Không chỉ bán hàng, chúng tôi còn gửi đến bạn sự YÊN TÂM và THƯ GIÃN!

Bài mới nhất

Sửa Đóng
Thư mục: Tổng hợp |
Đăng ngày: 16:42 12-11-2008

1. Lịch sử hình thành:

Sau khi phát hiện ra Đà Lat vào năm 1893, toàn quyền Pháp Paul Doumer đã cử nhiều đoàn thám hiểmra các vùng phụ cận, đặc biệt là theo hướng NamĐà Lạt về Sài Gòn. Đến năm 1899 Ernest Culiri đã đặt chân đến B’lao (tên cũ của Bảo Lộc) cùng với phái đoàn nghiên cứu tiềm năng vùng đất này. B’lao lúc bấy giờ là địa bàn cư trú của người Mạ (du canh du cư). Người Pháp khám phá ra đây là vùng đất màu mỡ, khí hậu ôn hoà, mát mẻ quanh năm, đặt tên là Đồng Nai Thượng (Haut Dongnai), và đã đầu tư thành lập các đồn điền, chủ yếu là trồng trà, với những công nhân đầu tiên là người Mạ.

Cây trà đầu tiên xuất hiện ở Cầu Đất - Đà Lat vào năm 1927, sau đó xuống Di Linh và nhanh chóng phát triển mạnh ở vùng Bảo Lộc. Ban đầu cây trà chỉ được trồng trong các đồn điền, sau đó theo sự phát triển của dân cư đã lan rộng toàn vùng rồi trở nên nổi tiếng. Nếu như ở phía Bắc có trà Thái Nguyên nổi tiếng về vị chát đặc trưng, thì trong Nam có trà Bảo Lộc với vị chát dịu, hậu ngọt.

Riêng trà oolong có nguồn gốc từ vùng núi Long Đỉnh thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, cách đây khoảng 400 năm, dưới triều đại nhà Minh, sau đó du nhập và phát triển cực thịnh ở Đài Loan cách đây hơn 150 năm. Trà oolong du nhập vào Việt Namnăm 1990 do một số công ty Đài Loan đem sang. Công ty Tâm Châu đưa trà oolong vào trồng trọt và chế biến vào năm 2001.

2. Trữ lượng trà Lâm Đồng:

Tổng diện tích (số liệu năm 2002): 23.940 ha, phân bổ như sau:

Bảo Lộc : 7,800 ha (trong số này có : 667 ha Kim Shun + Thúy Ngọc)

Di Linh : 2,000 ha.

Lâm Hà: 800 ha.

Cầu Đất: 270 ha (30 ha: Oolong + Kim Shun + Thúy Ngọc).

Bảo Lâm:13,000 ha.

Đạ Huoai & Đạ Tẻ: 70 ha.

Cây/giống:

Giống chè hạt trung du và shan chiếm : 80%. Năng suất bình quân : 6.7 tấn/ha. Giống mới : TB 14, LĐ 97 và giống trà Kim Shun, Thúy Ngọc, Oolong của Đài Loan.

3. Điều kiện thời tiết - khí hậu, thổ nhưỡng ảnh hưởng đến chất lượng của cây trà.

a. Khí hậu:

Tây Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, bị ảnh hưởng lớn bởi dãy Trường Sơn chắn gió. Một năm có hai mùa, mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa trong mùa khô (từ tháng 11 - tháng 3) chỉ chiếm 7-8% tổn glượng mưa cả năm, độ ẩm không khí thấp (70%). Mùa mưa (tháng 04 – tháng 11) chiếm trên 90% tổng lượng mưa của cả năm. Lượng mưa trung bình ở Tây Nguyên thuộc loại cao so với cả nước, độ ẩm không khí rất cao (85%).

Địa hình ở Tây Nguyên rất đặc thù nên nhiệt độ cũng thay đổi theo độ cao. Biên độ nhiệt giữa các mùa hàng năm không đáng kể (40C). Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm rất cao, trung bình 100C, vào mùa khô lên đến 15-160C.

b. Thổ nhưỡng:

Đất ở Tây Nguyên là loại đất Feralic phát triển trên đá Bazan, gốm các loại: đất phù sasông suối, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất vàng đỏ, đất mùn. Trong đó đất đỏ vàng chiếm 66% tổng diện tích đất tự nhiên toàn vùng. Đất đỏ vàng là loại đất rất thích hợp cho việc trồng trà.

Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng như trên, vùng Tây Nguyên, đặc biệt là tỉnh Lâm Đồng, vùng Bảo Lộc, Bảo Lâm là nơi lí tưởng cho cây trà phát triển và có chất lượng tuyệt hảo./.