Không chỉ bán hàng, chúng tôi còn gửi đến bạn sự YÊN TÂM và THƯ GIÃN!

Bài mới nhất

Sửa Đóng

Nghệ thuật th­ưởng trà ở Việt Nam chia làm ba cung bậc: độc ẩm, đối ẩm và quần ẩm. Dù ở cung bậc nào, khi ngồi với nhau bên chén trà nóng, những người xa lạ dường như trở nên cởi mở và thân thiết hơn. Đó chính là nét đẹp bình dị, cộng đồng của văn hóa trà Việt Nam

Truyền thống uống chè của Việt Nam được thể hiện ngay trong cách pha, thưởng trà. Theo Tiến sĩ Nguyễn Kim Phong, Chủ tịch Hiệp hội chè Việt Nam , nghệ thuật th­ưởng trà chia làm ba cung bậc: độc ẩm, đối ẩm và quần ẩm. 

Trà độc ẩm, theo người xưa mang nặng suy tư, khác với không khí thân tình, gần gũi của đối ẩm, hay “quần anh giao đãi, sum vầy” (cuộc giao đãi không giới hạn số người) của Quần ẩm. Theo cách uống trà này, dân gian vẫn còn lưu giữ cách uống trà như: “Rượu ngâm nga, trà liền tay" (uống trà khi còn nóng), "Bán dạ tam bôi tửu. Bình minh nhất trản trà" (uống trà vào buổi sáng)...

Song dù uống dưới hình thức nào,  gia chủ người Việt vẫn trân trọng cách dâng mời. Dù  vui, hay buồn, khách không thể từ chối một  tách trà nóng khi chủ nhà  mời bằng hai tay.

Có nhiều cách uống trà. Người nhấp từng ngụm nhỏ, thưởng thức hương thơm, vị ngọt của trà và cảm nhận hơi ấm lan tỏa khi mùa đông lạnh giá. Số khác, uống để đáp lại lòng mến khách của gia chủ, bắt đầu cho cuộc tâm sự, về nhân tình thế thái. Lại có người uống trà  để cảm nhận trong trà có cả hương vị của trời đất, cỏ cây.

Thường, dụng cụ cần để pha gồm­: ấm, thuyền trà (bát ngâm ấm cho nóng), bồn, lò than hoa, thìa xúc. Tùy theo từng cung bậc và thời tiết mà người ta chọn đồ pha trà cho phù hợp. Loại trà mộc chuyên dùng ấm đất, chè hương dùng ấm sành. Tiết trời nóng chọn chén miệng loa, để trà tỏa nhiệt nhanh, khi lạnh chọn chén miệng khum giữ nhiệt.

Người xưa thường pha trà bằng thứ nư­ớc mư­a, giếng khơi. Ai cầu kỳ chọn nư­ớc đọng trên lá sen vào buổi sớm. Sau hơn 1 nghìn năm uống trà, dân gian đã đúc kết kinh nghiệm để có ấm trà ngon: “Nhất n­ước, nhì trà, tam pha, tứ ấm”.

Nay, để nhanh và tiện ngư­ời ta thường lấy n­ước máy để thanh lọc, sau 30 giờ mới sử dụng. Nghệ nhân Kiều Lư, Thanh Xuân Bắc, Hà Nội cho biết: “Làm thế để loại trừ hàm lượng kim loại  ion, cấn, cặn đánh lạc h­ương chè”.

Không quá cầu kỳ như trà đạo Nhật Bản, hay Trung Hoa, nghệ thuật thưởng thức trà của người Việt giản dị , đa sắc hơn. Trà ấy có thể là một bát chè xanh hãm lá tươi, hay nước lá vối, chè dây, rồi những loại chè đen, xanh, vàng, chè ướp hương của các loài hoa sen, ngâu, nhài, tùng, cúc… đã qua quy trình chế biến kỹ thuật, trở thành sản phẩm tinh tế, kết đọng.

Thiên nhiên, đất trời, lòng người hòa quyện ,và hương chè lan tỏa lắng sâu, thì có lẽ cũng không quá khi nhà văn Tuấn Vinh đã viết: “Ngọt thơm một ngụm, truân chuyên muôn phần”,  hoặc “Nhâm nhi lưng chén người mời/ Mà sao như đã cả đời có nhau”.

"Ngồi với nhau bên chén trà vàng sóng sánh, những người xa lạ dường như trở nên thân thiết, tâm giao. Đó chính là nét đẹp bình dị, cộng đồng của văn hóa trà Việt Nam ”, Tiến sĩ Nguyễn Kim Phong khẳng định.