TRUNG HOA CÁC TRIỀU ĐẠI
THỜI KỲ THƯỢNG CỔ
Theo truyền thuyết, nguồn gốc người Trung Hoa thời kỳ
Nguyên thủy có những dòng họ sau:
- Họ Hữu Sào (có tổ).
- Họ Toại Nhân.
- Họ Phục Hy.
- Họ Nữ Oa: Phục Hy ăn ở với Nữ Oa, mở đầu phát triển giống nòi.
- Họ Thần Nông, còn có tên Liệt Sơn (đốt núi), có 3
người tiêu biểu: Thái Hiệu, Viêm Đế và Xuy Vưu. Viêm Đế và Hoàng Đế diệt
được Xuy Vưu, ngày nay Lịch sử nhắc lại với tên Viêm Hoàng.
THỜI KỲ NGŨ ĐẾ
Thời Ngũ Đế hình thành vào
khoảng đầu thế kỷ 26 tr.CN đến thế kỷ 21 tr.CN
1- Hoàng Đế
2- Chuyên Húc
3- Đế Cốc
4- Nghiêu
5- Thuấn
Dòng dõi các Họ Hoa tộc thời cổ đại có 3 họ
đứng đầu là: Nghiêu, Thuấn, Vũ truyền ngôi cho nhau. Nghiêu lên ngôi
vua, đóng đô ở Bình Dương (nay Sơn Tây). Khi Nghiêu chết, Thuấn chính
thức lên ngôi kế tục sự nghiệp mà Nghiêu giao cho. Thời gian sau, Thuấn
noi gương Nghiêu, truyền ngôi lại cho Vũ. Khi Vũ đang làm Vua, đã cử Cao
Giao thay cho Vũ sau này, nhưng Cao Giao lại chết trước Vũ, rồi lại cử
con của Cao Giao là Ích thay thế. Khi Vũ chết, con của Vũ là Khải cướp
ngôi của Ích, làm Vua.
NHÀ HẠ
Hình thành từ cuối thế kỷ 22 đầu thế kỷ 21 tr.CN cho đến thế kỷ
17 tr.CN
Gồm có các vua Đế hiệu:
1-
Vũ 8-
Mang 15- Kiệt
2-
Khải 9- Tiết
3- Thái
Khang 10- Quynh
4-
Trương 11- Cẩn
5- Thiếu
Khang 12- Khổng Giáp
6- Trữ
13- Cảo
7-
Hòe 14- Phát
Vua Vũ
trị vì, con là Khải lên ngôi, lấy đất An Ấp (nay tỉnh Sơn Tây) để đóng
Đô, đặt tên cho triều đại là Hạ. Phương pháp làm lịch bắt đầu hình
thành.
NHÀ THƯƠNG
Từ thế kỷ 17
tr.CN đến thế kỷ 11 tr.CN. Gồm có các vua Đế hiệu:
1-
Thang 9- Thái Tuất
2- Ngoại
Bính 10- Trọng Đinh
3- Ngoại
Nhâm 11- Hà Đản Giáp
4- Thái
Giáp 12- Tổ Ất
5- Ốc
Đinh 13- Tổ Tân
6- Thái
Khang 14- Ốc Giáp
7- Tiểu
Giáp 15- Tổ Đinh
8- Ung
Kỷ 16- Dương Giáp
17- Bàn Canh
Nhà Thương là con cháu của vua Tiết, đời vua thứ 9 nhà Hạ. Cuối
nhà Hạ, Vua Kiệt là ông vua hung bạo, Thang đã diệt vua Kiệt, lập nên
nhà Thương, lên ngôi vua tự xưng là Võ Vương. Nhà Thương có 17 đời, 30
vua, trong đó có 14 vua là em nối ngôi anh.
NHÀ THƯƠNG
ÂN
1- Bàn Canh 7- Lẫm
Tân
2- Tiểu Tân 8- Khang Đinh
3- Tiểu Ất 9- Vũ Ất
4-
Vũ Đinh 10- Thái Đinh (Văn Đinh)
5- Tổ Canh 11- Đế Ất
6- Tổ
Giáp 12- Trụ
Vua Bàn Canh dời
Đô về đất Ân, gọi tên là nhà Ân. Cuối thời Ân lại đổi tên gọi lại là
nhà Thương. Từ đó gọi là Thương Ân. Chữ Giáp Cốt được hình thành từ đây,
phát minh ra việc “đào giếng” lấy nước ăn, mở rộng được diện tích trăn
nuôi trồng trọt. Thời kỳ toàn thịnh của nhà Thương Ân đã có những thuộc
quốc. Phía Đông có Tề, phía Tây có Chu, phía Nam có Quang, phía Bắc có
Thao. Trung tâm chính trị nhà Thương Ân gồm toàn tỉnh Hà Nam, Sơn Đông,
Hà Bắc, Sơn Tây, Thiểm Tây và An Huy ngày nay. Nhà Thương trị vì thiên
hạ được 661 năm, đến đời vua Trụ thì sụp đổ, bị Võ Vương nhà Chu tiêu
diệt mất nước. Trụ Vương (Tân Hoàng Đế) vào khoảng từ năm 1166 tr.CN đến
1134 tr.CN, là ông vua cuối cùng của nhà Thương. Tổ chức Quốc gia bắt
đầu hình thành từ nhà Thương, tiền tệ xuất hiện, khởi nguồn của giai cấp
đối lập, có người bóc lột và bị bóc lột. Có thống trị, có bị trị, các
thuộc quốc không được chế tạo và tàng trữ binh khí. Vua từ xưng “Thiên
tử”, hình thành chế độ thế tập, thần quyền được xác lập địa vị.
NHÀ TÂY CHU
Thế kỷ 11 tr.CN đến năm 771 tr.CN
Gồm các triều vua Đế hiệu:
1-
Chu Vũ Vương – tên Cơ Phát. Còn gọi là Vũ Vương Cơ Phát
2-
Chu Thành Vương – tên Cơ Tung. (Vũ Vương Cơ Tung)
3- Chu
Khang Vương – tên Cơ Chiêu (Khang Vương Cơ Chiêu)
4- Chu
Chiêu Vương – tên Cơ Hà (Chiêu Vương Cơ Hà)
5- Chu Mục Vương –
tên Cơ Mãn (Mục Vương Cơ Mãn)
6- Chu Cộng Vương – tên Cơ Tử Ý
(Công Vương Cơ Tử Ý)
7- Chu Ý Vương – tên Cơ Kiên (Ý Vương
Cơ Kiên)
8- Chu Hiếu Vương – tên Cơ Bích (Hiếu Vương Cơ Bích)
9- Chu Di Vương – tên Cơ Tạ (Di Vương Cơ Tạ)
10- Chu
Lệ Vương – tên Cơ Hồ (Cộng Hòa), làm vua 14 năm.
11- Chu Tuyên
Vương – tên Cơ Tính, làm vua 48 năm
12- Chu U Vương – tên Cơ Cung
Thăng, làm vua 11 năm
Bộ tộc Chu, khởi đầu ở lưu vực sông
Vị, tỉnh Thiểm Tây. Bấy giờ, hai bộ tộc lớn là Ân và Chu luôn tranh đấu
nhau giành quyền lợi và ngôi vị. Tộc Chu trôi dạt đến vùng Tây-Bắc
khoảng năm 1200 tr.CN. Chu Công là người kiệt xuất tộc Chu, đã quyết
định Đông trinh chinh phục được cả vùng hạ du rộng lớn sông Hoài, loại
bỏ được Vũ Khang và Quản Thúc cùng đồng bọn trong 3 năm, phân hóa toàn
bộ những người trong bộ tộc Ân còn lại. Sách Chu Lễ và Kinh Dịch ra đời.
Chu Vũ Vương họ Cơ tên Phát, là ông Vua khai quốc vương
triều Chu, Cơ Phát kế vị vua cha làm Tây Bá, tiến hành Đông trinh, vua
Trụ đại bại ở Hà Nam, triều Ân Thương diệt vong. Vũ Vương đóng Đô ở Cảo
Kinh, nay là Tây An tỉnh Thiểm Tây, khoảng thế kỷ 11 tr.CN. Chu Lệ Vương
để có nhiều của cải, lấy quyền chúa tể đặt ra nhiều luật lệ hà khắc.
Nội bộ triều Chu mâu thuẫn, cuộc đấu tranh nội bộ đã lật đổ được Chu Lệ
Vương, từ năm 841 trCN đến năm 828 tr.CN, tất cả 14 năm với chế độ “cộng
hòa” của Lệ Vương Cơ Hồ.
Năm 841 trước công nguyên, lịch
sử Trung quốc được xác thực bắt đầu. Từ đó về sau, lịch sử Trung quốc
mới có niên đại chuẩn xác.
Chu Lệ Vương chết, Chu Tuyên
Vương lên ngôi kế vị năm 827 tr.CN, nhà Chu bắt đầu xuống dốc. Năm 781
tr.CN, Chu U Vương lên ngôi, triều đình loạn lạc, Thái tử phận con đã
tấn công giết chết Chu U Vương. Đến năm 770 tr.CN, Chu Bình Vương lên
ngôi, dời Đô về phía Đông, cho nên gọi là Đông Chu.
NHÀ
ĐÔNG CHU
Năm 770 tr.CN đến năm 475 tr.CN.
Năm 770 tr.CN Chu Bình Vương dời Đô về phía Đông, bỏ lại Kinh đô Lạc Ấp
cho 3 nước Hàn, Triệu, Ngụy tranh giành quyền lực, Sử gọi là thời Xuân
Thu.
THỜI XUÂN THU
Năm 770
tr.CN đến năm 475 tr.CN Gồm các triều vua Đế hiệu:
1- Chu Bình Vương; tên Cơ Nghi Cưu, ở ngôi 51 năm.
2- Chu Hoàn Vương; tên Cơ Lâm, lên ngôi 719 tr.CN, ở ngôi 23 năm.
3- Chu Trang Vương; tên Cơ Đà, lên ngôi 696 tr.CN, ở ngôi 15 năm.
4- Chu Hy Vương; tên Cơ Hồ Tề, lên ngôi 681 tr.CN, ở ngôi 5
năm.
5- Chu Huệ Vương; tên Cơ Lương, lên ngôi 676 tr.CN, ở
ngôi 25 năm.
6- Chu Trương Vương; tên Cơ Trịnh, lên ngôi 651
tr.CN, ở ngôi 33 năm.
7- Chu Khoanh Vương; tên Cơ Nhâm Thần,
lên ngôi 618 tr.CN, ở ngôi 6 năm.
8- Chu Khang Vương; tên Cơ
Ban, lên ngôi 612 tr.CN, ở ngôi 6 năm.
9- Chu Định Vương;
tên Cơ Du, lên ngôi 606 tr.CN, ở ngôi 21 năm
10- Chu Giản Vương;
tên Cơ Di, lên ngôi 585 tr.CN, ở ngôi 14 năm.
11- Chu Linh Vương;
tên Cơ Tiết Tâm, lên ngôi 571 tr.CN, ở ngôi 27 năm.
12- Chu Cảnh
Vương; tên Cơ Quý, lên ngôi 544 tr.CN, ở ngôi 25 năm.
13- Chu
Hiệu Vương; tên Cơ Mãnh, lên ngôi 520 tr.CN, ở ngôi 1 năm.
14-
Chu Kính Vương; tên Cơ Cái, lên ngôi 519 tr.CN, ở ngôi 44 năm.
Sau khi Chu Vũ Vương dời đô về phía Đông, nhà Chu bắt đầu suy yếu
đến mức không thể tự tồn tại được. Do biến động về kinh tế, những người
sản xuất nhỏ, có người đã trở thành “kẻ sỹ”, vua các nước như Tề Uy
Vương, Yên Chiêu Vương, Ngụy Huệ Vương cũng một thời đã làm kẻ sỹ, những
người đã nuôi kẻ sỹ, được các nước gọi là “Quân”. Kẻ sỹ là tiền thân
của bọn quan liêu sau này.
Nhà Đông Chu, thời Xuân Thu gồm
có 14 nước chư hầu: Tần, Tấn, Sở, Lỗ, Tề, Vệ, Yên, Tào, Tống, Trần,
Sái, Trịnh.
Thời Xuân Thu, dần hình thành các nước lớn có
thế lực, buộc các nước khác phải hàng phục quy thuận. Các nước ở Sơn
Đông phải quy hàng nước Tề, vùng Tây-Bắc nổi lên nước Tần, vùng Hoa Bắc,
Sơn Tây có nước Tấn, vùng Giang Hán Hoài có nước Sở. Thời ban đầu hình
thành triều Chu, có tới 1800 nước lớn nhỏ, đến thời Xuân Thu, chỉ còn
hơn 100 nước, nhưng chỉ có 14 nước lớn là: Tần, Tấn, Sở, Lỗ, Tề, Vệ,
Yên, Tào, Tống, Trần, Sái, Trịnh, trong đó có 4 nước mạnh vượt trội hơn
hẳn là: Tần, Tấn, Tề, Sở.
THỜI CHIẾN QUỐC
Năm
475 tr.CN đến năm 221 tr.CN Gồm các triều vua Đế
hiệu: 15- Chu Nguyên Vương; tên Cơ Nhân, lên ngôi 475 tr.CN, ở
ngôi 7 năm.
16- Trinh Định Vương; tên Cơ Giới, lên ngôi 468
tr.CN, ở ngôi 28 năm.
17- Ai Vương; tên Cơ Khứ Tật, lên ngôi 441
tr.CN, ở ngôi 1 năm.
18- Tư Vương; tên Cơ Thúc, lên ngôi 441
tr.CN, ở ngôi 1 năm.
19- Khảo Vương; tên Cơ Vỹ, lên ngôi 440
tr.CN, ở ngôi 15 năm.
20- Uy Liệt Vương, tên Cơ Ngọ, lên ngôi 425
tr.CN, ở ngôi 24 năm.
21- An Vương; tên Cơ Kiều, lên ngôi 401
tr.CN, ở ngôi 26 năm.
22- Liệt Vương; tên Cơ Hỷ, lên ngôi 375
tr.CN, ở ngôi 7 năm.
23- Hiển Vương; tên Cơ Thiên, lên ngôi 368
tr.CN, ở ngôi 48 năm.
24- Thâm Kính Vương; tên Cơ Định, lên ngôi
320 tr.CN, ở ngôi 6 năm.
25- Noãn Vương; tên Cơ Diên, lên ngôi
314 tr.CN, ở ngôi 59 năm.
Gồm các nước chư hầu: Tần, Sở,
Yên, Tề, Hán, Triệu, Ngụy.
VƯƠNG TRIỀU TẦN
ĐẾ QUỐC TẦN
221 ĐẾN 206 tr.CN
Năm Kỷ Tị (năm 256 tr.CN) Chu Nạn Vương, nước Tần tiêu diệt nhà Chu
Năm 255 tr.CN, vua Tần Chiêu Tương Vương trị vì đến Tần Vương
Chính
Năm Ất Mão (năm 222 tr.CN) bắt đầu đánh chiếm thôn
tính các nước khác
Năm 221 tr.CN, Tần Vương Chính hoàn
thành thống nhất Trung Hoa, lên ngôi Hoàng Đế, xưng là Tần Thủy Hoàng
Đế.
Vương triều Tần gồm có các vua Đế hiệu:
1- Chiêu Tương Vương; tên Doanh Tắc, lên ngôi 306 tr.CN, ở ngôi 56
năm.
2- Hiếu Văn Vương; tên Doanh Trụ, lên ngôi 250 tr.CN, ở
ngôi 1 năm.
3- Trang Tương Vương; tên Doanh Tử Sở, lên ngôi
249 tr.CN, ở ngôi 3 năm.
4- Thủy Hoàng Đế; tên Doanh Chính,
lên ngôi 246 tr.CN, ở ngôi 37 năm.
5- Nhị Đế Hoàng Đế; tên
Doanh Hồ Hợi, lên ngôi 209 tr.CN, ở ngôi 3 năm.
Trong 7
nước thời Chiến quốc, nước Tần lạc hậu hơn cả. Khi Tần Hiếu Công lên cầm
quyền (năm 362 tr.CN đến năm 359 tr.CN), đã thực hiện Biến pháp của
Thương Ưởng: “tùy theo tình hình đương thời mà định luật pháp, vì sự
việc mà đặt ra lễ nghi”. Pháp lệnh của Thương Ưởng đã đặt cơ sở vật chất
để Tần hơn hẳn 6 nước. Tần hùng mạnh, là sự uy hiếp lớn cho 6 nước Sơn
Đông. Tình hình này phát sinh hai phái “Hợp tung” và “Liên hoành”. “Hợp
tung” là một phái hoạt động có sách lược chính trị chống Tần, theo hướng
Nam-Bắc từ Yên đến Sở. Còn “Liên hoành” do nước Tần khởi xướng để liên
hợp với các nước phía Đông. Hai phái đều có một số thuyết khách (ngoại
thích) nổi trội hơn cả là Trương Nghi và Tô Tần.
Năm 332
tr.CN, Ngụy Huệ Vương hợp tác với nước Tần, sử dụng Trương Nghi là tướng
nước Tần sang làm tướng cho nước Ngụy. 5 nước Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn
thấy bị uy hiếp, nên năm 319 tr.CN đã thay Công Tôn làm tướng nước Nguy,
hình thành thế “hợp tung”. Năm 317 tr.CN, 6 nước liên kết với nhau đánh
Tần. Năm 298 tr.CN, Mạnh Thường Quân đề xướng 3 nước Tề, Hàn, Ngụy cùng
tấn công nước Tần, trong 2 năm phái “hợp tung” thu được thắng lợi, Tô
Tần được cử đứng đầu phái ‘hợp tung”. Nhưng Trương Nghi là thuyết khách
cho phái “Liên hoành”, đại diện cho nhà Tần, đã hợp tác với các nước
phía Đông phá Tề, là nước đối đầu hùng mạnh trong 6 nước, cuối cùng Tề
đại bại, 5 nước còn lại đều hàng phục, nước Tần trở thành cường quốc,
thống nhất Trung Hoa. Lãnh thổ của nước Tần sau khi phát động chiến
tranh chinh phục thống nhất gồm có:
- Quan trung
- Ba Thục (Tứ Xuyên)
- Hán Trung (phía Nam tỉnh
Thiểm Tây)
- Uyển (Nam Dương – Hà Nam)
-
Ảnh - Thượng Quận (phía Bắc tỉnh Thiểm Tây)
- Hà Đông –
Thai Nguyên - Thượng Đảng (ba tỉnh này ở vùng biên giới tỉnh Sơn Tây),
trong đó có vùng Vinh Dương, nơi triều Chu đóng đô, nay thuộc tỉnh Hà
Nam.
Nước Tần thống nhất, về lãnh thổ mà nói có ưu thế
tuyệt đối, đất đai mầu mỡ, lại được nước Trịnh giúp về thủy lợi nên mùa
màng bội thu. Tần Thủy Hoàng cho tu bổ đường xá, hạ tầng cơ sở, lấy Hàm
Dương làm trung tâm, phía Đông nối liền với Yên, Tề, phía Nam nối đến
Ngô, Sở, nó đã có tác dụng lớn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, thống
nhất văn bản dùng một thứ tiếng, chế độ đo lường đều thống nhất, quy
định tiền tề: Thương tệ bằng vàng, Đồng tề bằng đồng.
Năm
147 tr.CN Tần Trang Vương qua đời, Thái tử Doanh Chính nối ngôi, mới 13
tuổi, mọi quyền lực đều ở tay Tướng quốc Lã Bất Vi. Năm 238 tr.CN, năm
thứ 9 Vương triều Tần, Doanh Chính đã 22 tuổi mới thực sự nắm quyền điều
hành đất nước, đặt Quốc hiệu là Tần Doanh Chính. Tần Thủy Hoàng biết Lã
Bất Vi có nhiều âm mưu thủ đoạn nhằm lũng loạn triều đình, đã bãi chức
Tướng quốc, còn bắt giam giữ tại Hà Nam. Lã Bất Vi không chựu sự quản
chế của Tần Thủy Hoàng, đã cam tâm lợi dụng điều kiện đất Trung nguyên,
liên kết với các chư hầu, âm mưu hoạt động chống phá vương triểu Tần.
Năm thứ 12 Tần Doanh Chính, Lã Bất Vi bị bức vào đất Thục, cuối cùng tự
sát. Năm thứ 14 Tần Doanh Chính, nước Hàn cắt đất cầu hòa với Tần, xin
làm thần triều cống và phái công tử Hàn Phi làm sứ giả. Tần Thủy Hoàng
nghe theo lời tể tướng Lý Tư, giữ vững chế độ độc tài quận huyện, thống
nhất hành chính, và cả thống nhất tư tưởng, với nhiều biện pháp cứng
rắn, phản đối chế độ phong kiến phân quyền. Tần Thủy Hoàng có hơn hai
chục người con trai, con cả là Phù Tô vì trực tiếp can gián chính sách
“đốt sách chôn học trò” nên bị tống ra biên cương giám sát quân lính của
tướng Mông Điềm, duy chỉ có Hồ Hợi người con trai thứ 18 được Tần Thủy
Hoàng yêu mến thường cho theo tuần du.
Năm 37 tuổi, tháng
7, đi tuần du đến Sa Khâu, nay là Địa Bình Đài thuộc tỉnh Hà Bắc, Tần
Thủy Hoàng lâm bệnh nặng chết. Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, Tần Nhị Thế
Hồ Hợi mưu sát anh cả Phù Tô cướp ngôi. Nhị Thế còn hung ác tàn bạo hơn
Tần Thủy Hoàng. Ngoài cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng và Ngô Quảng ra, 6
nước vùng Sơn Đông cũng thừa cơ khởi binh, trong đó có 2 thế lực Lưu
Bang và Hạng Vũ là mạnh hơn cả. Hạng Vũ và Lưu Bang cùng chung sức đánh
bại nhà Tần. Nền thống trị của đế quốc Tần tan rã.
VƯƠNG
TRIỀU LƯỠNG HÁN
TỪ NĂM 206 tr.CN ĐẾN NĂM 220 SAU CN
TRIỀU TÂY HÁN
Từ năm 206 tr.CN đến năm 25 sau CN
Gồm các triều Vua: 1- Hán Cao
Đế, tên Lưu Bang, lên ngôi 206 tr.CN, ở ngôi 12 năm.
2- Hán
Huệ Đế, tên Lưu Doanh, lên ngôi 194 tr.CN, ở ngôi 7 năm.
3-
Cao Hậu, tên Lã Trĩ, lên ngôi 187 tr.CN, ở ngôi 8 năm
4- Hán
Văn Đế, tên Lưu Hằng, lên ngôi 179 tr. CN, ở ngôi 16 năm.
- Đổi niên hiệu là Hậu Nguyên năm 163 tr.CN, ở ngôi 7 năm.
5- Hán Cảnh Đế, tên Lưu Khởi, lên ngôi 156 tr.CN, ở ngôi 7 năm
- Đổi niên hiệu Trung Nguyên năm 149 tr.CN, ở ngôi 6 năm.
- Đổi niên hiệu Hậu Nguyên năm 143 tr.CN, ở ngôi 3 năm.
6- Hán Vũ Đế, tên Lưu Triệt, hiệu Kiến Nguyên, lên ngôi 140 tr.CN,
ở ngôi 6 năm.
- Đổi niên hiệu là Nguyên Quang, năm 143
tr.CN, ở ngôi 6 năm
- Đổi niên hiệu là Nguyên Sóc, năm
128 tr.CN, ở ngôi 6 năm
- Đổi niên hiệu là Nguên Phú, năm
122 tr.CN, ở ngôi 6 năm.
- Đổi niên hiệu là Nguyên Đỉnh,
năm 116 tr.CN, ở ngôi 6 năm.
- Đổi niên hiệu là Nguyên
Phong, năm 110 tr.CN, ở ngôi 6 năm.
- Đổi niên hiệu là
Thái Sơ năm 104 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên hiệu là
Thiên Hán năm 100 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên hiệu là
Thái Thủy Chinh năm 96 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên
hiệu là Hòa Nguyên năm 92 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên
hiệu là Hậu Nguyên năm 88 tr.CN, ở ngôi 2 năm.
7- Hán Chiêu
Đế, tên Lưu Phất Thăng, hiệu Nguyên Thủy, lên ngôi 86tr.CN, ở 7
n.
- Đổi niên hiệu là Nguyên Phượng năm 80 tr.CN,
ở ngôi 6 năm.
- Đổi niên hiệu là Nguyên Bình năm 74
tr.CN, ở ngôi 1 năm.
8- Tuyên Đế, tên Lưu Tuân, hiệu Bản
Thủy, lên ngôi 73 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên hiệu là
Địa Tiết năm 69 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên hiệu là
Nguyên Khang năm 65 trCN, ở ngôi 5 năm.
- Đổi niên hiệu
là Thần Tước năm 61 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên hiệu
là Ngũ Phượng năm 57 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên hiệu
là Cam Lộ năm 53 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên hiệu là
Hoàng Long năm 49 tr.CN, ở ngôi 1 năm.
9- Nguyên Đế, tên Lưu
Thế, hiệu Sơ Nguyên, lên ngôi 48 tr.CN, ở ngôi 5 năm.
-
Lấy niên hiệu là Vĩnh Quang năm 43 tr.CN, ở ngôi 5 năm
-
Lấy niên hiệu là Kiến Chiêu năm 38 tr.CN, ở ngôi 5 năm.
-
Lấy niên hiệu Cảnh Ninh năm 33 tr.CN, ở ngôi 1 năm.
10- Thành
Đế, tên Lưu Ngao, hiệu Kiến Thủy, lên ngôi 32 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Hà Bình năm 28 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Dương Sóc năm 24 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Hồng Gia năm 20 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Vĩnh Thủy năm 16 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Nguyên Diên năm 12 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Viên Hòa năm 8 tr.CN, ở ngôi 2 năm.
11- Ai
Đế, tên Lưu Hân, hiệu Kiến Bình, lên ngôi năm 6 tr.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Nguyên Thọ năm 2 tr.CN, ở ngôi 2 năm.
12- Bình Đế, tên Lưu Khan, hiệu Nguyên Thủy, lên ngôi 1 s.CN, ở ngôi 5
năm.
13- Nhũ Tử Anh bị Vương Mãng cướp ngôi, lên ngôi năm 8 s.CN,
ở ngôi 14 năm
14- Vương Mãng Tân lấy niên hiệu Thủy Kiến Quốc ở
ngôi 1 năm.
- Lấy niên hiệu Thiên Phượng năm 14 s.CN, ở
ngôi 6 năm.
- Lấy niên hiệu Địa Hoàng năm 20 s.CN, ở ngôi 4
năm.
15- Cánh Huyền Đế, tên Lưu Huyền, hiệu Cánh Thủy, lên ngôi
23 s.CN, ở ngôi 3 n.
Chiến tranh Sở Hán và Tây Hán: Lưu
Bang vào Quan Trung đến tận Hàm Dương, đã bãi bỏ tất cả luật pháp của
nhà Tần nên thỏa mãn khát vọng của dân thời Chiến Quốc. Về phần Hạng Vũ,
đã đem 40 vạn quân thiện chiến kéo đến đất Tần, mặc dù vào Quan Trung
sau Lưu Bang, trước sức mạnh của mình, Hạng Vũ đã buộc Lưu Bang phải
tuân lệnh làm vua Ba Thục – Hán Trung. Hạng Vũ sau khi chiếm đất phía
Đông, tự xưng là “Tây Sở Bá Vương”, đóng đô ở Bành Thành tỉnh Giang Tô.
Đoàn Vinh tướng nước Tề nổi loạn ở Liêu Đông. Bành Việt lại
liên kết Tề với Sở. Tướng nước Triệu là Trần Dư cũng tiến đánh Hạng Vũ,
chiếm lấy đất phía Bắc Trường Giang, vì lúc này Hạng Vũ đang đem quân đi
chinh phạt phía Đông, nên Hạng Vũ không thể khống chế nổi. Lưu Bang
thừa cơ xuất quân vào Quan Trung, đánh xuống phía Đông chiếm Lạc Dương,
gây nên cuộc chiến tranh kéo dài gần 5 năm, từ 206 tr.CN đến 202 tr.CN.
Hạng Vũ chỉ muốn khôi phục lại bộ mặt thời Chiến Quốc, chính điều này đã
quyết định chuyển biến chiến cục. Lưu Bang càng đánh càng mạnh, nhờ có
quần thần tài năng Trương Lương, Tiêu Hà, cùng các chủ tướng Phàn Khoái,
Quán Anh, đã diệt Triệu, phá Tề, bắt Yên đầu hàng, chiếm cứ cả vùng
phía sông Hoàng, quân nhà Hán uy hiếp hậu phương của Hạng Vũ, quân của
Bành Việt chiếm cứ cả vùng phía Tây-Nam Sơn Đông cắt đứt quân vận chuyển
lương thảo của quân Sở, cuối cùng quân Hán và quân Sở đụng đầu ở Cai Hạ
(nay là huyện Linh Bính tỉnh An Huy), hai bên quyết chiến, Hạng Vũ đại
bại, chết ở sông Ô Cai Hạ (nay là Huyện Hòa, tỉnh An Huy). Tháng 2 năm
206 tr.CN, Lưu Bang xưng đế: Hán Cao Tổ, kiến lập chính quyền đế quốc
Hán nổi tiếng trên toàn bộ đất nước Trung Hoa. Lúc đầu nhà Hán đóng đô ở
Lạc Dương, sau dời về Trường An. Từ khi Lưu Bang xưng Đế cho tới khi
Vương Mãng làm loạn cướp ngôi, Sử gọi là Tây Hán hay Tiền Hán.
Lã Hậu vợ Lưu Bang là một phụ nữ cứng cỏi, quyết đoán, cơ mưu
trong việc triều chính, diệt phản dẹp loạn và tàn nhẫn, cùng với Lưu
Bang nếm đủ mọi gian truân trong những năm tháng dấy binh phá Tần, diệt
Sở. Lã Hậu có con trai tên Lưu Doanh được lập làm Thái tử. Thích Cơ là
thứ phi được Hán Cao Tổ rất sủng ái, có con trai tên Như Ý được phong
làm Triệu Vương (Vương nước Triệu). Quá yêu Thích Cơ, Hán Cao Tổ nhiều
lần muốn truất bỏ Doanh, lập Như Ý làm Thái tử. Nhưng không thực hiện
được bởi thế lực của Lã Hậu, mọi hoạt động của Lã Hậu đều nhằm tiêu diệt
vây cánh của họ Lưu (họ nhà chồng). Hán Cao Tổ mất, Lã Hậu nắm quyền
lớn, việc đầu tiên Lã Hậu sai người chặt tay, chân của Thích Cơ, cắt
tai, móc mắt cho uống thuốc thành câm, rồi nhốt vào nhà xí gọi là “con
lợn người”, áp bức con của Thích Cơ là Như Ý uống thuốc độc chết. Lưu
Doanh là con đẻ lên ngôi, Hiếu Huệ Đế buồn bực mâu thuẫn với mẹ đẻ là Lã
Hậu vì những hành động tàn bạo của mẹ, nên Hiếu Huệ Đế chẳng thiết gì
đến chính sự, sinh ra riệu chè rồi ốm nặng ít lâu sau qua đời. Do mưu kế
của Lã Hậu, đã lập con hờ của Huệ Đế lên ngôi, để nắm quyền lớn, Lã Hậu
bèn tuyên cáo Vua bị bệnh nặng, rồi sai thủ tiêu luôn, sau đó lập Hán
Hiếu Đế lên ngôi. Cho đến những ngày cuối đời, Lã Hậu đã giết rất nhiều
vương công đại thần thuộc phe cánh họ Lưu. Sau khi Lã Hậu mất, các đại
thần văn võ trung thành với Hán Cao Tổ phản kích quy mô lớn, tiêu diệt
hết vây cánh họ Lã, buộc Hán Thiếu Đế phải tự thú, tôn con của Hán Cao
Tổ lên ngôi là Hiếu Văn Đế.
Hán Bình Đế lên ngôi hãy còn
nhỏ 9 tuổi, Thái Hậu Vương Chính Quân phải lâm triều uỷ quyền hành cho
Vương Mãng. Năm thứ 8 sau Công nguyên, Vương Mãng dùng thủ đoạn dâng
riệu thuốc độc giết Hán Bình Đế, lúc này vua mới 14 tuổi, Lưu Anh là đứa
con 2 tuổi của Hán Bình Đế được lập làm Thái tử. Vương Mãng giở hết thủ
đoạn, năm thứ nhất niên hiệu Sơ Thủy, Vương Mãng buộc Thái Hậu trao
quyền xưng chế thiết triều, phế Thái Tử Lưu Anh, tự xưng là Châu Hoàng
Đế, đổi quốc hiệu là Tân, ngồi trên ngôi Hoàng đế 14 năm. Nhà Tây Hán
cáo trung.
TRIỀU ĐÔNG HÁN
Từ năm 25 đến năm
220 sau CN Gồm các triều Vua:
1-Quang Vũ Đế, tên Lưu Tú, hiệu Kiến Vũ, lên ngôi năm 25 s.CN, ở ngôi 32
năm.
- Lấy niên hiệu Trung Nguyên năm 56 s.CN, ở ngôi
được 2 năm.
2- Minh Đế, tên Lưu Trang, hiệu Thủy Bình, lên ngôi
58 s.CN, ở ngôi 18 năm.
3- Chương Đế, tên Lưu Đáp, hiệu Kiến Sơ,
lên ngôi năm 76 s.CN, ở ngôi 9 năm.
- Lấy niên hiệu Nguyên
Hòa năm 84 s.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Chương Hòa
năm 87 s.CN, ở ngôi 2 năm.
4- Hòa Đế, tên Lưu Triệu, hiệu Vĩnh
Nguyên, lên ngôi năm 89 s.CN, ở ngôi 17 năm
- Lấy niên
hiệu Nguyên Hưng năm 105 s.CN, ở ngôi 1 năm.
5- Thương Đế, tên
Lưu Long, hiệu Diên Bình, lên ngôi 106 s.CN, ở ngôi 1 năm.
6- An
Đế, tên Lưu Hựu, hiệu Vĩnh Sơ, lên ngôi năm 107 s.CN, ở ngôi 7 năm.
- Lấy niên hiệu Nguyên Sơ năm 114 s.CN, ở ngôi 7 năm.
- Lấy niên hiệu Vĩnh Ninh năm 120 s.CN, ở ngôi 2 năm.
- Lấy niên hiệu Kiến Quang năm 121 s.CN, ở ngôi 2 năm.
- Lấy niên hiệu Diên Quang năm 122 s.CN, ở ngôi 4 năm.
7-
Thuận Đế, tên Lưu Bảo, hiệu Vĩnh Kiến, lên ngôi năm126 s.CN, ở ngôi 7
năm.
- Lấy niên hiệu Dương Gia năm 132 s.CN, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Vĩnh Hòa năm 136 s.CN, ở ngôi 6 năm.
- Lấy niên hiệu Hán An năm 142 s.CN, ở ngôi 3 năm.
- Lấy niên hiệu Kiến Khang năm 144 s.CN, ở ngôi được 1 năm.
8- Xung Đế, tên Lưu Bỉnh, hiệu Vĩnh Hy, lên ngôi năm 145, ở ngôi 1
năm.
9- Chất Đế, tên Lưu Toán, hiệu Bản Sơ, lên ngôi năm 146, ở
ngôi 1 năm.
10- Hoàn Đế, tên Lưu Chí, hiệu Kiến Hòa, lên ngôi năm
147, ở ngôi 3 năm
- Lấy niên hiệu Hòa Bình năm 150 s.CN, ở
ngôi được 1 năm.
- Lấy niên hiệu Nguyên Gia năm 151 sCN, ở
ngôi 3 năm
- Lấy niên hiệu Vĩnh Hưng năm 153 s.CN, ở ngôi
2 năm.
- Lấy niên hiệu Vĩnh Thọ năm 155 s.CN, ở ngôi được
4 năm.
- Lấy niên hiệu Diên Hy năm 158 s.CN, ở ngôi được
10 năm.
- Lấy niên hiệu Vĩnh Khang năm 167 s.CN, ở ngôi 1
năm.
11- Linh Đế, tên Lưu Hùng, hiệu Kiến Ninh, lên ngôi năm 168,
ở ngôi 5 năm.
- Lấy niên hiệu Hi Bình năm 172 s.CN, ở
ngôi được 7 năm.
- Lấy niên hiệu Quang Hòa năm 178 s.CN, ở
ngôi được 7 năm.
- Lây niên hiệu Trung Bình năm 184 s.CN,
ở ngôi được 6 năm.
12- Hiến Đế, tên Lưu Hiệp, hiệu Sơ Bình, lên
ngôi năm 190, ở ngôi 4 năm.
- Lấy niên hiệu Hưng Bình năm
193 s.CN, ở ngôi được 2 năm
- Lấy niên hiệu Kiến An năm
196 s.CN, ở ngôi được 25 năm.
- Lấy niên hiệu Diên Khang
năm 220 s.CN, ở ngôi được 4 năm.
Lưu Tú nhân cơ hội quần
chúng bạo động chống Vương Mãng đã phục hồi lại vương triều nhà Hán, năm
25 s.CN, Lưu Tú xưng Quang Vũ Đế, đóng đô tại Lạc Dương, Sử gọi là Đông
Hán hay Hậu Hán. Năm 217, Lưu Tú đánh bại quân Xích Mi do Phàn Sùng cầm
đầu và quân khởi nghĩa Lục Lâm, mất 10 năm mới thống nhất được đất
nước. Lợi dụng mâu thuẫn nội bộ của triều Đông Hán trong những năm đầu,
cùng với nền thống trị chưa ổn định, các nước xung quanh thừa cơ gây
chiến tranh cướp bóc lẫn nhau, có cuộc chiến tranh với Hung Nô là đặc
biệt nhất. Năm 46 – 48 s.CN bản thân mâu thuẫn nội bộ Hung Nô chia làm
hai phái Nam và Bắc, Bắc Hung Nô chạy về Tây-Bắc, còn Nam Hung Nô đầu
hàng nhà Hán. Đời Hán Minh Đế do thế lực đã đủ mạnh, cử tướng Ban Siêu
đến Tây vực dẹp Bắc Hung Nô giành thắng lợi. Nhà Đông Hán thúc đẩy quy
mô hướng ngoại, mở đường thông thương với phương Tây.
Trong nội bộ triều đình Đông Hán, bọn ngoại thích và hoạn quan luôn luôn
tranh quyền đoạt lợi, luôn phát sinh mâu thuẫn và xung đột. Các Hoàng
đế Đông Hán đều chết sớm, các Thái tử lên kế vị còn nhỏ, triều đình
thường do Thái hậu và ngoại thích chấp chính, từ đó lũng loạn triều
chính. Khi Hoàng đế đến tuổi điều hành, không có người trợ giúp nên bị
cô lập, bèn dựa vào bọn hoạn quan để đoạt lại chính quyền trong tay bọn
ngoại thích, do vậy mà chính quyền thường bị bọn hoạn quan thao túng,
thế lực ngày càng lớn mạnh. Đây là bối cảnh tranh chấp các bè phái thời
Đông Hán.
THỜI TAM QUỐC
220 – 280
NHÀ NGỤY
220 – 262 Gồm
các triều Vua:
1-Văn Đế, tên Tào Phi, hiệu Hoàng Sơ, lên ngôi
năm 220, ở ngôi được 7 năm
2- Minh Đế, tên Tào Duệ, hiệu Thái
Hòa, lên ngôi năm 227, ở ngôi được 7 năm.
- Đổi niên hiệu
là Thanh Long năm 233, ở ngôi được 5 năm.
- Đổi niên hiệu
là Cảnh Sơ năm 237, ở ngôi được 3 năm.
3- Tề Vương, tên Tào
Phương, niên hiệu Chính Thủy, lên ngôi 240, ở ngôi 10 năm.
- Đổi niên hiệu là Gia Bình năm 249, ở ngôi được 10 năm.
4- Cao
Quý Hương Công, tên Tào Man, niên hiệu Chính Nguyên, lên ngôi 254, ở
ngôi được 3 năm.
- Đổi niên hiệu là Cam Lộ năm 256, ở ngôi
được 5 năm.
5- Nguyên Đế Trần Lưu Vương, tên Tào Hoán, niên hiệu
Cảnh Nguyên, lên ngôi năm 260, ở ngôi được 5 năm.
- Đổi
niên hiệu là Hàm Hy năm 264, ở ngôi được 4 năm.
NHÀ THỤC
HÁN
221 – 263 Gồm các
triều Vua:
1- Chiêu Liệt Đế, tên chính Lưu Bị, niện hiệu
Chương Vũ, lên ngôi năm 221 s.CN, ở ngôi được 3 năm.
- Đổi
niên hiệu là Kiến Hưng năm 223 s.CN, ở ngôi được 15 năm
2- Hậu
Chủ, tên Lưu Thiền, niên hiệu Diên Hy, lên ngôi năm 238, ở ngôi 20 năm.
NHÀ TÔN NGÔ
222 – 280
Gồm các triều Vua: 1- Đại Đế, tên Tôn Quyền, hiệu
Hoàng Vũ, lên ngôi năm 222, ở ngôi 8 năm.
- Đổi niên hiệu
là Hoàng Long năm 229, ở ngôi 3 năm.
- Đổi niên hiệu là
Gia Hòa năm 232, ở ngôi 7 năm.
- Đổi niên hiệu là Xích Ô
năm 238, ở ngôi 14 năm
- Đổi niên hiệu là Thái Nguyên năm
251, ở ngôi 2 năm.
- Đổi niên hiệu là Thần Phương năm 252,
ở ngôi 1 năm.
2- Cối Kê Vương, tên Tôn Lượng, hiệu Kiến Hưng,
lên ngôi năm 252, ở ngôi 2 năm
- Đổi niên hiệu là Ngũ
Phương năm 254, ở ngôi 3 năm.
3- Cảnh Đế, tên Tôn Hưu, niên hiệu
Vĩnh An, lên ngôi năm 258, ở ngôi 7 năm.
4- Ô Trình Hầu, tên Tôn
Hạo, hiệu Nguyên Hưng, lên ngôi 264, ở ngôi 2 năm.
- Đổi
niên hiệu là Cam Lộ năm 265, ở ngôi 2 năm.
- Đổi niên hiệu
là Bảo Đỉnh năm 266, ở ngôi 4 năm.
- Đổi niên hiệu là
Kiến Hoành năm 269, ở ngôi 3 năm.
- Đổi niên hiệu là
Phượng Hoàng năm 272, ở ngôi 3 năm.
- Đổi niên hiệu là
Thiên Sách năm 275, ở ngôi 2 năm.
- Đổi niên hiệu là Thiên
Trụ năm 276, ở ngôi 1 năm.
- Đổi niên hiệu là Thiên Kỷ
năm 277, ở ngôi 4 năm.
Thời đại Tam quốc nối tiếp
cuộc khởi nghĩa Khăn vàng do nông dân bị áp bức vùng lên cuối đời Đông
Hán. Bọn ngoại thích do Hà Tiến đứng đầu, câu kết với thế lực quý tộc
quan lại triều đình do Viên Thiệu cầm đầu, đã giết hơn hai ngàn hoạn
quan, thế lực bọn hoạn quan tan dã. Đổng Trác nhân cơ hội đó, tiến vào
Kinh thành lấy cớ phò tá triều đình, nắm quyền lực, phế bỏ vua Hán Hiếu
Đế, lập vua mới là Hán Hiến Đế. Viên Thiệu đem quân chạy ra Quan Đông,
phát động chiến tranh thảo phạt Đổng Trác. Hán Hiến Đế rơi vào tay Đổng
Trác, sau lại bị Tào Tháo kiềm chế ép buộc rời đô về Hứa Xương năm 196,
nhà Đông Hán chỉ có danh mà không có thực. Trong vòng mấy năm, Tào Tháo
đã tiêu diệt được Lã Bố, Viên Thuật, Trương Tú. Lúc bấy giờ thế lực của
Viên Thiệu ở Hà Bắc cũng rất mạnh đã tiêu diệt được thế lực Công Tôn
Toản. Năm 205, Tào Tháo đại phá Viên Thiệu, tiêu diệt Mã Đằng, Hàn Toại.
Năm 208, Tào Tháo quay về phía Nam tấn công Kinh Châu, Lưu Tôn con Lưu
Biểu đầu hàng Tào Tháo. Nhân đà, Tào Tháo tấn công Giang Đông, nhưng đại
bại ở Xích Bích, do liên quân của Tôn Quyền và Lưu Bị chặn đánh. Sau
trận Xích Bích, Lưu Bị chiếm vùng phía Bắc Kinh Châu, phía Nam có Vũ
Lăng, Trường Xa (tỉnh Giang Nam). Năm 214, Lưu Chương đầu hàng Lưu Bị,
nên Lưu Bị được cả Ích Châu. Năm 219, Tôn Quyền chiếm toàn bộ Kinh Châu,
Tào Tháo quay về Bắc lấy Hán Trung. Thế chân vạc hình thành lâu dài.
Năm 220, Tào Tháo chết, con là Tào Phi phế bỏ Hán Hiến Đế, tự
lên ngôi Hoàng Đế, lấy quốc hiệu là Ngụy, đóng đô ở Lạc Dương. Năm 221,
Lưu Bị xưng Đế ở đất Thục, lấy quốc hiệu là Hán, đóng đô ở Thành Đô. Năm
229, Tôn Quyền xưng Đế, lấy quốc hiệu là Ngô, đóng đô ở Kiến Nghiệp
(Nam Kinh).
THỜI KỲ LƯỠNG TẤN
265 – 420
THỜI TÂY TẤN
265 – 317
Gồm các triều Vua: 1- Vũ Đế, tên Tư Mã Viêm, hiệu
Thái Sử, lên ngôi năm 265, ở ngôi 10 năm.
- Đổi niên hiệu
là Hàm Ninh năm 275, ở ngôi 6 năm.
- Đổi niên hiệu là
Thái Khang năm 280, ở ngôi 6 năm.
- Đổi niên hiệu là Thái
Hy năm 290, ở ngôi 1 năm.
2- Huệ Đế, tên Tư Mã Táo, hiệu Vĩnh
Hy, lên ngôi năm 290, ở ngôi 1 năm.
- Đổi niên hiệu là
Vĩnh Bình năm 291, ở ngôi 1 năm.
- Đổi niên hiệu là Nguyên
Khang năm 291, ở ngôi 9 năm.
- Đổi niên hiệu là Vĩnh
Khang năm 300, ở ngôi 2 năm.
- Đổi niên hiệu là Vĩnh Ninh
năm 301, ở ngôi 2 năm
- Đổi niên hiệu là Thái An năm 302, ở
ngôi 1 năm.
- Đổi niên hiệu là Vĩnh An năm 303, ở ngôi 2
năm.
- Đổi niên hiệu là Kiến Vũ năm 304, ở ngôi 1 năm.
- Đổi niên hiệu là Vĩnh An năm 304, ở ngôi 1 năm.
- Đổi niên hiệu là Vĩnh Hưng năm 304, ở ngôi 3 năm.
- Đổi niên hiệu là Quang Hy năm 306, ở ngôi 1 năm.
3- Hoài Đế,
tên Tư Mã Xích, quốc hiệu Vĩnh Gia, lên ngôi năm 307, ở ngôi 7 năm.
4- Mẫn Đế, tên Tư Mã Nghiệp, quốc hiệu Kiến Hưng, lên ngôi 313, ở
ngôi 5 năm.
THỜI ĐÔNG TẤN
317- 420
Gồm các triều Vua: 1- Nguyên Đế, tên Tư Mã
Duệ, niên hiệu Kiến Vũ lên ngôi năm 317, ở ngôi 2 năm.
-
Năm 318 đổi niên hiệu là Đại Hưng, ở ngôi 4 năm.
2- Minh Đế, tên
Tư Mã Hiệu, hiệu Vĩnh Xương, lên ngôi năm 322, ở ngôi 1 năm.
- Năm 322 đổi niên hiệu là Thái Ninh, ở ngôi 4 năm.
3-
Thành Đế, tên Tư Mã Diễn, hiệu Hàm Hòa, lên ngôi năm 325, ở ngôi 1 năm.
- Năm 325 đổi niên hiệu là Hàm Khang, ở ngôi 9 năm.
- Năm 333 đổi niên hiệu là Kiến Nguyên, ở ngôi 8 năm.
4-
Khang Đế, tên Tư Mã Nhạc, hiệu Vĩnh Hòa, lên ngôi năm 343, ở ngôi 2 năm.
5- Mục Đế, Tư Mã Đam, hiệu Thăng Bình, lên ngôi năm 347, ở ngôi
12 năm
- Năm 358 đổi niên hiệu là Long Hòa, ở ngôi 5 năm.
6- Ai Đế, tên Tư Mã Phi, hiệu Hưng Ninh, lên ngôi năm 362, ở ngôi 2
năm.
- Năm 363 đổi niên hiệu là Thái Hòa, ở ngôi 3 năm.
7- Hải Tây Công, tên Tư Mã Nghĩa, hiệu Hàm An, lên ngôi 366, ở ngôi 6
năm.
8- Giản Văn Đế, tên Tư Mã Dục, hiệu Ninh Khang, lên ngôi
371, ở ngôi 3 năm.
9- Hiếu Vũ Đế, tên Tư Mã Diệu, hiệu Thái
nguyên, lên ngôi 373, ở ngôi 3 năm.
- Năm 376 đổi niên
hiệu là Long An, ở ngôi 21 năm.
10- An Đế, tên Tư Mã Đức Tông,
hiệu Nguyên Hưng, lên ngôi 397, ở ngôi 9 năm.
- Năm 405
đổi niên hiệu là Nghĩa Hy, ở ngôi 14 năm.
11- Cung Đế, tên Tư Mã
Đức Văn, hiệu Nguyên Hy, lên ngôi 419, ở ngôi 2 năm.
THỜI KỲ NAM BẮC TRIỀU
420 – 589
THỜI NAM TRIỀU
Tống (Lưu Tốn) Năm
420 - 479. Gồm các triều Vua:
1- Vũ Đế, tên Lưu Tục, hiệu
Vĩnh Sơ, lên ngôi năm 420, ở ngôi 3 năm.
2- Thiếu Đế, tên Lưu
Nghĩa Phù, hiệu Cảnh Bình, lên ngôi 423, ở ngôi 2 năm.
3-
Văn Đế, Lưu Nghĩa Long, hiệu Nguyên Gia, lên ngôi 424, ở ngôi 30 năm.
4- Hiếu Vũ Đế, tên Lưu Tuấn, hiệu Hiếu Kiến, lên ngôi 454, ở ngôi
3 năm.
- Năm 457 đổi niên hiệu là Đại Minh, ở ngôi 8
năm.
5- Tiền Phế Đế, tên Lưu Tử Nghiệp, hiệu Vĩnh Quang, lên
ngôi 465, ở ngôi 1 năm.
- Năm 465 đổi niên hiệu là Cảnh
Hòa, ở ngôi 1 năm.
6- Minh Đế, tên Lưu Dụ, hiệu Thái Thủy,
lên ngôi 465, ở ngôi 7 năm
- Năm 472 đổi niên hiệu là
Thái Dự, ở ngôi 1 năm.
7- Hậu Phế Đế, tên Lưu Dự, hiệu Nguyên
Huy, lên ngôi 473, ở ngôi 5 năm.
8- Thuận Đế, tên Lưu Chuẩn,
hiệu Thăng Minh, lên ngôi 477, ở ngôi 3 năm.
Tề
Năm 479 – 502. Gồm các triều Vua:
1- Cao Đế, tên Tiêu Đạo
Thành, hiệu Kiến Nguyên, lên ngôi 479, ở ngôi 4 năm.
2- Vũ
Đế, tên Tiêu Trách Tiêu, hiệu Vĩnh Minh, lên ngôi 483, ở ngôi 11 năm.
3- Uất Lâm Vương, tên Chiêu Nghiệp, hiệu Long Xương, lên ngôi
494, ở ngôi 1n
4- Hải Lăng Vương, tên Tiêu Chiêu Văn, hiệu
Diên Hưng, lên ngôi 494, ở ngôi 1n
5- Minh Đế, tên Tiêu Loan,
hiệu Kiến Vũ, lên ngôi 494, ở ngôi 4 năm.
6- Đông Hôn Hầu,
tên Tiêu Bảo Quyển, hiệu Vĩnh Nguyên, lên ngôi 499, ở ngôi 3n
7- Hòa Đế, niên hiệu Trung Hưng, lên ngôi 501, ở ngôi 2 năm.
Lương Năm 502 – 557. Gồm các triều Vua:
1- Vũ Đế,
tên Tiêu Diễn, hiệu Thiên Giám, lên ngôi 502, ở ngôi 18 năm.
- Năm 520 đổi hiệu là Phổ Thông, ở ngôi 8 năm.
-
Năm 527 đổi hiệu là Đại Thông, ở ngôi 3 năm.
- Năm 529
đổi hiệu là Trung Đại Thông, ở ngôi 6 năm.
- Năm 535 đổi
hiệu là Đại Đồng, ở ngôi 12 nưm.
- Năm 546 đổi hiệu là
Trung Đại Đồng, ở ngôi 2 năm.
- Năm 547 đổi hiệu là Thái
Thanh, ở ngôi 3 năm.
2- Giản Văn Đế, tên Tiêu Cương, hiệu Đại
Bảo, lên ngôi 550, ở ngôi 2 năm.
3- Nguyên Đế, tên Tiêu Dịch,
hiệu ThừaThánh, lên ngôi 552, ở ngôi 4 năm.
4- Kinh Đế, tên Tiêu
Phương Trí, hiệu Thiệu Thái, lên ngôi 555, ở ngôi 2 năm.
-
Năm 556 đổi hiệu là Thái Bình, ở ngôi 2 năm.
Trần Năm 557 – 589. Gồm các triều Vua:
1- Vũ
Đế, tên Trần Bá Tiên, hiệu Vĩnh Định, lên ngôi 557, ở ngôi 3 năm.
2- Văn Đế, tên Trần Thiên, hiệu Thiên Gia, lên ngôi 560, ở ngôi 7
năm.
3- Phế Đế, tên Trần Bá Tông, hiệu Thiên Khang, lên ngôi
566, ở ngôi 1 ăm.
- Năm 567 đổi tên Giám Hải Vương, đổi
hiệu là Quang Đại, ở ngôi 2 năm.
4- Tuyên Đế, tên Trần Tu,
hiệu Thái Kiến, lên ngôi 569, ở ngôi 14 năm.
5- Hậu Chủ, tên
Trần Thúc Bảo, hiệu Chí Đức, lên ngôi 583, ở ngôi 4 năm.
- Năm 587 đổi quốc hiệu là Trinh Minh, ở ngôi 3 năm.
THỜI BẮC TRIỀU
386 – 584 Bắc
Ngụy Năm 386 – 534. Gồm các triều Vua:
1- Đạo Vũ Đế, tên
Thất Bạt Quy, hiệu Đăng Quốc, lên ngôi 386, ở ngôi 11 năm.
- Năm 296 đổi hiệu là Hoàng Thủy, ở ngôi 3 năm.
-
Năm 398 đổi hiệu là Thiên Hưng, ở ngôi 3 năm.
- Năm 404
đổi hiệu là Thiên Tứ, ở ngôi 6 năm.
2- Minh Nguyên Đế, tên
Thái Tự, hiệu Vĩnh Hưng, lên ngôi 409, ở ngôi 5 năm.
-
Năm 414 đổi hiệu là Thần Thụy, ở ngôi 3 năm.
- Năm 416
đổi hiệu là Thái Thường, ở ngôi 8 năm.
3- Thái Vũ Đế, tên Thất
Bạc Dư, hiệu Thủy Quang, lên ngôi 424, ở ngôi 5 năm.
-
Năm 428 đổi hiệu là Trần Gia, ở ngôi 4 năm.
- Năm 432 đổi
hiệu là Điện Hòa, ở ngôi 3 năm.
- Năm 435 đổi hiệu là
Thái Diên, ở ngôi 6 năm.
- Năm 440 đổi hiệu là Thái Bình,
ở ngôi 12 năm.
4- Văn Thành Đế, tên Thất Duệ, hiệu Hưng An, lên
ngôi 452, ở ngôi 1 năm.
- Năm 453 đổi hiệu Hưng Quang, ở
ngôi 2 năm.
- Năm 455 đổi hiệu là Thái An, ở ngôi 5 năm.
- Năm 460 đổi hiệu là Hòa Bình, ở ngôi 6 năm.
5- Hiến
Văn Đế, tên Thất Hoằng, hiệu Thiên An, lên ngôi 466, ở ngôi 2 năm.
- Năm 467 đổi hiệu là Hoàng Hưng, ở ngôi 5 năm.
6-
Hiếu Văn Đế, tên Nguyên Hùng, hiệu Diên Hưng, lên ngôi 471, ở ngôi 6
năm.
- Năm 476 đổi hiệu là Thừa Minh, ở ngôi 1 năm.
- Năm 477 đổi hiệu là Thái Hòa, ở ngôi 23 năm.
7-
Tuyên Vũ Đế, tên Nguyên Các, hiệu Cảnh Minh, lên ngôi 500, ở ngôi 4 năm
- Năm 504 đổi hiệu là Chính Thủy, ở ngôi 5 năm.
- Năm 508 đổi hiệu là Vĩnh Bình, ở ngôi 5 năm.
-
Năm 512 đổi hiệu là Diên Xương, ở ngôi 4 năm.
8- Hiếu Minh
Đế, tên Nguyên Thư, hiệu Hy Bình, lên ngôi 516, ở ngôi 3 năm.
- Năm 518 đổi hiệu là Thần Quy, ở ngôi 3 nam.
-
Năm 520 đổi hiệu là Chính Quang, ở ngôi 6 năm.
- Năm 525
đổi hiệu là Hiếu Xương, ở ngôi 3 năm.
- Năm 528 đổi hiệu
là Vũ Thái, ở ngôi 1 năm.
9- Hiếu Trang Đế, tên Nguyên Tử Du,
hiệu Kiến Nghĩa, lên ngôi 528, ở ngôi 1 năm
- Năm 528
đổi hiệu là Vĩnh An, ở ngôi 3 năm.
10-Trường Quảng Vương, tên
Nguyên Diệp, hiệu Kiến Minh, lên ngôi 530.
11- Tiết Mẫn Đế, tên
Nguyên Cung, hiệu Phổ Thái, lên ngôi 531.
12- An Định Vương, tên
Nguyên Lãng, hiệu Trung Hưng, lên ngôi 531, ở ngôi 2 n
13- Hiếu
Vũ Đế, tên Nguyên Tiêu, hiệu Thái Xương, lên ngôi 532, ở ngôi 1 năm.
- Năm 532 đổi quốc hiệu là Vĩnh Hưng, ở ngôi 1 năm.
- Năm 433 đổi quốc hiệu là Vĩnh Hy, ở ngôi 3 năm.
Đông Ngụy 534 – 550
1- Hiếu Tỉnh Đế, tên
Nguyên Thiên Kiến, hiệu Thiên Bình, lên ngôi 534, ở ngôi 4 n
- Năm 538 đổi quốc hiệu là Nguyên Tượng, ở ngôi 2 năm
- Năm 539 đổi quốc hiệu là Hưng Hòa, ở ngồi 4 năm.
- Năm 543 đổi quốc hiệu là Vũ Định, ở ngôi 8 năm.
Bắc Tề 550 – 577. Gồm các triều Vua:
1- Văn
Tuyên Đế, tên Cao Dương, lên ngôi 550, hiệu Thiên Bảo, ở ngôi 10 năm.
2- Phế Đế, tên Cao Ân, lên ngôi năm 560, hiệu Càn Minh, ở ngôi 1
năm
3- Hiếu Chiêu Đế, tên Cao Diễn, lên ngôi 560, hiệu Hoàng
Kiến, ở ngôi 2 năm.
4- Vũ Thành Đế, tên Cao Trạm, lên ngôi
561, hiệu Thái Ninh, ở ngôi 2 năm.
- Năm 562 đổi quốc
hiệu là Hà Thanh, ở ngôi 4 năm.
5- Hậu Chủ, tên Cao Vĩ, lên
ngôi 565, hiệu Thiên Thống, ở ngôi 5 năm.
- Năm 570 đổi
quốc hiệu là Vũ Bình, ở ngôi 7 năm.
- Năm 576 đổi quốc
hiệu là Long Hóa, ở ngôi 1 năm.
- Năm 577 đổi quốc hiệu
là Thừa Quang, ở ngôi 1 năm.
Tây Ngụy 535
– 556. Gồm các triều Vua:
1- Văn Đế, tên Nguyên Bảo Cự, lên
ngôi 535, hiệu đại Thống, ở ngôi 17 năm.
2- Phế Đế, tên
Nguyên Khâm, lên ngôi 552, hiệu Đại Thống, ở ngôi 3 năm.
3-
Cung Đế, tên Nguyên Quánh, lên ngôi 554, hiệu Đại Thống, ở ngôi 3 năm.
Bắc Chu 557 – 581. Gồm các triều Vua:
1- Hiếu Mẫn, tên Vũ Văn Giác, lên ngôi 557, ở ngôi 1 năm.
2- Minh Đế, tên Vũ Dụ, lên ngôi 557, hiệu Vũ Thành, ở ngôi 3 năm.
3- Vũ Đế, tên Vũ Dung, lên ngôi 559, hiệu Bảo Định, ở ngôi 2 năm.
- Năm 561 đổi quốc hiệu là Thiên Hòa, ở ngôi 5 năm.
- Năm 566 đổi quốc hiệu là Kiến Đức, ở ngôi 7 năm.
- Năm 572 đổi quốc hiệu là Tuyên Chính, ở ngôi 7 năm.
4- Tuyên Đế, tên Vũ Xuân, lên ngôi 578, hiệu Đại Thành, ở ngôi 1
năm.
5- Tính Đế, tên Vũ Xiển, lên ngôi 579, hiệu Đại Tượng, ở
ngôi 1 năm.
- Năm 579 đổi quốc hiệu là Đại Định, ở ngôi 3
năm.
Tùy 581 – 618. Gồm các triều Vua:
1- Văn Đế, tên Dương Kiên, lên ngôi 581, hiệu Khai Hoàng, ở ngôi
20 năm.
- Năm 601 đổi quốc hiệu là Nhân Thọ, ở ngôi 4
năm.
2- Dạng Đế, tên Dương Quảng, lên ngôi 604, hiệu Đại
Nghiệp, ở ngôi 14 năm.
3- Cung Đế, tên Dương Du, lên ngôi
617, hiệu Nghĩa Ninh, ở ngôi 2 năm.
Đường
618 – 907. Gồm các triều Vua:
1- Cao Tổ, tên Lý Uyên, lên
ngôi 618, hiệu Vũ Đức, ở ngôi 9 năm.
2- Thái Tông, tên Lý Thế
Dân, lên ngôi 627, hiệu Trinh Quán, ở ngôi 23 năm.
3- Cao
Tông, tên Lý Trị, lên ngôi 650, hiệu Vĩnh Huy, ở ngôi 6 năm.
- Năm 656 đổi quốc hiệu là Hiển Khánh, ở ngôi 6 năm.
- Năm 661đổi quốc hiệu là Long Sóc, ở ngôi 3 năm.
- Năm 664 đổi quốc hiệu là Lân Đức, ở ngôi 2 năm.
- Năm 666 đổi quốc hiệu là Càn Phong, ở ngôi 3 năm.
- Năm 668 đổi quốc hiệu là Tổng Chương, ở ngôi 3 năm.
- Năm 670 đổi quốc hiệu là Hàm Hanh, ở ngôi 5 năm.
- Năm 674 đổi quốc hiệu là Thượng Nguyên, ở ngôi 3 năm.
- Năm 676 đổi quốc hiệu là Nghi Phượng, ở ngôi 4 năm.
- Năm 679 đổi quốc hiệu là Điều Lộ, ở ngôi 2 năm.
- Năm 680 đổi quốc hiệu là Vĩnh Long, ở ngôi 2 năm.
- Năm 681 đổi quốc hiệu là Khai Diệu, ở ngôi 2 năm.
- Năm 682 đổi quốc hiệu là Vĩnh Đình, ở ngôi 2 năm.
- Năm 683 đổi quốc hiệu là Hoằng Đạo, ở ngôi 1 năm.
4- Trung Tông, tên Lý Hiểu (còn gọi Lý Triết hay Lý Đán), lên ngôi
684, lấy quốc hiệu là Tự Khánh, ở ngôi 1 năm.
5- Duệ
Tông, tên Vũ Triệu (còn gọi Vũ Tắc), lên ngôi năm 684, lấy quốc hiệu là
Văn Minh, ở ngôi 1 năm.
6- Vũ Hậu, tên Thiên, lên ngôi 684,
hiệu Quang Trạch, ở ngôi 1 năm.
- Năm 685 lấy quốc hiệu
là Thùy Củng, ở ngôi 4 năm.
- Năm 689 lấy quốc hiệu là
Vĩnh Xương, ở ngôi 1 năm.
- Năm 690 lấy quốc hiệu là Đãi
Sơ, ở ngôi 1 năm.
7- Vũ Hậu xưng Đế, tên
Võ Tắc Thiên,
đặt tên nước là Chu, lên ngôi năm 690, lấy quốc hiệu là Thiên Thụ, ở
ngôi 3 năm.
- Năm 692 đổi niên hiệu là Như Ý, ở ngôi 1
năm.
- Năm 692 đổi niên hiệu là Trường Thọ, ở ngôi 3 năm.
- Năm 694 đổi niên hiệu là Diên Tải, ở ngôi 1 năm.
- Năm 695 đổi niên hiệu là Trưng Thánh, ở ngôi 1 năm.
- Năm 695 đổi niên hiệu là Thiên Sách, ở ngôi 2 năm.
- Năm 696 đổi niên hiệu là Vạn Tuế Đăng Phong, ở ngôi 2 năm.
- Năm 697 đổi niên hiệu là Vạn Tuế Thông Thiên, ở ngôi 2 năm.
- Năm 688 đổi niên hiệu là Thần Công, ở ngôi 1 năm.
- Năm 698 đổi niên hiệu là Thánh Lịch, ở ngôi 3 năm.
- Năm 700 đổi niên hiệu là Cữu Thị, ở ngôi 1 năm.
- Năm 701 đổi niên hiệu là Đại Túc, ở ngôi 1 năm.
- Năm 701 đổi niên hiệu là Trường An, ở ngôi 4 năm.
8- Trung Tông, tên Lý Hiển, đổi lại tên nước là Đường, lên ngôi năm
705, lấy niên hiệu là Thần Long, ở ngôi 3 năm.
- Năm 708
đổi niên hiệu là Cảnh Long, ở ngôi 2 năm.
9- Duệ Tông, tên Lý
Dán, lên ngôi 710, hiệu Cảnh Vân, ở ngôi 2 năm.
- Năm
712 đổi niên hiệu là Thái Cực, ở ngôi 1 năm.
- Năm 712
đổi niên hiệu là Diên Hòa, ở ngôi 1 năm.
10- Huyền Tông, tên Lý
Long Cơ, lên ngôi 712, hiệu Tiên Thiên, ở ngôi 2 năm.
-
Năm 713 đổi niên hiệu là Khai Nguyên, ở ngôi 29 năm.
-
Năn 742 đổi niên hiệu là Thiên Bảo, ở ngôi 15 năm.
11- Túc Tông,
tên Lý Hanh, lên ngôi 756, hiệu Chí Đức, ở ngôi 3 năm.
-
Năm 758 đổi niên hiệu là Càn Nguyên, ở ngôi 3 năm.
- Năm
760 đổi niên hiệu là Thượng Nguyên, ở ngôi 3 năm.
12- Đại Tông,
tên Lý Dự, lên ngôi 762, hiệu Bảo Ứng, ở ngôi 2 năm.
- Năm
763 đổi niên hiệu là Quảng Đức, ở ngôi 2 năm.
- Năm 765
đổi niên hiệu là Vĩnh Thái, ở ngôi 2 năm.
- Năm 766 đổi
niên hiệu là Đại Lịch, ở ngôi 14 năm.
13- Đức Tông, tên Lý Khoát,
lên ngôi 780, hiệu Kiến Trung, ở ngôi 4 năm.
- Năm 784
đổi niên hiệu là Hưng Nguyên, ở ngôi 1 năm.
- Năm 785 đổi
niên hiệu là Trịnh Nguyên, ở ngôi 21 năm.
14- Thuận Tông, tên Lý
Tụng, lên ngôi 805, hiệu Vĩnh Trinh, ở ngôi 1 năm
15- Hiến Tông,
tên Lý Thuận, lên ngôi 806, hiệu Nguyên Hòa, ở ngôi 15 năm.
16-
Mục Tông, tên Lý Hằng, lên ngôi 821, hiệu Trường Khánh, ở ngôi 4 năm.
17- Kính Tông, tên Lý Trạm, lên ngôi 825, hiệu Bảo Lịch, ở ngôi 3
năm.
18- Văn Tông, tên Lý Ngang, lên ngôi 826, hiệu Bảo Lịch, ở
ngôi 1 năm.
- Năm 827 đổi niên hiệu là Thái Hòa, ở ngôi 9
năm.
- Năm 836 đổi niên hiệu là Khai Thành, ở ngôi 5 năm.
19- Vũ Tông, tên Lý Viêm, lên ngôi 841, hiệu Hội Xương, ở ngôi 6 năm.
20- Tuyên Tông, tên Lý Thẩm, lên ngôi 847, hiệu Đại Trung, ở
ngôi 14 năm.
21- Ý Tông, tên Lý Thôi, lên ngôi 859, hiệu Đại
Trung.
22- Hi Tông, tên Lý Tuyên, lên ngôi 859, hiệu Thành Thông,
ở ngôi 15 năm.
- Năm 874 đổi niên hiệu là Càn Phù, ở ngôi
6 năm.
- Năm 880 đổi niên hiệu là Quảng Ninh, ở ngôi 2
năm.
- Năm 881 đổi niên hiệu là Trung Hòa, ở ngôi 5 năm.
- Năm 885 đổi niên hiệu là Quang Khởi, ở ngôi 4 năm.
- Năm 888 đổi nên hiệu là Văn Đức, ở ngôi 1 năm.
23- Chiêu
Tông, tên Lý Diệp, lên ngôi 889, hiệu Long Kỷ, ở ngôi 1 năm.
- Năm 890 đổi niên hiệu là Đại Thuận, ở ngôi 2 năm.
- Năm 892 đổi niên hiệu là Cảnh Phúc, ở ngôi 2 năm.
- Năm
894 đổi niên hiệu là Càn Ninh, ở ngôi 5 năm.
- Năm 898
đổi niên hiệu là Quang Hóa, ở ngôi 4 năm.
- Năm 901 đổi
niên hiệu là Thiên Phúc, ở ngôi 4 năm.
- Năm 904 đổi niên
hiệu là Thiên Hựu, ở ngôi 4 năm.
24- Ai Đế, tên Lý Trù, lên ngôi
904, hiệu Thiên Hựu
THỜI NGŨ ĐẠI
907 – 960
Triều hậu Lương 907 – 923. Gồm các triều Vua:
1- Thái Tổ, tên Chu Toàn Trung, lên ngôi 907, hiệu Khai Bình, ở
ngôi 5 năm.
- Năm 911 đổi niên hiệu là Càn Hóa, ở ngôi 5
năm.
2- Mạt Đế, tên Chu Chân, lên ngôi 913, hiệu Càn Hóa, ở
ngôi 3 năm
- Năm 915 đổi niên hiệu là Trinh Minh, ở ngôi 7
năm.
Triều hậu Đường 923 – 936. Gồm các
triều Vua:
1- Trang Tông, tên Lý Tồn Tu, lên ngôi 923, hiệu
Đồng Quang, ở ngôi 4 năm.
2- Minh Tông, tên Lý Đảm, lên ngôi
926, hiệu Thiên Thành, ở ngôi 5 năm
- Năm 930 đổi niên
hiệu là Trường Hưng, ở ngôi 4 năm.
3- Mẫn Đế, tên Lý Tùng
Hậu, lên ngôi 934, hiệu Ứng Thuận, ở ngôi 1 năm.
4- Mạt Đế,
tên Lý Tùng Kha, lên ngôi 934, hiệu Thanh Thái, ở ngôi 3 năm.
Triều hậu Tấn 936 – 947. Gồm các triều Vua:
1- Cao Tổ, tên Thạch Kính Đường, lên ngôi 936, hiệu Thiên Phúc, ở
ngôi 9 năm.
2- Xuất, tên Thạch Trọng Quý, lên ngôi 942, hiệu
Thiên Phúc, ở ngôi 2 năm.
- Năm 944 đổi niên hiệu là Khai
Vận, ở ngôi 4 năm.
Triều hậu Hán 947 –
950
1- Cao Tổ, tên Lưu Cảo, lên ngôi 947, hiệu Thiên Phúc.
- Năm 948 đổi niên hiệu là Càn Hựu, ở ngôi 3 năm.
2- Ẩn Đế, tên Lưu Thừa Hựu, lên ngôi 951, niên hiệu Càn Hựu.
Triều hậu Chu 951 – 960. Gồm các triều:
1- Thái Tổ, tên Quách Chu, lên ngôi 951, hiệu Quảng Thạch, ở ngôi 3
năm.
- Năm 954 đổi niên hiệu là Hiển Đức, ở ngôi 7 năm.
2- Thế Tông, tên Sài Vinh, lên ngôi 954, hiệu Hiển Đức, ở ngôi 6
năm.
3- Cung Đế, tên Quách Tông Huấn, lên ngôi 959, hiệu Hiển
Đức, ở ngôi 1 năm.
VƯƠNG TRIỀU TỐNG
BẮC TỐNG
960 – 1127 1- Thái
Tổ, tên Triệu Khuông Dẫn, lên ngôi 960, hiệu Kiên Long, ở ngôi 4 năm.
- Năm 963 đổi niên hiệu là Càn Đức, ở ngôi 6 năm.
- Năm 968 đổi niên hiệu là Khai Bảo, ở ngôi 9 năm.
2-
Thái Tông, tên Triệu Quýnh (hay Khuông Nghĩa, hay Quang Nghĩa), lên
ngôi 976, hiệu Thái Bình hưng quốc, ở ngôi 9 năm.
- Năm
984 đổi niên hiệu là Ung Hy, ở ngôi 4 năm.
- Năm 988 đổi
niên hiệu là Thụy Củng, ở ngôi 2 năm.
- Năm 990 đổi niên
hiệu là Đình Hóa, ở ngôi 5 năm.
- Năm 995 đổi niên hiệu
là Chí Đạo, ở ngôi 3 năm.
3- Chân Tông, tên Triệu Hằng, lên
ngôi 998, hiệu Hàm Bình, ở ngôi 6 năm.
- Năm 1004 đổi
niên hiệu là Cảnh Đức, ở ngôi 4 năm.
- Năm 1008 đổi niên
hiệu là Đại Trung, ở ngôi 9 năm.
- Năm 1017 đổi niên hiệu
là Thiên Hy, ở ngôi 5 năm.
- Năm 1022 đổi niên hiệu là
Càn Hưng, ở ngôi 1 năm.
4- Nhân Tông, tên Triệu Trinh, lên
ngôi 1023, hiệu Thiên Thánh, ở ngôi 10 năm.
- Năm 1032
đổi niên hiệu là Minh đạo, ở ngôi 2 năm.
- Năm 1034 đổi
niên hiệu là Cảnh Hựu, ở ngôi 5 năm.
- Năm 1038 đổi niên
hiệu là Bảo Nguyên, ở ngôi 3 năm.
- Năm 1040 đổi niên
hiệu là Khang Định, ở ngôi 2 năm.
- Năm 1041 đổi niên
hiệu là Khánh Lịch, ở ngôi 8 năm.
- Năm 1049 đổi niên
hiệu là Hoàng Hựu, ở ngôi 6 năm.
- Năm 1054 đổi niên hiệu
là Chí Hòa, ở ngô 3 năm.
- Năm 1056 đổi niên hiệu là Gia
Hựu, ở ngôi 8 năm.
5- Anh Tông, tên Triệu Thử, lên ngôi
1064, hiệu Trị Bình, ở ngôi 4 năm.
6- Thần Tông, tên Triệu
Tự, lên ngôi 1068, hiệu Hy Ninh, ở ngôi 10 năm.
7- Triết
Tông, tên Triệu Tu, lên ngôi 1078, hiệu Nguyên Phong, ở ngôi 8 năm.
- Năm 1086 đổi niên hiệu là Nguyên Hựu, ở ngôi 9 năm.
- Năm 1094 đổi niên hiệu là Chiêu Thánh, ở ngôi 5 năm.
- Năm 1098 đổi niên hiệu là Nguyên Phù, ở ngôi 3 năm.
8-
Huy Tông, tên Triệu Cát, lên ngôi 1101, hiệu Kiến Tùng tĩnh quốc, ở ngôi
1 năm.
- Năm 1102 đổi niên hiệu là Sùng Ninh, ở ngôi 5
năm.
- Năm 1107 đổi niên hiệu là Đại Quan, ở ngôi 4 năm.
- Năm 1111 đổi niên hiệu là Chính Hòa, ở ngôi 8 năm.
- Năm 1118 đổi niên hiệu là Trùng Hòa, ở ngôi 2 năm.
- Năm 1119 đổi niên hiệu là Tuyên Hòa, ở ngôi 7 năm.
9-
Khâm Tông, tên Hoãn, lên ngôi 1126, hiệu Tĩnh Khang, ở ngôi 2 năm.
NAM TỐNG
1127 – 1279 1- Cao
Tông, tên Triệu Cấu, lên ngôi 1127, hiệu Kiến Viên, ở ngôi 4 năm.
- Năm 1131 đổi niên hiệu là Thiệu Hưng, ở ngôi 32 năm.
2- Hiếu Tông, tên Triệu Thần, lên ngôi 1163, hiệu Long Hưng, ở ngôi 2
năm.
- Năm 1165 đổi niên hiệu là Càn đạo, ở ngôi 9 năm.
- Năm 1174 đổi niên hiệu là Đình Hy, ở ngôi 16 năm.
3- Quang Tông, tên Triệu Tuân, lên ngôi 1190, hiệu Thiệu Hy, ở ngô 5
năm.
4- Ninh Tông, tên Triệu Khuếch, lên ngôi 1195, hiệu
Khánh Nguyên, ở ngôi 6 năm.
- Năm 1201 đổi niên hiệu là
Gia Thái, ở ngôi 4 năm.
- Năm 1205 đổi niên hiệu là Khai
Hy, ở ngôi 3 năm.
- Năm 1208 đổi niên hiệu là Gia Định, ở
ngôi 17 năm.
5- Lý Tông, tên Triệu Vận, lên ngôi 1125, hiệu
Bảo Khánh, ở ngôi 3 năm.
- Năm 1228 đổi niên hiệu là
Thiệu Định, ở ngôi 6 năm.
- Năm 1234 đổi niên hiệu là
Thụy Bình, ở ngôi 3 năm.
- Năm 1237 đổi niên hiệu là Gia
Hy, ở ngôi 4 năm.
- Năm 1241 đổi niên hiệu là Đình Hựu, ở
ngôi 12 năm.
- Năm 1253 đổi niên hiệu là Bảo Hựu, ở ngôi
6 năm.
- Năm 1259 đổi niên hiệu là Khai Khánh, ở ngôi 1
năm.
- Năm 1260 đổi niên hiệu là Cảnh Định, ở ngôi 5 năm.
6- Độ Tông, tên Triệu Kỳ, lên ngôi 1265, hiệu Hàm Đình, ở
ngôi 10 năm.
7- Cung Đế, tên Triệu Hiển, lên ngôi 1275, hiệu
Đức Hựu, ở ngôi 2 năm.
8- Thụy Tông, tên Triệu Thức, lên ngôi
1276, hiệu Cảnh Viêm, ở ngôi 3 năm.
9- Đế Bỉnh, tên Triệu
Bỉnh, lên ngôi 1278, hiệu Trường Hưng, ở ngôi 2 năm.
VƯƠNG TRIỀU LIÊU
907 – 1125 Dòng họ Da Luật
Dân tộc Liêu xây dựng đất nước vào năm 907, lấy
quốc hiệu là Khiết Đan. Năm 938 đổi tên nước là Liêu. Năm 983 lại gọi
tên nước là Khiết Đan. Năm 1066 lại xưng tên nước là Liêu. Gồm các triều
Vua:
1- Thái Tổ, tên A Bảo Cơ, lên ngôi 907, hiệu Thần Sách,
ở ngôi 10 năm.
- Năm 916 đổi niên hiệu là Thiên Tán, ở
ngôi 7 năm.
- Năm 922 đổi niên hiệu là Thiên Hiển, ở ngôi
5 năm.
2- Thái Tông, tên Đức Quang, lên ngôi 926, hiệu Thiên
Hiển, ở ngôi 1 năm.
- Năm 927 đổi niên hiệu là Hội Đồng,
ở ngôi 12 năm.
- Năm 938 đổi niên hiệu là Đại Đồng, ở
ngôi 10 năm.
3- Thế Tông, tên Da Luật Nguyễn, lên ngôi 947,
hiệu Thiên Lộc, ở ngôi 6 năm.
4- Mục Tông, tên Cảnh, lên ngôi
951, hiệu Ứng Lịch, ở ngôi 19 năm.
5- Cảnh Tông, tên Hiền,
lên ngôi 969, hiệu Bảo Ninh, ở ngôi 11 năm.
- Năm 979 đổi
niên hiệu là Càn Hanh, ở ngôi 5 năm.
6- Thánh Tông, tên Long
Tự, lên ngôi 982, hiệu Càn Hanh, ở ngôi 1 năm.
- Năm 983
đổi niên hiệu Thống Hòa, ở ngôi 30 năm.
- Năm 1012 đổi
niên hiệu làKhai Thái, ở ngôi 10 năm.
- Năm 1021 đổi niên
hiệu là Thái Bình, ở ngôi 11 năm.
7- Hưng Tông, tên Tông
Chân, lên ngôi 1031, hiệu Cảnh Phúc, ở ngôi 2 năm.
- Năm
1032 đổi niên hiệu là Trùng Hy, ở ngôi 24 năm.
8- Đạo Tông,
tên Hồng Cơ, lên ngôi 1055, hiệu Thanh Ninh, ở ngôi 10 năm.
- Năm 1065 đổi niên hiệu là Hàm Ung, ở ngôi 10 năm.
- Năm 1075 đổi niên hiệu là Đại Khang, ở ngôi 10 năm.
- Năm 1085 đổi niên hiệu là đại An, ở ngôi 10 năm.
- Năm 1095 đổi niên hiệu là Thọ Xương, ở ngôi 7 năm.
9- Thiên Tố Đế, tên Diện Hy, lên ngôi 1101, hiệu Càn Thống, ở ngôi
10 năm.
- Năm 1111 đổi niên hiệu là Thiên Khánh, ở ngôi
10 năm.
- Năm 1121 đổi niên hiệu là Bảo Đại, ở ngôi 5
năm.
VƯƠNG TRIỀU KIM
1115 – 1234
Dòng họ Hoàng Nhan
1- Thái Tổ, tên Mân, lên ngôi
1115, hiệu Thu Quốc, ở ngôi 2 năm.
- Năm 1117 đổi niên
hiệu là Thiên Phụ, ở ngôi 7 năm.
2- Thái Tông, tên Thần, lên
ngôi 1123, hiệu Thiên Hội, ở ngôi 15 năm.
3- Hy Tông, tên
Đàn, lên ngôi 1135, hiệu Thiên Hội, ở ngôi 4 năm.
- Năm
1138 đổi niên hiệu là Thiên Chước, ở ngôi 3 năm.
- Năm
1141 đổi niên hiệu là Hoàng Thống, ở ngôi 9 năm.
4- Hải Lăng
Vương, tên Lượng, lên ngôi 1149, hiệu Thiên Đức, ở ngôi 5 năm.
- Năm 1153 đổi niên hiệu là Tring Nguyên, ở ngôi 4 năm.
- Năm 1156 đổi niên hiệu là Chính Long, ở ngôi 6 năm.
5- Thế Tông, tên Ung, lên ngôi 1161, hiệu Đại Định, ở ngôi 29 năm.
6- Chương Tông, tên Cảnh, lên ngôi 1190, hiệu Minh Xương, ở ngôi 7
năm.
- Năm 1196 đổi niên hiệu là Thừa An, ở ngôi 5 năm.
- Năm 1201 đổi niên hiệu là Thái Hòa, ở ngôi 8 năm.
7- Vệ Thiệu Vương, tên Vĩnh Tề, lên ngôi 1209, hiệu Đại An, ở ngôi 3
năm.
- Năm 1212 đổi niên hiệu là Sùng Khánh, ở ngôi 2
năm.
- Năm 1213 đổi niên hiệu là Chí Ninh.
8-
Tuyên Tông, tên Tuần, lên ngôi 1213, hiệu Trinh Hựu, ở ngôi 5 năm.
- Năm 1217 đổi niên hiệu là Hưng Thịnh, ở ngôi 6 năm.
- Năm 1222 đổi niên hiệu là Nguyên Quang, ở ngôi 2 năm.
9- Ai Tông, tên Thú Tự, lên ngôi 1124, hiệu Chính Đại, ở ngôi 9 năm.
- Năm 1232 đổi niên hiệu là Khai Hưng, ở ngôi 1 năm.
- Năm 1232 đổi niên hiệu là Thiên Hưng, ở ngôi 3 năm.
VƯƠNG TRIỀU NGUYÊN
1206 – 1368 Dòng họ Bột
Nhi Chỉ Cân
Năm 1026 Thiết Mộc Chân đã lập đất
nước ở Mông Cổ. Năm 1271 Hốt Tất Liệt định quốc hiệu là Nguyên. Năm 1279
diệt Nam Tống.
1- Thái Tổ, tên Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư
Hãn, lên ngôi 1206, làm vua 22 năm
2- Thi Lôi Giám Quốc, lên
ngôi 1228, làm vua 1 năm.
3- Thái Tông, tên Oa Khoát Đài, lên
ngôi 1229, làm vua 13 năm.
4- Nãi Mã Chân Hậu (xưng đế), lên
ngôi 1242, làm vua 5 năm.
5- Định Tông, tên Quý Do, lên ngôi
1246, làm vua 3 năm.
6- Hải Mã Tiên Hậu (xưng đê), lên ngôi
1249, làm vua 3 năm.
7- Hiến Tông, tên Mông Ca, lên ngôi
1251, làm vua 9 năm.
8- Thế Tổ, tên
Hốt Tất Liệt, lên
ngôi 1260, hiệu Trung Thống, làm vua 5 năm.
- Năm 1264
đổi niên hiệu là Chí Nguyên, làm vua 31 năm.
9- Thành Tông,
tên Thiết Mộc Nhĩ, lên ngôi 1295, hiệu Nguyên Trinh, làm vua 3 n
- Năm 1297 đổi niên hiệu là đại Đức, làm vua 11 năm.
10-
Vũ Tông, tên Hải Sơn, lên ngôi 1308, hiệu Chí Đại, làm vua 4 năm.
11-Nhân Tông, tên Ái Dục, lên ngôi 1312, hiệu Hoàng Khánh, làm vua 2
năm.
- Năm 1314 đổi niên hiệu là Diễn Hựu, làm vua 7 năm.
12- Anh Tông, tên Thuyết Đúc Bát Thích, lên ngôi 1321, hiệu Chí
Trị, ở ngôi 3 n
13- Thái Định Đế, tên Dã Tôn Thiết Mộc Nhi, lên
ngôi 1324, hiệu Thái Định, 5 n
14- Thiên Thuận Đế, tên A Tốc Cát
Bát, lên ngôi 1328, hiệu Thiên Thuận, 1 n
15- Văn Đế, tên Đỗ
Thiếp Mục Nhĩ, lên ngôi 1329, hiệu Thiên Lịch, ở ngôi 2 năm.
16-
Minh Tông, tên Hòa Thế Lạt, lên ngôi 1332, hiệu Chí Thuận, ở ngôi 4 năm.
17- Ninh Tông, tên Ý Lân, lên ngôi 1333, hiệu Nguyên Thống, ở
ngôi 3 năm.
18- Thuận Đế, tên Ái Quan Thiết Mộc Nhĩ, lên ngôi
1335, hiệu Chí Nguyên, 6 n
- Năm 1341 đổi niên hiệu là Chí
Chính, làm vua 28 năm.
VƯƠNG TRIỀU MINH
1368-
1644 1- Thái Tổ Chu Nguyên Chương, 1368 –
1399, niên hiệu Hồng Vũ.
2- Huệ Đế Chu Sùng Văn, 1399 – 1403,
niên hiệu Kiến Văn.
3- Thầnh Tổ Chu Lệ, 1403 – 1425, niên
hiệu Vĩnh Lạc.
4- Nhân Tông Chu Cao Thức, 1425 – 1426, niên
hiệu Hồng Hy.
5- Tuyên Tông Chu Trạm Cơ, 1426 – 1436, niên
hiệu Tuyên Đức.
6- Anh Tông Chu Kỳ Trấn, 1436 – 1450, niên
hiệu Chính Thống.
7- Đại Tông Chu Kỳ Ngọc, 1450 – 1457, niên
hiệu Cảnh Thái.
8- Anh Tông Chu Kỳ Trấn, 1457 – 1465, niên
hiệu Thiên Thuận.
9- Hiến Tông Chu Kiến Khâm, 1465 – 1488,
niên hiệu Thành Hóa
10- Hiếu Tông Chu Hựu Đường, 1488 – 1506,
niên hiệu Hoằng Trị
11- Vũ Tông Chu Hậu Chiếu, 1506 –
1522.
12- Thế Tông Chu Hậu Tông, 1522 – 1567, niên hiệu Gia Tĩnh.
13- Mục Tông Chu Đãi Hậu, 1567 – 1573, niên hiệu Long Khánh.
14- Thần Tông Chu Bằng Nghị, 1573 – 1620, niên hiệu Vạn Lịch.
15- Quang Tông Chu Thường Lạc, 1620 – 1621, niên hiệu Thái Xương.
16- Hy Tông Chu Do Hiệu, 1621- 1628, niên hiệu Thích Khởi.
17-
Tư Tông Chu Do Kiểm, 1628 – 1644, niên hiệu Sùng Trinh.
VƯƠNG TRIỀU MÃN THANH
1616 – 1911 1-
Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, 1611 – 1627, niên hiệu Thiên Mệnh, 11 năm.
2- Thái Tông Hoàng Thái Cực, 1627 – 1644, niên hiệu Thiên Thông,
17 năm.
3- Thế Tổ Thuận Trị, 1644 – 1662, niên hiệu Thuận
Trị, 18 năm.
4- Thánh Tổ Huyền Diệp, 1662 – 1723, niên hiệu
Khang Hy, 61 năm.
5- Thế Tông Dận Chân, 1723 – 1736, niên
hiệu Ung Chính, 13 năm.
6- Cao Tông Hoằng Lịch, 1736 – 1796,
niên hiệu Càn Long, 60 năm.
7- Nhân Tông Thuần Dung, 1796 –
1821, niên hiệu Gia Kháng, 25 năm.
8- Tuyên Tông Mãn Minh,
1821 – 1851, niên hiệu Đạo Quang, 30 năm.
9- Văn Tông Nghị
Chủ, 1851 – 1862, niên hiệu Hàm Phong, 11 năm.
10-Mục Tông Tải
Đình, 1862 – 1875, niên hiệu Đồng Trị, 13 năm.
11- Đức Tông Tải
Điềm, 1875 – 1909, niên hiệu Quang Tự, 34 năm.
12- Phổ Nghi, 1909
– 1911, niên hiệu Tuyên Thống, 2 năm.