với Hải Triểu (Nguyễn Khoa Văn, bố Nguyễn Khoa
Điềm) về quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” chống lại Hải Triều, và cả Trường
Chinh trên báo “Tin Tức”, cơ quan tuyên truyền hoạt động bán công khai của Cộng
Sản Việt Nam hồi năm 1937.
Theo kháng chiến, rồi theo Việt Cộng, Hoài Thanh “vất vả” với Cộng Sản vì lập
trường văn nghệ nầy, nhất là sau khi Trường Chinh “đọc” “Đề Cương Văn hóa” năm
1947 trên chiến khu Việt Bắc. Đề cương văn hóa nầy là một phiên bản (hay nôm na
là “chôm”, là đi theo, là học đòi, là ăn cắp từ một bài viết của Mao Trạch Đông
về chủ nghĩa Mác với văn học Trung Hoa. Mao chủ trương văn nghệ phải là tuyên
truyền. Trường Chinh thì “hô hào” đỉnh cao của văn nghệ và tuyên truyền. Dĩ
nhiên, nó không phải là thứ “ngứa cổ hát chơi” của Xuân Diệu, không phải là
“Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh, mặc dầu mọi người vẫn nghĩ rằng Hoài Thanh
là môt nhà phê bình văn học chân chính và uyên bác.
Mặc dù học hành và dạy học ở Huế khá lâu, tôi không bao giờ chấp nhận được thái
độ, kiểu cách của mấy “anh Huế” thường bị phê phán là “Trí thức làm dáng” hoặc
“Văn nghệ làm dáng”.
Văn nghệ cũng như trí thức không phải là đồ trang sức để cho thiên hạ thấy mình
hơn người, cao hơn người. Nó phải có môt mặt tích cực nào đó, hữu ích nào đó
cho người khác và xã hội. Nó không phải là thứ để chứng tỏ cho ngưới khác thấy
mình “giỏi hơn người”, “tài hơn người” hay “cao hơn người”. Và chắc chắn nó
không phải là một thứ để “tuyên truyền” như Việt Cộng chủ trương. Nó không phục
ai cả, nói cho đúng hơn, phục vụ cho một cá nhân, một tập đoàn, đảng phái nào
đó. Nó phục vụ dân tộc và nhân loại thì đúng hơn.
Thật đấy, Lý Bạch khi viết “Phù dung như diện, liễu như mi” là để ca ngợi sắc
đẹp của Dương Quí Phi. Có lẽ lời khen ấy làm cho Đường Minh Hoàng không vui. Và
nó có lợi hay có hại gì trong việc An Lộc Sơn nổi loạn cũng không rõ!? Và nó
cũng có thể là một trong nhiều lý do khiến Đường Minh Hoàng sai bộ hạ đạp cho
Lý Bạch một đạp rớt xuống sông, - mà người đời sau vẻ vời và tin nhãm rằng Lý
Bạch say rượu bèn nhảy xuống sông ôm trăng mà chết. Dám làm thơ ca ngợi sắc đẹp
của Dương Quí Phi trước mặt Đường Minh Hoàng thì Đường Minh Hoàng yên tâm làm
sao được chứ???!!!
Bạn thơ với Lý Bạch, Đỗ Phủ thì ngược lại.
Nhiều nhà phê bình văn học cho rằng tính đạo đức trong thơ Đỗ Phủ là rõ lắm.
Ông xuất thân trong một dòng họ danh tiếng nhưng đã mạt thời, sa sút, mồ côi mẹ
từ nhỏ, phải sống với một người thím. Ông có học nhưng đường cử nghiệp chẳng
hanh thông, đường hoạn lộ cũng gập ghềnh, đứt đoạn nhiều lần.
Cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn kéo dài 8 năm, gây ra nhiều chết chóc và tàn phá
cho nước Tầu thời ấy, giết chết và làm thất tán hàng chục triệu người.
Đỗ Phủ “ngụp lặn” trong nỗi đau khổ vì chiến tranh, như cánh bèo trôi sông vậy.
Cuộc sống trôi nổi làm cho ông hoà nhập với nỗi đau chung của mọi người, cảm
nhận được chính nỗi đau của chính ông và người đồng cảnh. Những cảnh khổ ấy đã
trở thành đề tài chính trong thơ ông. Chính ông lại từng bị quân giặc bắt, ông
bị bệnh hoạn nặng nề.
Những năm cuối, đời ông rất thê thảm: Đau bệnh mắt, bị điếc và cuối cùng lại
bệnh phổi. Năm 59 tuổi, ông chết trên một chiếc thuyền con rách nát, nghèo đến
độ, khi ông chết, không có chiếc khăn hay miếng vải liệm, vợ ông phải lấy chiếc
áo rách đắp mặt cho ông.
Sau đây, tôi trích hai bài thơ: Một bài ông viết cho người và một bài người
viết cho ông, để quí độc giả thấy rõ một điều, “nghệ thuật vị… cái gì?”
Thạch Hào Lại
(Đây là một bài thơ rất nổi tiếng của Đỗ Phủ, nói về việc vua bắt lính khi An
Lộc Sơn nổi loạn. Cũng giống như “Chinh phụ ngâm” của văn học nước ta. Vua thì
ở trong cung cấm, kín cổng cao tường, chỉ nghe những lời trình tấu tốt đẹp,
những lời nịnh hót. Khi có giặc thì ra lệnh bắt lính để có người đi dẹp giặc,
đâu có biết những nỗi khổ của dân, khi bị bắt lính thì tình cảnh của họ, cha mẹ
vợ con họ như thế nào???!!!)
Lính lệ Thạch Hào
Chiều ghé xóm Thạch Hào,
Đêm, nha lại bắt người.
Ông già vượt tường trốn,
Bà già ra cửa coi.
Viên lại quát dữ quá
Bà van thật đến khổ!
Van rằng: “Có ba trai
Nghiệp Thành đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn:
Hai đứa vừa chết trận,
Đứa chết đành thiệt phận,
Đứa sống đâu chắc chắn!
Trong nhà không còn ai,
Có cháu đang bú thôi.
Mẹ cháu chưa rời cháu,
Ra vào quần tả tơi.
Tuy sức yếu, già đây,
Xin theo về đêm nay,
Đến Hà Dương kịp việc,
Còn thổi bữa cơm mai.”
Đêm khuya lời đã tắt,
Dường nghe khóc ấm ức.
Sáng ra chào lên đường,
Chỉ cùng ông lão biệt
Khương Hữu Dụng dịch
Vua chúa thời xưa cai trị, không ít người không lưu tâm đến
nỗi khổ của dân. Trong nhiều trường hợp, chẳng có một thứ luật lệ nhân đạo nào
đem ra áp dụng cho dân đỡ khổ. Ví dụ như gia đình Đỗ Phủ nói trong thơ: Nhà có
ba người con trai đều bị bắt lính cả. Hai người đã chết, còn một người còn
sống, tính mạng cũng không chắc được an toàn. Chỉ còn lại ông già xin đi để
khỏi bị quan nha rầy rà.
Nếu chế độ cai trị của vua chúa nhân đạo, nhà có ba con trai, bắt đi lính hai
là được rồi, phải cho một người được ở nhà để chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ chứ?!
Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, gia đình tôi có 3 anh em (Bốn người nhưng người
anh cả bị Tây thủ tiêu năm 1950). Khi Hùng móm và tôi đi lính thì ngừời anh kế
tôi được giải ngũ vì có mẹ già trên 60 tuổi. Chuyện nầy cũng làm tôi nhớ tới
cuốn phim “Save Private Ryan”, câu chuyện cả một đại đội, thi hành lệnh tướng
tham mưu trưởng liên quân, trải qua nhiều gian khổ và nguy hiểm, tìm cho được
binh nhì Ryan đem về trả cho người mẹ đã có hai con hy sinh trong trận
Normandy.
Cán bộ Cộng Sản thì khoe rằng, trong chiến tranh “Chống Mỹ cứu nước”, ở Bắc vĩ
tuyến 17, nhà nào có con trai, con gái đều tình nguyện gia nhập bô đội để đi
nam. Nhà có bao nhiêu người con đi bấy nhiêu, không ai bị bắt cả. “Đảng và nhà
nước” không cho đi cũng tình nguyện đi cho được, khiến nhiều gia đình chẳng còn
người con nào, cả làng chẳng còn người trẻ nào, chỉ còn lại toàn những ông già
bà lão.
Khi làm bài thơ nầy cũng như các bài thơ hiện thực khác, Đỗ
Phủ đứng về phía nhân dân, nói lên nỗi gian khổ, đau đớn và ly biệt của người
dân dưới thời loạn lạc.
Trong bài thơ sau đây, Phùng Quán thuật lại một đêm ở Nghi Tàm (nhà ông ở Nghi
Tàm), ông đọc thơ Đỗ Phủ cho vợ nghe, vợ ông khóc vì thương cảm cho số phận của
nhà thơ Tầu đời Đường (mà cũng là số phận Phùng Quán ngày nay dưới chế độ Cộng
Sản Việt Nam đó chăng???!!!)
Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe
Ngoài trời trăng như tuyết
Trắng lạnh đến thấu xương
Trong nhà vách trống toang
Gió ra vào thoả thích...
Hồ khuya sương tĩnh mịch
Trộn nước lẫn cùng trời
Con dế chân bờ dậu
Nỉ non hoài không thôi...
Tựa lưng ghế cành ổi
Vai khoác áo bông sờn
Tôi ngồi đọc Đỗ Phủ
Vợ vừa nghe vừa đan...
Đỗ Phủ tự Tử Mỹ
Thường xưng già Thiếu Lăng
Sinh ở miền đất Củng
Cách ta hơn ngàn năm
Thơ viết chừng vạn trang
Chín nghìn trang thất lạc
Người đời sau thu nhặt
Còn được hơn ngàn bài
Chỉ hơn ngàn bài thôi
Nỗi đau đã Thái Sơn
Nếu còn đủ vạn trang
Trái đất này e chật!...
Thơ ai như thơ ông
Lặng im mà gầm thét
Trang trang đều xé lòng
Câu câu đều đẫm huyết...
Thơ ai như thơ ông
Mỗi chữ đều như róc
Từ xương thịt cuộc đời
Từ bi thương phẫn uất
Thơ ai như thơ ông
Kể chuyện mái nhà tốc
Vác củi làm chuồng gà...
Đọc lên trào nước mắt!
Giữa tuyết trong đò con
Đỗ Phủ nằm chết đói
Đắp mặt áo bông sờn
Kéo hoài không kín gối.
Ngàn năm nay sông Tương
Sóng còn nức nở mãi
Khóc chuyện áo bông sờn
Đắp mặt thơ chết đói!...
Giật mình trên tay vợ
Bỗng nẩy một hạt sương
Hạt nữa rồi hạt nữa
Tôi nghẹn dừng giữa trang.
Kéo áo bông che vai
Ngồi lặng nghe sương rơi
Con dế chân bờ dậu
Nỉ non hoài không thôi!...
Vụng về...tôi dỗ vợ:
Em ơi đừng buồn nữa
Qua rồi chuyện ngàn năm
Bao nhiêu nước sông Tương...
Miệng nói nhưng lòng nghĩ:
Ôi thân phận nhà thơ
Khác nào thép không rỉ
Ngàn năm cũng thế thôi !...
Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt!
Em ơi, nếu Đỗ Phủ
Vai khoác áo lông cừu
Bụng no đến muốn mửa
Viết sao nổi câu thơ
Ngàn năm cháy như lửa:
Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường xương chết buốt
Em ơi, nếu Tử Mỹ
Nhà ở rộng mười gian
Rào sắt với cổng son
Thềm cao đá hoa lát
Chắc ông không thể làm
Mưa thu mái nhà tốc
Em ơi, nếu Thiếu Lăng
Cặp kè vợ béo nứt
Một bước là ngựa xe
Đứng đi quân hầu chật
Đời nào ông lắng nghe
Tiếng gào và tiếng nấc
Bà cụ xóm Thạch Hào
Gái quê tân hôn biệt...
Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt!
Chính vì thế em ơi
Nhân loại ngàn năm qua
Máu chảy như sông xiết
Cũng là để cho Thơ
Sẽ không còn phải viết
Sẽ không còn phải viết
Những Hành qua Bành Nha
Vô gia Thuỳ Lão biệt...
Cũng là để cho Thơ
Sẽ không còn phải chết
Giữa tuyết, trong đò con...
Đắp mặt áo bông sờn.
Đừng buồn nữa em ơi
Chuyện ngàn năm...ngàn năm
Đỗ Phủ làm rất nhiều thơ, cả vạn trang, thất lạc hết, người
đời sau gom lại được cỡ ngàn bài. Một ngàn bài thơ nói về nỗi đau xé lòng, đẫm
máu và nước mắt của người Tầu thời ấy, nỗi đau đã lớn như núi Thái Sơn (núi lớn
nhất bên Tầu). Nếu còn đủ một vạn trang thơ, trái đất nầy không còn đủ để chứa
hết những nỗi đau của người dân Tầu thời ấy.
Cả ngàn năm nay, sông Tương còn nức nở về cái đau, về “Đáp mặt thơ chết đói”
của Đỗ Phủ thời xưa ấy.
Thơ Đỗ Phủ không những là tiếng nói mà còn là tiếng than, tiếng khóc của người
nghèo, người hoạn nạn, là nạn nhân của chiến tranh, là người bị bắt lính, là
người bỏ thân xác ngoài chiến trường. Trong một chế độ vua chúa bất công, chiến
tranh, loạn lạc, tiếng thơ ông không phải là giọng loa tuyên truyền của giai
cấp thống trị, của bọn tranh giành gái đẹp và giang sơn của An Lộc sơn. Tiếng
thơ ông đứng về phía người bị thống trị, bị đàn áp, là về phía nhân dân. Cho
nên, ông không được ăn ngon mặc đẹp, không có xe ngựa nhà cao cửa rộng, vợ đẹp
con khôn:
Em ơi, nếu Tử Mỹ
Nhà ở rộng mười gian
Rào sắt với cổng son
Thềm cao đá hoa lát
Chắc ông không thể làm
Mưa thu mái nhà tốc
Em ơi, nếu Thiếu Lăng
Cặp kè vợ béo nứt
Một bước là ngựa xe
Đứng đi quân hầu chật
Đời nào ông lắng nghe
Tiếng gào và tiếng nấc
Bà cụ xóm Thạch Hào
Gái quê tân hôn biệt...
Ông chịu một đời nghèo khổ, đớn đau, bệnh tật… và chết không
có được cái khăn, phải lấy chiếc áo bông sờn đắp mặt. Ấy là tại ông đứng về
phía những người bị cai trị, ông không đứng về phía giai cấp thống trị.
Trong viễn tượng đó, Phùng Quán kết luận bằng mấy câu thơ, được ông nhắc đi
nhắc lại mấy lần, cho đến câu thơ chót:
Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt!
Nếu cuộc sống nhân dân đầy dẫy và chỉ toàn là “Máu lệ khôn cùng” thì phải là “Thơ chết đắp mặt”, là những người làm thơ như Đỗ Phủ phải chết “Giữa tuyết trong đò con. Đắp mặt áo bông sờn.”
Cũng là để cho Thơ
Sẽ không còn phải chết
Giữa tuyết, trong đò con...
Đắp mặt áo bông sờn.
Đừng buồn nữa em ơi
Chuyện ngàn năm...ngàn năm
Việc thơ “đi với nhân dân” để chết “Giữa tuyết trong đò con,
Đắp mặt áo bông sờn” đâu phải chỉ là chuyện ngàn năm trước. Nó là “chuyện ngàn
năm… ngàn năm” nghĩa là ngàn năm trước đã vậy, bây giờ cũng vậy và ngàn năm sau
nữa cũng vậy!!!
Mấy câu thơ nầy của Phùng Quán, đối với người còn chút tâm, đọc lên chắc phải
ứa nước mắt khóc cho Đỗ Phủ và cho những ai làm thơ “đi với nhân dân.”
Cho nên, ở trong nước, không thiếu người làm thơ làm văn nhưng “Không đi với
nhân dân” nhưng “đi với giai cấp thống trị” để khỏi sống cái cảnh:
Ngoài trời trăng như tuyết
Trắng lạnh đến thấu xương
Trong nhà vách trống toang
Gió ra vào thoả thích...
Hồ khuya sương tĩnh mịch
Trộn nước lẫn cùng trời
Con dế chân bờ dậu
Nỉ non hoài không thôi...
Và khỏi phải:
Giũa tuyết, con đò con,
Thơ chết áo đáp mặt.
Ở hải ngoại cũng không kém thua. Có người vội vàng cắt bỏ
những câu, những đoạn đã “lỡ dại” phê phán chế độ, phê phán Việt Cộng để nhờ
Nguyễn Đắc Xuân đem sách về in ở Huế hay in ở Saigon. Có “nhà văn” ở Sacramento
đã khuyên tôi hãy bôi dầu, bôi nhớt vào đầu cho trơn để chui đầu cho lọt vào
Việt Nam in sách!!!!! Ôi “nhà văn” thời đại ngày nay.
Người ta đã quên đi những câu thơ rất căn bản khi học Lục Văn Tiên của cụ Đồ
Chiểu:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thàng gian bút chẳng tà!”
Mấy thằng gian là mấy thằng theo Tây. Hãy dùng văn chương
(bút chẳng tà) mà đâm chúng nó. Bây giờ là bọn theo ai?
Đó là năm học lớp Đệ Ngũ (chương trình giáo dục Việt Nam Cộng hòa).Qua năm sau,
học truyện Kiều, thầy giáo giảng lại câu trong “Lời tựa Truyện Kiều” của Trần
Trọng Kim “Văn dĩ tải đạo.”
Học cho cao, khoe cho dữ, nào là giáo sư với không phải giáo sư, nào tiến sĩ thiệt
hay tiến sĩ giấy, mà quên đi những điều căn bản ấy. Hỡi các “nhà văn” hay “nhà
giăng” hay “nhà gian” muốn làm vừa lòng Việt Cộng, muốn bôi dầu mỡ vào đầu cho
trơn để chui cho lọt vào cái rọ heo Việt Cộng, không muốn làm người, chỉ muốn
làm heo!!!
Như vậy thì
“Nghệ thuật vị… cái chi?”
Nghệ thuật vị nghệ thuật?
Nghệ thuật vị nhân sinh?
Nghệ thuật vị tuyên truyền?
Nghệ thuật vị nhân dân?
Nghệ thuật vị tải đạo?
Nghệ thuật vị lương tâm?
Cái nào không từ lương tâm mà ra?
Đỗ Phủ chết trong đò con, lấy áo bông sờn đáp mặt, cũng vì lương tâm. Lương tâm
buộc ông đứng về phía những người bị đàn áp bóc lột.
Vậy thì Phùng Quán vì gì khi ông viết “Tôi sẽ làm một người chân thật, Chân
thật trọn đời” để làm một nhà văn, dù nhà văn đã bị tước đoạt mất giấy bút, ông
sẽ “dùng dao viết văn lên đá”. Đó là vì lương tâm, vì lương tâm nên chế độ đãi
ngộ ông bằng một cách sống:
Ngoài trời trăng như tuyết
Trắng lạnh đến thấu xương
Trong nhà vách trống toang
Gió ra vào thoả thích...
Vì nhân dân, vì tải đạo, vì nhân sinh thì cũng do lương tâm
mà ra!
Vậy khi ông họa sĩ Brian Doan vẽ lá cờ Việt Cộng lên áo cô gái cùng đăt tượng
Hồ Chí Minh bên cạnh là với mục đích gì? Như tôi nói ngay ở đầu, làm gì người
ta đều có mục đích cả. Vậy là ông Brian Doan làm “Nghệ Thuật vị nghệ thuật” hay
ông làm “Nghệ thuật vị tuyên truyền” nên ông bị người ta chống đối?
Ông Brian có cái lý của ông. Đó là lý do gì? Cộng đồng cũng có cái lý của họ.
Lý của Cộng Đồng không phải là vô lý. Vì không chịu nghe cái lý của cộng đồng
nên ông họa sĩ Brian Doan vẫn giữ lập trường của ông, vẫn cứ chưng lá cờ Việt
Cộng và tượng ông Hồ Chí Minh. Kết quả, theo báo chí, cha mẹ ông họa sĩ Brian
Doan đã từ con.
Sao lại đến nỗi thế?
Không Tử nói: “Ai nói phải ta cũng phải nghe! Ai nói trái ta cũng phải nghe”
Không phải Khổng Tử ba phải. Ông biểu phải nghe để biết ai phải, ai trái, ai
đúng, ai sai! Nếu cứ định kiến, cứ cố chấp, cứ bướng bỉnh thì không bao giờ tìm
ra được chân lý, lẽ phải, lương tâm được cả.
Cha mẹ ông họa sĩ Brian Doan có từ con, thì ông Brian Doan vẫn là con của ông
bà. Cụ tuần Trần Mỹ có từ ông Trần Khánh Giư thì ông vẫn là nhà văn Khái Hưng
nổi tiếng. Cụ tuần có từ Dũng thì Dũng vẫn đi làm cách mạng. Ấy là từ con nhưng
con vẫn làm vẻ vang cha mẹ.
Cha mẹ ông họa sĩ Brian Doan có từ con, thì con ông bà vẫn cứ vẽ cờ đỏ và chưng
tượng ông Hồ Chí Minh để làm “Nghệ thuật vị tuyên truyền” theo lời chỉ dạy của
Trường Chinh. Ông bà có từ con thì con ông bà vẫn “giương cao ngọn cờ đỏ sao
vàng”, tượng Hồ Chí Minh để ca ngợi chế độ thống trị Việt Nam ngày nay. Ông họa
sĩ Brian Doan lớn lên ở Mỹ, thích cái nhà sang trọng của ông Lê Khả Phiêu, chứ
không muốn dính líu gì tới giai cấp bị trị ở Việt Nam, dính líu gì tới những
trẻ em đói ăn thiếu mặc, áo quần tả tơi rách nát, bán vé số, đi ăn xin hay bán
mình qua Đài Loan, Đại Hàn. Đó là những thứ làm cho Đỗ Phủ chịu một đời khổ
nạn. Đã sướng rồi, ít ai ngó lui để chịu khổ, để chết áo đắp mặt như Đỗ Phủ
trên đò con, trong tuyết lạnh.
Người ta thường nói “trẻ con ở Mỹ khó dạy” vì tụi nó trưởng thành sớm quá! Mười
tám tuổi hoàn toàn tự lập, nói không nghe nên khi ông bố Brian Doan nói câu “từ
con” là để bạn bè, đồng đội thông cảm ông nhưng chắc nét mặt ông khi đó buồn
lắm! Rất nhiều trẻ con chỉ nghe cha mẹ khi nó cần cha mẹ mà thôi. Khi chúng đã
khôn lớn, đủ lông đủ cánh thì cha mẹ là “Con Kỳ đà”. Bố mẹ của ông họa sĩ Brian
Doan là “con kỳ đà” của ông.
Tôi có người bạn cũ, bố anh ta treo cổ tự tử khi anh ta mới 5 tuổi vì mắc lệnh
lao, không chửa lành được. (Trước 1945 bệnh lao là một trong “tứ chứng nan y.”)
Me anh bạn tôi “Thương con không lấy chồng”, nuôi anh đến khi anh xuất thân đại
học sư phạm. Đổi đi dạy học ở đâu, bao giờ anh cũng kiếm nhà đem mẹ đi theo. Mẹ
anh bảo gì anh nghe nấy, rất ngoan ngoản, bởi vì anh rất sợ mẹ nói câu: “Bây
giờ con lớn khôn, con cần chi mạ nữa.” Không bao giờ anh muốn mẹ nói câu đó.
Có lần tôi hỏi anh:
- “Sao anh nghe mẹ dữ vậy? Mẹ nói có cái đúng, nhưng cũng có cái sai.”
Anh bạn lý luận:
- “Sai là mình thấy sai. Mẹ thấy đúng vì mẹ nói câu đó là phát xuất từ trong
lòng mẹ thương mình mà ra. Mẹ có lương tâm với mình. Mình phải tin vậy. Mẹ nói
sai, nhưng với tình thương, với lương tâm, mình sẽ phân giải được với mẹ. Có
tình thương, có lương tâm, không có mâu thuẫn nào trong gia đình, ngoài xã hội
mà không giải quyết xong.”
Tôi muốn đem câu chuyện nầy để thân ái tặng cha mẹ cũng như chính ông họa sĩ
Brian Doan./
hoànglonhải