Bài mới nhất

Sửa Đóng
Thư mục: Cổ văn tập cẩm |
Quan trọng
Đăng ngày: 00:05 23-08-2009
KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ  CỦA HÀNG BỒ-TÁT
 
 Lời Phật dạy tám điều giác ngộ
Kẻ theo đường thoát khổ phải ghi
Ngày đêm trong cả sáu thì
Để tâm xét nghĩ tu trì chớ quên.   O
*
Điều thứ nhứt phải hằng xét biết
Cuộc trần ai đúng thiệt vô thường
Chợt còn, chợt mất như sương
Cũng như quả đất không phương giữ gìn.
Thân tứ đại chực ngày tan rã
Hình ấm duyên hư giả không ta
Sanh sanh, diệt diệt chi mà
Một bề thối nát ai là chủ nhân.
Tâm nguồn ác thao thao chảy mãi
Thân tội rừng chồng chất không cùng
Xét xem cội gốc am tường
Ngút mây sanh tử vạch đường thoát ly.  O
*
Điều thứ hai cần nên giác ngộ
Ham muốn nhiều thêm khổ cho thân
Ngập chìm sanh tử bao lần
Mưa sầu, gió thảm bể trần sóng xao.
Cuộc đớn đau vì sao nên nỗi
Những muốn ham cho tội hình hài
Bớt tham giữ phận là hay
Thân tâm vui sống chuỗi ngày tự do.  O
*
Điều thứ ba lại nên tỉnh biết
Túi tham lam bao xiết cho vừa
Càng ham càng muốn càng ưa
Càng thêm tội lỗi càng thưa căn lành.
Bậc Bồ-tát hiểu rành nỗi khổ
Biết đủ vừa điều độ tùy thân
Lòng vui giữ đạo thanh bần
Xây lầu trí tuệ cõi trần riêng cao.  O
*
Điều thứ tư hãy mau tỉnh biết
Biếng trễ tu mài miệt thú vui
Là nhơn sa ngã thối lui
Bụi trần muôn kiếp dập vùi tấm thân.
Người học đạo phải cần tinh tấn
Phá đam mê trừ diệt não phiền
Bốn ma quyết dẹp cho yên
Vượt thành ấm giới thoát miền trầm luân. O
*
Điều thứ năm cần mau tỉnh ngộ
Thói si mê là khổ luân hồi
Trông lên bến giác về thôi
Đốt lò hương nguyện trau dồi thân tâm.
Bồ-tát mãi lo tầm học rộng
Cứ gieo thêm hột giống Bồ-đề
Biện tài khéo giác quần mê
Đến thành Bát-nhã dựa kề pháp vương.  O
*
Điều thứ sáu nhớ câu giác ngộ
Nghèo khổ nhiều đau khổ càng nhiều
Oán thù vô cớ buộc chiêu
Dây oan thắt chặt lắm điều lụy thân.
Hàng Bồ-tát luôn hành bố thí
Bình đẳng tâm không nghĩ xa gần
Càng yêu những kẻ ác nhân
Quên điều tội cũ, thương phần khổ đau.
Điều thứ bảy dù thân ở tục
Lòng thường lo ngũ dục lánh xa
Giữ gìn trong ngọc trắng ngà / giới luật cao xa
Ca-sa bình bát lòng ta nhớ hoài.
Chí xuất gia tháng ngày giữ dạ
Phạm hạnh lành đức cả cao xa
Sao cho trong sạch lòng ta
Từ bi cứu thoát hằng hà chúng sanh.  O
*
Điều thứ tám tâm thường giác ngộ
Lửa tử sanh cháy đỏ phừng phừng
Thiêu người đau khổ vô chừng
Phát tâm rộng lớn bao dung muôn loài.
Nguyện cứu thế thuyền từ bủa khắp
Thay chúng sanh chịu nhọc trăm điều
Sao cho nhân loại tiêu diêu
Lên bờ giải thoát sớm chiều an vui!  O
*
Xin nhớ kỹ tám điều này rõ
 môn tu thù thắng thượng thừa
Chư phật, Bồ-tát đều ưa
Thực hành chánh đạo, say sưa pháp mầu.
Bằng trí tuệ ra vào ba cõi
Tám điều này bửu bối trong tay
Làm cho hết thảy trong ngoài
Luân hồi dứt bỏ thỏng tay vào đời.  O 
 
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần, xá 3 xá) OOO

Kinh Tám Điều Giác Ngộ

Là đệ tử Bụt thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm, đọc tụng và quán niệm về tám điều mà các bậc đại nhân đã giác ngộ.

Điều thứ nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, chế độ chính trị nào cũng dễ sụp đổ, những cấu tạo của bốn đại đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người do tập hợp của năm ấm mà có, lại không có thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không có chủ quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là một nguồn suối phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được cõi sinh tử. (C)

Điều thứ hai là giác ngộ rằng càng lắm ham muốn thì lại càng nhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử đều do ham muốn mà có. Trong khi đó người ít ham muốn thì không bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâm mình được thư thái. (C)

Điều thứ ba là giác ngộ rằng vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh lợi không bao giờ biết chán cho nên tội lỗi ta cũng theo đó mà càng ngày càng lớn. Các bậc Bồ Tát thì khác hẳn: họ luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống với đời đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của mình là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ. (C)

Điều thứ tư là giác ngộ rằng thói quen lười biếng đưa đến chỗ đọa lạc; vì vậy con người phải chuyên cần hành đạo, phá giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma và ra khỏi ngục tù của năm ấm và ba giới. (C)

Điều thứ năm là giác ngộ rằng chính vì vô minh nên mới bị giam hãm trong cõi sinh tử. Các vị Bồ Tát thường xuyên nhớ rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt được biện tài để giáo hóa cho mọi người, để cho tất cả đạt tới niềm vui lớn. (C)

Điều thứ sáu là giác ngộ rằng vì nghèo khổ cho nên người ta sinh ra có nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm những nhân xấu. Các vị Bồ Tát biết thế cho nên chuyên tu phép bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua những điều ác mà người khác đã làm đối với mình và không đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác. (C)

Điều thứ bảy là giác ngộ rằng năm thứ dục vọng gây nên tội lỗi và hoạn nạn. Người xuất gia tuy sống trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục, thường quán niệm rằng tài sản của mình chỉ là ba chiếc áo ca sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là pháp khí, rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch để hành đạo, giữ phạm hạnh cho thanh cao và đem lòng từ bi để tiếp xử với tất cả mọi người. (C)

Điều thứ tám là giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bừng cho nên mọi loài đang chịu biết bao niềm thống khổ. Biết vậy cho nên ta phải phát tâm Đại Thừa, nguyện cứu tế cho tất cả mọi người, nguyện thay thế cho mọi người mà chịu khổ đau vô lượng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đạt tới niềm vui cứu cánh. (C)

Tám điều nói trên là những điều giác ngộ của các bậc đại nhân, Bụt và Bồ Tát; những vị này đã tinh tiến hành đạo, tu tập từ bi và trí tuệ, đã cưỡi thuyền pháp thân đến được bến Niết Bàn. Khi trở về lại cõi sinh tử độ thoát cho chúng sinh, các vị đều dùng tám điều giác ngộ ấy để khai mở và chỉ đường cho mọi người, khiến cho chúng sanh ai cũng giác ngộ được cái khổ của sinh tử, lìa bỏ được ngũ dục và hướng tâm vào con đường thánh.

Nếu đệ tử Bụt mà thường đọc tụng tám điều này thì mỗi khi quán niệm diệt được vô lượng tội, tiến tới giác ngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với sinh tử, thường trú trong sự an lạc. (CCC)


(Bát Đại Nhân Giác Kinh,
779 tạng Kinh Đại Chánh)