Danh Từ Ðịnh Mệnh sẽ không cần thiết có trong Bách-khoa
đại tự diển nếu như mỗi người trong chúng ta dều mang những đặt tính như
nhau từ trong ra ngoài, một dời sống như nhau trong không gian cũng như
thời gian. Sự khác biệt giữa hai người như giàu-nghèo, thiện-ác,
sang-hèn, thành công-thất bại, chính-tà, tàn tật-lành lặn, hạnh phúc-bất
hạnh, thông minh-đần độn, cao-thấp...là những yếu tố tất yếu để danh từ
dịnh mệnh được định nghĩa.
Trong ý nghĩ đó, Tử vi đã được
sử dụng để giải đoán định mệnh. Một Ðịnh mệnh mà người ta tin rằng đã
được an bài cho mỗi cá nhân riêng biệt. Có thật sự rằng Tử vi được soạn
thảo để giải đoán cái Ðịnh mênh an bài dó hay không? Nếu có Thựợng đế
hay Ðấng tạo hoá thì dựa vào dâu để xác định, áp dặt khi trẻ sơ sinh kia
đã phải mang tật nguyền vào thân mà cho đến khi lớn khôn, hắn vẫn không
hiểu tại sao hắn ta mang tàn tật vào thân ? Và hắn ta cũng chẳng bao
giờ được nghe qua bản phúc trình luận tội, bản kết án tật nguyền cho
hắn. Như thế có gì hay, có gì tốt cho Ðấng Thuợng đế kia khi mà sự bất
công đầy rẫy trong nhân loại, khi mà cá nhân nhận lãnh mà không hề biết,
trong suốt cuộcđời hiện tại, hắn ta chẳng biết vì sao hắn lại nhận lãnh
cái xấu số đó.
Chúng ta chẳng thể giải thích đuợc hiện
tượng bất công trên nếu không dựa vào một giáo lý nào đó. Khoa học nhìn
qua DNA và xác xuất để giải thích hiện tựợng bẩm sinh. Nhưng tại sao hắn
lại rơi vào cái xác xuất không may đó? Chẳng phải ngẫu nhiên mà hắn ta
rơi vào cái không may đó, cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà ta rơi vào cái
hiện tựợng không vừa ý nào đó. Mọi hiện tượng xảy ra đều có nguyên nhân
của nó ví như hạt giống là nhân của cây cỏ, cây cỏ lại là nhân cho ra
hạt giống, quá trình này chẳng phải tự nhiên sinh sôi nẩy nỡ mà còn tùy
vào diều kiện tất yếu như mua, gío, sấm chớp, phân bón, hay sự chăm sóc.
Điều kiện tất yếu này, theo Phật Giáo thi gọi là Duyên. Con người cũng
thế, theo Phật giáo thì con người kiếp hiện tại là Quả của quá khứ và là
nhân cuả kiếp tương lai.
Con người, theo Phật giáo, khi
chết thì Tứ dại, ngũ uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) và lục căn (Mắt,
Mui, Tai, Lưỡi, Thân, Ý) đều bỏ lại chỉ còn A-Lại-Da-Thức (thần thức) sẽ
được tái sinh. A-Lại-Da-Thức mang toàn bộ bản sao chép 6 thức kia hay
Nghiệp (tốt và xấu) từ kiếp truớc sang kiếp sau. Tùy theo dòng nghiệp
lực đó mà ta sẽ có sự tái sinh phù hợp với cái Nhân (cause) ta đã gieo
trong quá khứ để có một cuộc sống hiện tại, tức là quả (effect).
Tuy nhiên Phật giáo còn chia Nghiệp ra làm 4 loại : Hiện nghiệp,
Hậu nghiệp, Vô hạn định nghiệp, Vô hiệu lực nghiệp vì vậy không nhất
thiết một Nhân trong quá khứ phải là quả trong hiện tại. (Xin tìm đọc
The buddha and His teachings : Ðức Phật và Phật Pháp
do Phạm Kim Khách chuyển dich). Có thật có sự Tái sinh hay không? Theo
Phật giáo thì bởi vì Nghiệp mà con người còn phải tái sinh, Sống rồi
Chết , Chết rồi Sống chỉ là hai giai đoạn của tiến trình rủ bỏ Nghiệp,
một tiến trình bất tận Tu chính và Kiến Tâm mà mỗi một Nghiệp gieo vào
lại là một điều kiện ắt sẽ có và đủ cho một chu trình Sống Chết trong
tiến trình bất tận dó. Và cũng chính dòng Nghiệp lực đó mà Tứ đại, ngũ
uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) và lục căn (Mắt, Mui, Tai, Lưỡi, Thân,
Ý) lại được tái tạo, tùy dòng nghiệp lực mà hình hài tái sinh sẽ mang
trạng tướng như thế nào. C
ó những bằng chứng hiển nhiên
của tái sinh qua công trình nghiên cứu của Tây phương như truờng hợp
Edgar Cayce, bản phúc trình của Bác si Ian Stevenson, the after death
experience của Ian Wilson , Liểu sinh thoát tử .... thế nhưng khoa học
phương Tây ngày nay vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng sự hiện diện của
A-Lại-Da-Thức ( hay thần thức).
Như vậy qua giáo lý nhà
Phật, Con người tái sinh là do nghiệp mà nghiệp bị chi phối bởi luật
Nhân-duyên-quả, và cái đinh mênh kia thật sự chỉ là dòng Nghiệp Lực dẫn
dắt ta ví như chiếc con thuyền không người lái trên ghềnh thác, trên
dòng sông hay trên mặt hồ yên tỉnh. Tử vi Dưới mắt Nghiệp Quả không nhìn
Số Mệnh con người như là một sư việc đã được an bài bởi Thượng đế, mà
nhìn qua gíao lý Phật giáo, qua thuyết Nhân-Duyên-Quả vì vậy Tử vi Dưới
mắt NghiệpQuả cho rằng : Không một Định Mệnh nào được gọi là An Bài mà
con người được dẫn dắt bởi dòng Nghiệp Lực, Nghiệp chỉ phát khi hội đủ
những yếu tố Nhân duyên, như vậy Con người có thể thay đổi đươc cái định
mệnh đó bằng cách gieo một Duyên Khởi để khởi động một Nghiệp tốt trong
qúa khứ thay vì phải hứng chịu một Nghiệp xấu trong qúa khứ, hay là dịu
lại Nghiệp nặng đã gieo trong chu trình Sống Chết đã qua.
Tuy nhiên chúng ta chẳng thể thay đổi hẳn dòng Nghiệp Lực kia mà chúng
ta chỉ có thể tìm được một đời sống khả dĩ tốt nhất cho cho một Dòng
Nghệp lực nhất định. Làm thế nào để phát khởi một Nhân Duyên tốt trong
quá khứ, làm thế nào để biết dòng Nghiệp Lực kia dẫn ta về đâu ? Làm thế
nào để tìm được một cuộc sống hiện tại bình an nhất trong một Định
Nghiệp hẳn hiu? Để giải đáp thỏa đáng câu hỏi này,
Trần
Doàn tự la Hi Di sinh vào đời nhà Tống ,Trung Hoa. Trần Tiên Sinh sinh
trưởng và trưởng thành trong giai đoạn mà Phật giáo là quốc giáo , tiên
sinh ắt hẳn đã thấm nhuần tư tưởng cùng giáo ly nhà Phật và cac nghành
khoa học ứng dụng như Dịch lý học, Âm Dương, Ngũ hành, Ngũ hành Nạp Âm
là những căn bản của nền khoa học thuần túy ở Trung quốc như Số học,
Toán số, Y khoa và các môn lý số như Hoa mai Dich số, Bốc Phệ, Tử Bình,
điạ lý.. mà soan-thào Hàm TừVi
Tử vi Dưới mắt Nghiệp Quả
không nhìn Tử vi là một bộ môn thuộc khoa học huyền bí, lý số hay bói
toán mà nhìn Tử vi như là một hàm số Nghiệp lực. Dòng Nghiệp Lưc trong
tiến trình Kiến Tâm của Phật Giáo. Hàm số ở đây là một hàm số đa thức và
là hàm số Hạt Tử .
Theo Cụ Nguyễn Phát Lộc trong cuốn Tử
vi Hàm Số thì “ Hàm số nhằm tìm hiểu một dự kiện linh động trong liên
hệ Nhân Quả của các yếu tố biến thiên, nó nói lên được sự tương quan ẩn
khuất giữa các yêú tố. Xem Tử vi theo lối hàm Số là tìm tương quan giữa
các Cung, Sao, Bản mênh, Cục, Cách những chi tiết về Phúc Đức, Cha Mẹ,
Anh Em, Con Cái, Bản Tính, Nghề Nghiệp, Tài Sản, Bạn Bè, Xã Hội, Bệnh
Tật của con người, và đời người.
Chỉ có phương pháp hàm
số mới giúp vận dụng một lúc hàng chục vì sao để xem một cung, phối hợp
một lúc năm sáu cung để tìm hiểu vài yếu tố, kết hơp một loạt 5,6 yếu tố
linh hoạt để xác định một bí-ẩn của congười và đời người. Chỉ có danh
từ hàm số mới gói ghém được sự sống động của khoa Tư vi, mới diễn dạt
nỗi quan niệm tổng hợp của chúng ta. Chỉ có Hàm Số mới nói lên được ý
niệm Dịch lý độc đáo của nhân loại, của nhân-sinh, của nhân tính. Chỉ có
hàmsố mới là phương pháp Động học khai triển được quy luật biến hóa vô
cùng phong phú của cá tính và sinhhọat của con người.”
Không một môn lý số nào từ Đông sang Tây có hệ thống sao và an sao như
Tử vi. Ngoài ra sư sắp xếp dặt các sao trong Tử vi theo những quy luật
và đặt biệt hơn các sao còn đươc sắp xếp theo chiều Dương hay Âm , Thuận
hay Nghịch, Đối xứng nhau qua một trục Dần Thân, Tí Ngo, Sửu Mùi, Thìn
Tuất, Mão Dậu, Tị Hợi hay Spin Thuận hoặc Nghịch, và sự tươngtác tuân
theo những quy luật như Tam hơp, Nhị hơp, Lục hại, Ám hơp. Đó là nhưng
cơ cấu cơ bẳn trong phuơng trình Hạt Tử của khoa Vật lý Hạt Tử , một
khoa vừa mới tìm ra cách đây không lâu.
Tử vi Dưới mắt
Nghiệp Quả nhìn Tử vi qua Lý Nhân Duyên Quả của Phật giáo, qua cấu trúc
Hàm Số Hạt Tử cuả khoa Vật ly Hạt tử vì vậy danh từ “Sao” trong tử vi
chỉ là những Hạt Tử di chuyển theo quy luật Tử vi để viết lại dòng
nghiệp lực trong tiến trình KiếnTâm nhà Phật, dĩ nhiên Dòng Nghiệp Lực
này bị chi phối bỏi Lý Nhân Duyên Quả.
Và Tử vi được định
nghĩa là một Hàm số NghiêpLực mà ta có thể giải dáp một cách thỏa dáng
khi có một số dự kiên đủ cho một ẩn số cần tìm kiếm. Chúng ta cũng chẳng
thể giải dược hàm số Hạt tử nếu chỉ có một hoặc hai ẩn số được cho biết
trước. Và Lá số Tử vi được định nghiã như sau Lá số Tử vi là một bản đồ
số mệnh trên đó ghi lại dòng nghiệp lực của ta trong kiếp hiện tại, các
sao hay hạt tủ ở trạng thái “Tỉnh” hay “Chết”, và chỉ có ý nghĩa khi
các sao thật sự đã “ăn” lên đương số hay ta nói các sao đã “Động” , đây
là ý nghiã Dịch Lý trong Tử vi, các sao đã tác động lên được cơ thể của
đương số dưới hìng thức Hình tướng học, tướng mênh học, Chỉ tay học,
Thanh tướng học, ẩn tướng học, Sắc khí học, Tâm tương học, Địa lý, và y
lý hay bệnh lý học. Nói như vậy không có nghiã la học Tử vi thì cần thấu
triệt các môn học trên nhưng sự thấu triệt nhiều môn học trên giúp
người học Tử vi giải đoán lá số càng chính xác.
Tóm lại,
không một định mệnh nào được gọi là an bài mà con người được dẫn dắt bởi
dòng nghiệp lực của chính mình. Trên tinh thần này, con người có thể
thay đổi được vận mệnh của mình, có thể chuyển xấu thành tốt, có thể
chuyển bại thành thắng, có thể chuyển khổ đau thành hạnh phúc, có thể
chuyển phàm thành thánh, tất nhiên mọi việc thay đổi đó sẽ xảy đến với
mình cho đến khi nào mình chịu tu tập, chịu lánh ác chịu làm lành, chịu
tu nhơn tích đức, chịu bố thí cúng dường.... cầu mong mọi người đầu năm
mới thấy rõ được điều đó để giữ vững niềm tin Tam Bảo trên bước đường
quay về với cội nguồn tâm linh.
Source:
Quangduc.com