<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[trancongbinh BLOG]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7]]></link>
        <description><![CDATA[trancongbinh BLOG]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2009/10/24 02:15:56</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[Tai sao phai song ?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=460]]></link>
            <description><![CDATA[TAI SAO PHAI SONG ? &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khi BS&nbsp; cho hay men gan 190 ,nguoi con gai co cai ten cuc dep&nbsp; YEN HONG say xam ,khong ngo can binh khung khiep den voi em cung nhu biet bao nguoi con dan nuoc Viet khac ,UNG THU cai ten cua Than Chet ,giet biet bao nguoi ,sau nhieu ngay oan oai trong kho dau ,tuyet vong ,em thuong tu hoi :&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tai sao phai song ?Va song de lam gi ?&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Em quyet dinh choi tu kiep song lam nguoi ,chon cai chet em- ai ,khong&nbsp; ton kem no- nan,nhung nho toi me gia khong nguoi cham soc, em khoc nhieu lam , hom ay em khoc duoi chan Duc Phat ba Quan The Am vua cau nguyen mot mai- man ,mot co- hoi mong manh ,mot than duoc tri ung thu&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cuoi cung em gap toi ,nguoi con Phat lang thang nhu nguoi vo san&nbsp; trong dat nuoc CS qua ngheo,Theo quan -tinh toi dan em qua nha gioi thieu gap mot binh nhan Vien Ung buou che ,cho hai tren trao doi ,pha tan noi tuyet -vong trong long em,roi toi di&nbsp; hot THUOC cho em.,sau hai muoi ngay em tro lai trong niem vui khac thuong, BS bao em&nbsp; men gan.tro lai binh thuong&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Toi lang-le hoi Em : SONG DE LAM GI ? TAI SAO PHAI SONG ?&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Em cuoi bao Em con ME gia phai san soc,du biet rang khong bao lau roi ME phai chet vi binh tat va phai bo em bo vo o chon hong tran nay&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Toi hoi Sau cai chet la cai gi ? ta ve dau... ?...&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Em mo- mang nhin may chieu troi benh- bong tren bien xa, tham hoi :&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp; Sau cai chet ,minh se ve dau ?...v ...e ....dau la que-huong ? Dau la diem dung cua chung ta ?...&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ]]></description>
            <pubDate>2009/10/24 00:55:50</pubDate>
            <guid><![CDATA[Tai sao phai song ?:460]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Ai còn buồn khi lá rớt rơi trong một cuối đông...?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=293]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;  &nbsp; &nbsp;file:///D:/Uot-mi-Khanh-Ly.IWZBADCU.html&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ai còn nhìn mưa mãi rớt bên sông thêm lạnh lùng ?&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
Ai còn buồn khi lá rớt rơi trong một cuối đông&nbsp; ?Vì sao ?&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khi qui luật VÔ THƯỜNG chi phối mọi hiện tượng thiên nhiên và cả diễn biến tâm lý -tâm linh .Biết nhưng vì sao còn buồn ?&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Phải chăng chính ý thức là cội nguồn của buồn vui , phiền não thương ghét , là đứa con đi lạc , hứơng ngoại tìm cầu ,bỏ cha chối Chúa chạy mê theo cơm áo gạo tiền nên đánh mất lương tri -bản thể ,làm khổ đau phận người ?&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp; Biết nhưng làm sao chiến thắng ,làm sao dừng lại và trở về cội nguồn ban sơ ?&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; GÕ THÌ CỬA SẼ MỞ&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; HÒAI NGHI&nbsp; &amp; SUY TƯ&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; SẼ PHÁT MINH &amp; ĐẠI NGỘ&nbsp;Tiếng hát Khánh Ly vang lên từ Thánh đường TCS , làm tan biến hà sa lượn sóng giữa biển khơi , Người ấy cô đơn và lặng lẻ như chiếc bóng ,ngốp từng ngụm cafe&nbsp; và biến dần theo sóng âm của người ca sĩ bất tử KHANH LY :Khi cô đơn -trống vắng l ên đến tột cùng thì&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ai còn nhìn mưa mãi rớt bên sông thêm lạnh lùng ?
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;
Ai còn buồn khi lá rớt rơi trong một cuối đông&nbsp; ?Phải chăng trong âm nhạc LOÀI NGƯỜI chỉ có TCS và tiếng hát gào thét của Khánh Ly mới đủ lực để đánh thức chúng ta lìa khỏi&nbsp; CƠN MÊ này ?ỨƠT MINgoài hiên mưa rơi rơi.Lòng ai như chơi vơiNgười ơi nước mắt hoen mi rồiĐừng khóc trong đêm mưa.Đừng than trong câu caBuồn ơi trong đêm thâu. Ôm ấp giùm ta nhéNgười em thương mưa ngâu hay khóc sầu nhân thếTình ta đêm về có ấm từng cơn mơ em chưa.Mưa lạnh lùng rơi rớt giữa đêm vềNghe não nềMưa kéo dài lê thê những đêm khuyaLạnh ướt miAi còn nhìn mưa mãi rớt bên sông thêm lạnh lùngAi còn buồn khi lá rớt rơi trong một cuối đôngNgoài hiên mưa rơi rơi. Buồn dâng lên đôi môiBuồn đau hoen ướt mi ai rồiBuồn đi trong đêm khuya. Buồn rơi theo đêm mưaCòn mưa trong đêm nay, lòng em buồn biết mấyTrời sao chưa thôi mưa để mắt người em ấyTừ đây thôi mờ, nước mắt buồn mi em ngây thơ.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ]]></description>
            <pubDate>2009/07/02 16:22:02</pubDate>
            <guid><![CDATA[Ai còn buồn khi lá rớt rơi trong một cuối đông...?:293]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[SÓNG TÌNH ....EM  VỀ  ĐÂU ...?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=222]]></link>
            <description><![CDATA[http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Mot-Coi-Di-Ve-Khanh-Ly.IWZDFIAD.html
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sóng tình
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hai từ nghe đơn giản nhưng thực tế nó có một sức mạnh kinh hồn cuốn hút những tâm hồn yếu đuối và phủ chụp như&nbsp; những luồng sóng dữ gào thét giữa đại dương .
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Phải chăng tình yêu&nbsp;là sóng dử&nbsp;?
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Dòng sông tâm thức như sóng trào ,cuồn cuộn cuốn hút 
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sống để làm gì ? 
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mình là ai giữa cõi đời này ?
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nơi Thánh đường TCS&nbsp;&nbsp; ---&quot; CAFE HOÀI NỊÊM&quot;
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh ấy ngồi lặng lẻ - uống từng ngụm café quên đi thân phân -quên đi kiếp người&nbsp; mộng mị
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tiếng hát KHÁNH LY ngân cao trãi dài trên biển rộng bình yên :
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ......KHÔNG BIẾT NƠI NAO LÀ CHỐN QUÊ NHÀ ?.......
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mọi ý niệm về tình yêu biến mất ,anh về đâu ?
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Yêu là gì khi người yêu ,người được yêu biến mất giữa cõi đời này ?
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ]]></description>
            <pubDate>2009/05/22 23:44:31</pubDate>
            <guid><![CDATA[SÓNG TÌNH ....EM  VỀ  ĐÂU ...?:222]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=200]]></link>
            <description><![CDATA[
&nbsp;Lại một người bạn sắp ra đi vì căn bịnh hiểm ác :ung thư ,bạn&nbsp; TH và gia đình tê tái khi nghe BS báo ung thư thời kỳ chót ,họ hỏang lọan vì đâu ? Hết đới lo toan , nhà nghèo cố gắng học hành ,đổ đạt rồi miệt mài kinh doanh ,cả đời thành công ,vinh vang xe pháo ,nhà lầu xe hơi , ...rồi sẽ được những &nbsp;gì ,khi về bên kia thế giới ,...khi thân xác không còn nữa?
Mình giúp bạn được gì ,khi họ quá dốt nát về văn hoá y học ông cha ,làm sao tin được sự huyền dịêu của khí công thiền , của thảo dươc phương Đông , làm sao mà ngộ nổi câu nói tế nhị của người xưa THÔNG BẤT THỐNG , THỐNG BẤT THÔNG
&nbsp;&nbsp; 
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Càng về khuya tiếng hát Ngọc Lan&nbsp; càng thắm thía kiếp nhân sinh .Chẳng lẻ kiếp ngừơ i chỉ vỏn vẹn có bao nhiêu sao ?
Hãy nói về cuộc đời Khi tôi không còn nữa Sẽ lấy được những gì Về bên kia thế giới Ngoài trống vắng mà thôi Thụy ơi, và tình ơi! Như loài chim bói cá Trên cọc nhọn trăm năm Tôi tìm đời đánh mất Trong vũng nước cuộc đời Thụy ơi, và tình ơi! Đừng bao giờ em hỏi Vì sao ta yêu nhau Vì sao môi anh nóng Vì sao tay anh lạnh Vì sao thân anh rung Vì sao chân không vững Vì sao, và vì sao! Hãy nói về cuộc đời Tình yêu như lưỡi dao Tình yêu như mũi nhọn Êm ái và ngọt ngào Cắt đứt cuộc tình đầu Thụy bây giờ về đâu 
http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Khuc-Thuy-Du-Tuan-Ngoc.IW6IIBFO.html]]></description>
            <pubDate>2009/04/18 02:01:41</pubDate>
            <guid><![CDATA[Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ?:200]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Tương lai của khoa học tâm linh VN :các nhà ngoại cảm về đâu ?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=199]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Gân đây ở VN ,nhiều nhà ngoai cảm xuất hiện , họ rất biện chứng ,như Phan thị Bích Hằng có thể nhìn thấy xuyên lòng đất ,thấy cả thế giới cõi Âm ,ma quỉ .Kiểm chứng thì phù hợp với thực tế ,rất&nbsp; thuyết phục ,nhưng những con người bẩm sinh ,thiên phú này ,độ chính xác có bền bỉ với thời gian&nbsp; , duy trì được khả năng ngoại cảm bao lâu ? Và bao lâu họ bị thua Ma ngũ ấm như trong kinh Lăng Nghiêm nói và sẽ bị hoang tưởng ,mê tín dị đoan , vì thiên ma nhập ?
&nbsp;&nbsp;&nbsp; Rất tội nghiệp cho khoa học tâm linh VN và thế giới ?
&nbsp;&nbsp; Riêng mình chỉ thấm thía với lời nói của KHG&nbsp; A, Einstein : Khoa học mà không qua Phật giáo ,dễ rơi vào mê tín dị đoan]]></description>
            <pubDate>2009/04/13 00:48:38</pubDate>
            <guid><![CDATA[Tương lai của khoa học tâm linh VN :các nhà ngoại cảm về đâu ?:199]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Tôi là Ai ? Truy tìm tự ngã - Tuệ Sỹ]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=198]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
Truy tìm tự ngã - Tuệ Sỹ

Thư mục: TT Thich Tue Sy | 
Đăng ngày: 13:32 07-04-2009 
Neu ai co thac mac kinh Kim Cang noi rieng va kinh dien Dai thua noi chung co phai la do Phat thuyet hay ko? thi hay doc bai viet duoi day roi` suy ngam~ thu~. 
-----------------------------------------------------------------Chúng ta hãy khởi đầu đọc kinh Kim-cang như một tác phẩm văn học. Giá trị văn học là sự biểu hiện thẩm mỹ của nội dung tư tưởng. Kinh Kim-cang được soạn tập bằng tiếng Phạn tiêu chuẩn, nhưng rất tiếc chúng ta không thông thạo thứ cổ ngữ này, nên cũng chắc chắn là không thể hiểu hết những tư tưởng ẩn áo của kinh hàm chứa trong các từ ngữ và các câu văn. Như người không biết chữ Hán mà đọc thơ Đường qua một bản dịch thì không thể thưởng thức hết giá trị của bài thơ. Lời thơ là lời của phàm phu mà còn vậy, huống chi lời kinh là lời của Phật. Tuy nhiên, không hiểu chữ Hán thì đọc thơ Đường qua các bản dịch cũng được. Nhưng cũng nên nói thêm là thế giới xưa nay chưa có Huệ Năng thứ hai. 
Kinh điển Nguyên thủy và Đại thừa được kết tập không giống nhau. Kinh điển Nguyên thủy được kết tập theo dạng truyền khẩu; có những nét đẹp của nền văn học truyền khẩu. Kinh điển Đại thừa phần lớn được ký tải bằng văn tự, có những nét đẹp riêng của văn tự.
Văn học Đại thừa xuất hiện vào giai đoạn mà văn học Ấn Độ nói chung phát triển đến một hình thức nhất định, với&nbsp; văn chương thi ca, các thể loại về kịch, truyện, vốn rất ít được phổ biến trong thời Phật. Như kinh Pháp hoa chẳng hạn, mở đầu bằng nhân duyên Phật phóng quang, sau đó ngài Di-lặc hỏi, Văn-thù trả lời. Đó là phần mở đầu giới thiệu, như thường được thấy trong các thể loại kịch cổ. 
Trong kinh Kim-cang, chúng ta sẽ thấy không giống như kinh điển Đại Thừa khác, mà lại gần với Nguyên thủy ở chỗ Phật ôm bình bát khất thực xong rồi trở về Tinh xá. Sau bữa ăn, các vị tỳ-kheo thường tập hợp tại giảng đường để thảo luận giáo lý. Bấy giờ, trong đại chúng có sự hiện diện của Tu-bồ-đề; và ngài bắt đầu thưa hỏi. Ở đây, không mở đầu bằng sự phóng quang, hay những thần thông biến hóa khác. Nhìn từ ý nghĩa văn học, người ta giải thích rằng, những vấn đề được nêu trong kinh Kim-cang là những sự việc trong đời sống, là những cái ăn, cái uống, nghỉ ngơi, không phải trong thế giới huyền bí kỳ ảo như là của Hoa nghiêm, Pháp hoa.
Còn một nghĩa nữa mà chúng ta thấy có quan hệ đến lịch sử văn học. 
Trong các kinh điển Nguyên thủy, các vị tỳ-kheo buổi trưa sau khi thọ thực xong, nếu không tụ tập tại giảng đường, thì thường vắt tọa cụ trên vai, đi vào rừng, tìm đến một gốc cây mà ngồi nghỉ trưa. Có khi đức Phật ngồi ở một gốc cây, và các ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, cũng ngồi ở một gốc cây gần đó. Cho đến xế chiều, các tỳ-kheo ngồi gần đó liền đi tới ngài Xá-lợi-phất, tới đức Phật để đảnh lễ, hoặc thưa hỏi giáo lý. 
Trong kinh Kim-cang cũng thế; các tỳ-kheo tụ tập quanh đức Phật để chờ nghe Phật giảng PhápTrong truyền thống Ấn Độ, các buổi giảng hay các lớp học của những người Bà-la-môn thường diễn ra giữa khu rừng, giữa cảnh thiên nhiên. Một lớp các đạo sĩ sống trong rừng, giảng giải ý nghĩa cũng như nghi thức Vệ-đà; tư tưởng triết học tôn giáo của họ được soạn tập thành bộ Sâm lâm thư. Đó là bộ Thánh điển về sau phát triển thành các Upanishad, tức Áo nghĩa thư.
Chúng ta nên hiểu tổng quát về Upanishad hay Áo nghĩa thư vì nó liên hệ tới kinh Kim-cang rất nhiều, là điểm để chúng ta có thể tin là kinh Kim-cang thật sự do Phật nói hay không. 
Một số vị nhận định kinh điển Bát-nhã từ hình thức kết cấu văn học đến nội dung tư tưởng, so sánh với các tập Upanishad, rồi kết luận Kim-cang cũng như toàn hệ Bát-nhã chỉ là một bộ phận của Upanishad, hay phỏng theo Upanishad; nghĩa là, không phải Phật thuyết.
Upanishad là giai đoạn phát triển cao của tư duy Ấn Độ, bắt đầu từ Vệ-đà. Có tất cả bốn bộ Vệ-đà, nhưng trong thời Phật chỉ mới xuất hiện có ba, mà kinh Phật gọi là Tam minh. Bà-la-môn tam minh là người thông thạo ba bộ Vệ-đà. “Minh” là từ Hán dịch của Vệ-đà. Thời Phật, chưa xuất hiện Upanishad.
Trên kia, chúng ta đã nói đến Sâm lâm thư. Đây là từ dịch tiếng Phạn Aranyaka. Ở nơi khác, chúng ta có nói các tỳ-kheo a-lan-nhã sống trong rừng thời đức Phật. A-lan-nhã là từ phiên âm của aranyaka. 
Luật tạng có kể, một thời, đức Phật nhập thất, không một tỳ-kheo nào được phép đến gần hương thất của Phật, trừ vị thị giả. Bấy giờ có một nhóm ba chục vị là những tỳ kheo a-lan-nhã đến thăm Phật. Vì Phật đang nhập thất, nên các vị tỳ-kheo tại trú xứ này ngăn cản. Nhưng các tỳ-kheo a-lan-nhã nói, họ được Phật cho phép đến gặp Ngài bất cứ lúc nào. Vì các vị này chỉ sống trong rừng nên ít có cơ hội gặp Phật. Rồi họ vẫn tới gõ cửa hương thất. Thật đáng kinh ngạc, từ trong thất đức Phật liền mở cửa.
Đức Phật truyền dạy những pháp gì cho các tỳ-kheo A-lan-nhã? Không có kinh điển nào tường thuật. Đức Phật đã có biệt thị đối với họ, tất cũng có giáo pháp biệt truyền cho họ. Pháp ấy là pháp gì? Kinh điển Nguyên thủy không đề cập.
Ngài Tu-bồ-đề cũng là một tỳ-kheo a-lan-nhã, như được xác định chính trong kinh Kim-cang. Truyền thống Pāli cũng xác nhận điều này.
Các tỳ-kheo a-lan-nhã thường tu tập Không tam muội, như được Phật nói trong kinh Đại không, Trung A-hàm. Sau thời Phật, các Trưởng lão chủ trì cuộc kết tập thứ hai cũng phần lớn tu tập Không tam muội, như được ghi chép trong Luật tạng. Các vị này cũng sống trong rừng. Không tam muội là thiền định y trên hành tướng vô ngã. Không và vô ngã là giáo nghĩa căn bản trong kinh Kim-cang. 
Kinh nói: Hết thảy pháp hữu vi đều là như chiêm bao, như huyễn thuật, v.v...; đó là nói về giáo nghĩa Tánh không và Vô ngã bằng kinh nghiệm trực giác hay thực chứng. Giáo nghĩa này về sau được các Bà-la-môn học Vệ-đà thay thế bằng học thuyết như huyễn tức māyā và hữu ngã tức ātman. Những điểm tư tưởng này là tinh yếu của các tập Upanishad. Nói một cách đại cương, thế giới này chỉ là huyễn hóa, vậy ta là ai, hay ta là cái gì, trong tấn tuồng huyễn hóa này? 
Như vậy có thể thấy ảnh hưởng của các tỳ-kheo a-lan-nhã đối với các đạo sĩ soạn tập Sâm lâm thư để rồi phát triển thành tư tưởng triết học Upanishad. Thế nhưng, về sau do sự phục hồi địa vị của giai cấp Bà-la-môn, những người Ấn Độ giáo thâu thái rất nhiều giáo nghĩa của Phật trong đó có giáo nghĩa Tánh không diễn thành như huyễn, rồi cho rằng tư tưởng Không trong các bộ Bát-nhã là do ảnh hưởng của Upanishad. Cũng có nhiều Phật tử tin điều này nên cho rằng kinh điển Bát-nhã cũng như của cả Đại thừa chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo, thay vì ngược lại.
Vậy, Upanishad là phản ứng của các Bà-la-môn, họ vay mượn giáo nghĩa Tánh không tức Vô ngã trong các kinh Bát-nhã. Vì phủ nhận sự tồn tại của tự ngã thường hằng là phủ nhận luôn cả sự tồn tại của Brahman, là Thượng đế Sáng tạo.&nbsp;
Ngay cả trong Phật giáo, sau khi Phật nhập niết-bàn, trong nội bộ Phật giáo đã xuất hiện một số bộ phái chấp nhận có tự ngã hay ātman, như Độc tử bộ hay Hóa địa bộ. Những bộ phái này lý luận rằng, nếu không tồn tại một tự ngã, không có một cái tôi thường hằng bất biến, vậy ai hay cái gì luân hồi, lang thang chìm nổi trong biển sinh tử? Cũng nên biết rằng tự ngã hay ātman trong tư tưởng tôn giáo Ấn Độ là cái mà trong các tôn giáo, Đông cũng như Tây, hiểu là linh hồn. Cho nên, có linh hồn mới có đầu thai, mới có việc sinh lên Thiên đường hay đọa địa ngục như là hậu quả của hành vi tội hay phước.&nbsp;
Giáo nghĩa Phật dạy, có tác nghiệp thiện ác, có quả báo lành dữ, nhưng không có người hành động, không có người thọ quả. Đây là điều rất khó hiểu. Chúng ta nên đi từ cái dễ, rồi đến cái khó. Cái dễ hiểu là tất cả đều có một cái tôi: tôi đi, tôi đứng, tôi ăn, tôi ngủ, v.v... Nhưng khi người ta ngủ, mà ngủ như không chiêm bao, thì hình như cái tôi này biến mất. Hoặc như người bị tai nạn mà mất trí nhớ, không còn nhớ ra mình là ai. Nếu được chữa trị, trí nhớ phục hồi, bấy giờ vẫn là cái tôi như khi trước. Rồi khi người ta chết, cái tôi ấy còn hay không? Thừa nhận còn, tức là thừa nhận có linh hồn tồn tại bất biến, khi thức cũng như khi ngủ, lúc còn sống cũng như sau khi chết. 
Đấy là kinh nghiệm thường nhật về một cái tôi. Kinh nghiệm ấy là sự tích lũy trong một đời người những hoài niệm, những đau khổ, hạnh phúc, những danh vọng, khốn cùng. Từ những kinh nghiệm tích lũy ấy mà hình thành ý tưởng về một cái tôi thường hằng. Trong trình độ thấp nhất, cái tôi ấy được đồng hóa với thân xác và những sở hữu cho thân xác. Vị đại hoàng đế có cả một đế quốc: ta và đế quốc của ta. Nhưng một khi thân xác này tan rã, mà chắc chắn là như vậy, thì ta là ai, mà đế quốc này là gì? Những hoàng đế ấy, như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Thành Cát Tư Hãn, tin vào một cái ta và thân xác ta có thể tồn tại lâu dài, vì không muốn cái danh vọng, quyền lực đang có mất đi; họ đi tìm đạo sỹ, cầu thuốc trường sinh. Những người đi tìm trường sinh ấy, bây giờ ở đâu?&nbsp;
Lại còn những người khác, giàu sang có cả một cơ đồ, nhưng khi thị trường chứng khoán sụp đổ, nhảy lầu tự tử. Ta và tài sản của ta; cái này mất thì cái kia cũng không còn lý do tồn tại. Thật sự thì ở đây ta là ai, trong cái cơ đồ phú quý ấy?
Với một hạng người khác, ta là danh, đã sinh ra trong trời đất, thì phải có danh gì với núi sông. Một mai vật đổi sao dời, để bảo tồn danh tiết, họ đâm cổ tự sát. Vậy, ta là gì trong cái danh này?
Với những tín đồ tôn giáo tin vào một linh hồn bất tử, một cái ta tồn tại trên thiên đường, hưởng những lạc thú mà Thượng đế ban cho vì đã biết phục tùng Thiên ý. Vì thế họ sẵn sàng giết đồng loại để chinh phục nước Chúa dưới trần gian.
Ta là ai, ta là cái gì, để vì phục vụ nó, bảo tồn nó, mà tự gây khổ cho mình, và cũng gây khổ cho người? Có chăng một cái ta thường hằng, siêu việt thân xác này, và tâm trí này, để cho mọi hành vi trong một đời người, dù thiện hay ác, ngu hay trí, chỉ nhằm mục đích là phục vụ nó, vì ích lợi của nó, vì hạnh phúc của nó, vì danh dự của nó, vì quyền lực của nó?Trước khi muốn hỏi ta là ai, trước hết nên hỏi, từ đâu có ý tưởng về cái ta ấy?
Có một người mới mua về một con chó, đặt tên cho nó Lucky. Ban đầu, gọi Lucky, nó dửng dưng, vô cảm. Dần dần, nghe hai tiếng Lucky, nó mừng rỡ, ngoắt đuôi. Nó đã hiểu Lucky là cái gì, và như vậy nó cũng hiểu nó là cái gì. Nó hình thành một cái vỏ tự ngã mới qua một cái tên gọi mới. Trước khi có một tên gọi, nó vẫn tồn tại, và tự bảo vệ sự tồn tại ấy. Nó tìm thức ăn, tìm chỗ ngủ, và cắn bất cứ ai đến gần như muốn đe dọa, uy hiếp nó. Khi được đặt tên, toàn thể sự tồn tại ấy bây giờ tồn tại dưới một cái tên gọi Lucky. Dù vậy, nếu có ai xúc phạm đến cái tên Lucky, nó không có phản ứng gì. Nhưng với một con người, khi cái tên gọi, một cái danh gì đó, mà bị xúc phạm, thì hãy coi chừng. Tất nhiên, con người cho đến một tuổi nào đó mới biết nó tên gì, cũng như con Lucky vậy. Rõ ràng, cái danh mang nội hàm tự ngã ấy chỉ là hư danh, nhưng con người cũng như vậy đau khổ hay hạnh phúc bởi chính cái hư danh đó.
Một ông thầy giáo có cái ngã là thầy giáo. Ai xúc phạm đến danh từ thầy giáo, chức nghiệp nhà giáo, người ấy phải bị khiển trách.Nó là ông vua, nhưng ban đêm lẻn ra ngoài thành chơi. Dân nào không biết mà đối xử vô lễ như với dân thường, hãy coi chừng.Tự ngã chỉ là một cái danh, và đó là giả danh do nghề nghiệp, hay do chỗ ngồi, chỗ đứng giữa mọi người mà đạt thành. Cái giả danh chỉ mới hình thành trong một đời người thôi, mà đã khó quên, khó trừ như vậy; nếu là cái ngã được tích lũy trong nhiều đời, tất không dễ gì trừ bỏ.
Cái ngã của ông xã trưởng chỉ to bằng cái xã của ông. Cái ngã của một quốc vương to bằng cái vương quốc của ông. Cái ngã của một nhà thông kim bác cổ thì dài bằng thời gian kim cổ, rộng bằng không gian đông tây. Cái ngã của một chúng sinh luân hồi trong tam giới, tất cũng lớn bằng cả tam giới. Cái ngã ấy không phải dễ nhận ra. Không nhận ra nó, để thấy nó là thật hay giả, thì cũng không thể tận cùng biên giới đau khổ. 
Trong kinh Phật có một câu chuyện: Một thiên thần kia, hiện đến Phật, nói rằng trong quá khứ, ông là một tiên nhân, có tên là Ngựa Đỏ, có phép thần thông quảng đại. Ông muốn thấy được biên tế vũ trụ, để thấy được biên tế khổ, và chấm dứt khổ. Thế là ông bắt đầu đi tìm biên tế của vũ trụ. Tuổi thơ của ông bấy giờ dài đến một đại kiếp, đại khái là tỷ tỷ năm, nhưng không bao giờ thấy được cái biên tế của vũ trụ. Rồi ông hỏi Phật: “Có cần đi suốt cái biên tế vũ trụ này mới chấm dứt khổ không?” Phật xác nhận rằng, “Nếu không thấy được cái biên tế của vũ trụ thì không chấm dứt được khổ”. Đức Phật lại nói thêm: “Nhưng không cần. Chỉ trên cái thân cao một tầm này, với năm uẩn nầy, ta có thể biết được thế gian sinh, thế gian diệt”. 
Điều đó có nghĩa rằng, thân thể này, với xúc cảm này, với tư duy này, với nhận thức này, là tập hợp tích lũy cả một khối kinh nghiệm lớn bằng biên tế vũ trụ. Cái khối ấy đông kết thành cái vỏ cứng dày. Nó chỉ có thể bị đập vỡ bằng chày Kim-cang mà thôi.Nói tóm lại, giáo nghĩa trong kinh Kim-cang bắt đầu bằng sự đối trị tự ngã: vô ngã tưởng, vô nhân tưởng… Trong các tôn giáo, trong mỗi hệ thống tư tưởng triết học, đều có riêng một quan niệm về tự ngã. Trong nhiều tôn giáo, tự ngã là linh hồn do Thượng đế ban cho. Giữ cho linh hồn đừng bị mất, để sau này được hưởng ân phước của Thượng đế, đó là mục đích đời người. 
Trong Nho giáo, người quân tử phải biết lập thân và lập danh. Lập thân cho hiện tại, lập danh cho hậu thế. Đó là xác lập tự ngã trong xã hội.
Lão Tử nói: ta có đại hoạn vì ta có thân. Nếu ta không có thân, nào đâu có đại hoạn? Đó là hãy sống trọn tuổi trời chớ đuổi theo hư danh, hãy để cho thân và danh cùng mục nát với cỏ cây.
Các đạo sĩ Upanishad đi tìm cái tự ngã chân thật là gì. Vượt ra ngoài cái tôi trong đời sống thường nhật, và cái tôi lang thang trong luân hồi để chịu đau khổ, có hay không có một cái tôi thường hằng, chân thật? Cái tôi như giọt nước biển bị cô lập trong một cái vỏ cứng nhỏ mọn, vô nghĩa, trôi nổi bồng bềnh trong đại dương; để rồi khi cái võ cứng ấy đạp vỡ, giọt nước ấy sẽ hòa tan vào nước biển trong đại dương. Khi ấy, Tiểu ngã hòa tan vào Đại ngã.
Trong Phật giáo, Tiểu ngã hay Đại ngã, chỉ là những khái niệm giả danh. Nhưng cái giả danh được đông kết bởi tích lũy vô số vọng tưởng điên đảo. Cái ngã được hình thành trong đời này, do ảnh hưởng truyền thống, tôn giáo, tư tưởng, xã hội, để từ đó hình thành một nhân cách, một linh hồn, và rồi chấp chặt vào đó để mà tồn tại. Cái đó được gọi là phân biệt ngã chấp.Cái ngã do tích lũy từ điên đảo vọng tưởng nhiều đời, hình thành bản năng khát vọng sinh tồn nơi cả những sinh vật li ti nhất; đó là câu sinh ngã chấp. Vì vậy, không cần đi tìm ở đâu Tiểu ngã và Đại ngã, mà cần diệt trừ khái niệm giả danh bởi vọng tưởng điên đảo
&nbsp;&nbsp;Hay !








Vì vậy, không cần đi tìm ở đâu Tiểu ngã và Đại ngã, mà cần diệt trừ khái niệm giả danh bởi vọng tưởng điên đảo.&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nếu những khái niệm ,những định kiến này&nbsp; chỉ là ảo ảnh ,là vọng tưởng không có thực thì&nbsp; Ai &nbsp;là người xua đuổi ảo ảnh ? Và bắt bóng ảo để làm gì ?



http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Toi-Oi-Dung-Tuyet-Vong-Trinh-Cong-Son.IW607A6F.html]]></description>
            <pubDate>2009/04/13 00:32:30</pubDate>
            <guid><![CDATA[Tôi là Ai ? Truy tìm tự ngã - Tuệ Sỹ:198]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ ,chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà ?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=195]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đêm nay trăng sáng lồng lộng , thú ngâm trăng uống trà của người xưa&nbsp; nay thêm phần âm nhạc , nhạc Trịnh ,nhạc bản thể đầy ấp tình người nhưng không lìa bát nhả nghi tình , mối hòai nghi thân phận làm người man mác và ngút ngàn trong tâm thức người nghe :
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi ...?... để mai này tôi về với cát bụi ...?...
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tại sao con người&nbsp; tới ngày hôm nay ,tự cho là văn minh mà vẫn không biết được&nbsp; : đâu là cội nguồn của sự hóa kiếp ,của thân phận làm &nbsp;người ?...
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;Tiếng cầu kinh làm sao qua tiếng gào thét tâm linh ,đánh thức bát nhã nghi tình trong cõi thâm sâu tâm hồn ?
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Phải chăng TCS đã hiện đại hóa Phật giáo thiền tông bằng giọng ca gào thét tâm linh sâu thẳm của Khánh Ly ? 
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; TCS-Khánh Ly đã&nbsp; lay &nbsp;tỉnh giấc mộng cơm áo của chúng ta , tiếng thét mảnh liệt và ngút ngàn của họ làm tâm thức chai lỳ chúng ta chợt&nbsp; tỉnh ,chợt nghi 
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chẳng biết nơi&nbsp; nao là chốn quê nhà ...?&nbsp; ?&nbsp; ?
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Mot-Coi-Di-Ve-Khanh-Ly.IWZDFIAD.html]]></description>
            <pubDate>2009/04/11 01:41:14</pubDate>
            <guid><![CDATA[Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ ,chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà ?:195]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Vì sao lại trở về với thiên nhiên ?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=193]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trở về với thiên nhiên, y học của tương lai&nbsp;,vì sao ?


Thư mục: Phật giáo và xã hội | 
Đăng ngày: 17:52 09-04-2009 
Trở về với thiên nhiên, y học của tương lai 






Một quầy thuốc trong siêu thị thuốc Bắc trên đường Hải Thượng Lãn ÔngDân tộc nào cũng có kinh nghiệm cá biệt trong cuộc chiến chống bệnh tật. Với người da vàng thì Y Học Đông Phương nói chung, gọi tắt là Đông Y, với cơ sở lý luận cũng như kỷ thuật chẩn đoán, phương tiện điều trị chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Y, là một phần gắn liền với văn hóa bản sắc dân tộc vì đó là nền y học gần gủi nhất với người dân. 

Nói đến Đông Y thì mười người hết chín mường tượng về hình ảnh của thầy lang cao tuổi như ông đồ già ngồi bắt mạch, về siêu thuốc trên bếp than tỏa mùi dược thảo, về ống giác hơi, về kim châm cứu ... Từ góc nhìn phần nào định kiến của nhiều người Đông Y là phương pháp hoặc dùng để chữa trị bệnh chứng thông thường hoặc dùng khi không có được hiệu quả như mong muốn với Tây YCũng chính vì thế mà liệu pháp Đông Y còn có tên là “phương ngoại” trong ý nghĩa của một ngành y học không cùng đẳng cấp với Tây Y. Không lạ gì khi Đông Y thậm chí không được công nhận&nbsp; ở nhiều nước phương Tây.
Nhưng đó là chuyện của quá khứ! Không nói chi đến các quốc gia “chiếc nôi” của ngành Đông Y như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn&nbsp; Độ...,&nbsp; chưa bao giờ Đông Y được trân trọng đến thế ở nhiều nước phương Tây, ngay cả ở các quốc gia trước đây không hơn chục năm hảy còn rất “khó chịu” với liệu pháp xuất xứ từ bên kia biển Thái Bình. Đại gia nào trong kỷ nghệ dược phẩm phương Tây hiện nay cũng có ban nghiên cứu về thuốc dược thảo Đông Y. Không chỉ nhiều bệnh viện mà nhiều trường đại học ở châu Âu đã đưa Đông Y vào chương trình giảng dạy chính thức. Nếu hai mươi năm trước đây nhiều bác sĩ gia đình ở châu Âu còn bỉu môi xem thường Đông Y thì hiện nay nhà điều trị nào bên đó không biết Đông Y, tối thiểu với Châm Cứu, là thầy thuốc ... lổi thời!, theo đánh giá của các hảng bảo hiểm y tế ở Đức, Ao, Anh, Bỉ ... Bằng chứng là chính y sỉ đoàn ở nhiều nước phương Tây đang tổ chức thường xuyên các khóa châm cứu cho bác sĩ chuyên khoa để thầy thuốc có thêm phương tiện chữa bệnh trên tinh thần càng ít thuốc hóa chất tổng hợp càng tốt, theo đúng mong muốn của người bệnh.
Tại sao lại thế? Tại sao ngành Đông Y sau nhiều trăm năm chịu cảnh lép vế trước phương tiện kỷ thuật hiện đại, thuốc đặc hiệu, tiến bộ nhảy vot của Tây Y nay bổng trở lại thế thượng phong? Ai chưa tin xin hảy xem thí dụ ở các nước lân cận, nơi Đông Y đang được “hiện đại hóa” trong niềm tự hào dân tộc, nghĩa là với kết quả cụ thể thông qua hiệu năng tương tranh với Tây Y, thay vì chỉ với báo cáo êm tai nhưng thực chất thì rổng tuếch, như ở nước ta. Lý do khiến Đông Y trở về với niềm tin của người dân và trong sự chấp nhận của thầy thuốc giới Tây Y là vì
Kỷ thuật hiện đại của Tây Y tuy chính xác nhưng vẫn bế tắc trong nhiều lảnh vực, nhất là với các loại bệnh tâm thể vì mỗi người bệnh là một tổng thể không thể tách rời hai mặt tâm lý và thể xác. 
Thuốc hóa chất tổng hợp của Tây Y tuy hiệu quả nhanh chóng nhưng khó tránh phản ứng phụ khi dùng dài lâu
Nguyên tắc điều trị theo kiểu “tìm được chẩn đoán mới có bệnh, tìm được bệnh mới có thuốc chữa” của Tây Y vô tình chung trói tay thầy thuốc khi bệnh chưa phát và khi bệnh qua cơn ngặt nghèo.
Chính vi thế mà hơn bao giờ hết thầy thuốc Tây Y, nếu đặt quyền lợi của người bệnh lên hàng đầu, cần phải biết Đông Y để hoàn chỉnh một liệu pháp toàn diện về cơ chế và tối ưu về hiệu quả.
Như thế, thầy thuốc mang hoài bảo áp dụng Đông Y có thể yên tâm là họ không hề theo đuổi một ngành y học mờ nhạt của quá khứ. Trái lại, Đông Y, nếu được tiêu chuẩn hóa và hệ thống hóa bằng ngôn ngử của khoa học thực nghiệmvới , thay vì ngôn ngữ tượng hình như xưa nay, chính là nền y học nhân bản của tương lai. Lý do rất đơn giản, vì người bệnh trên khắp năm châu đang đòi hỏi một liệu pháp chữa bệnh cá biệt nhưng toàn diện, thay vì chỉ chạy theo tác dụng đặc hiệu.
- Trị bệnh an toàn thay vì phải chấp nhận rủi ro khó lường do phản ứng phụ.
- Vừa chú trọng vào mục tiêu phòng ngừa vừa tìm cách đánh thức khả năng phục hồi thay vì chỉ chạy theo triệu chứng trước mắt.

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng.Trun g Tâm Oxy Cao Áp TPHCM
Nếu&nbsp; ngưới dân VN ,nhất là giới trí thức ngành y , có kiến thức và chịu tìm hiểu thêm về nền y học nước nhà , thì chúng ta đâu nghèo vì bịnh tật và vì thuốc Tây quá mắc&nbsp; .Riêng Bộ&nbsp; giáo dục và y tế nếu không bị văn hóa Tây y đồng hóa , làm cho tình cảm thiên lệch ,thì trong chương trình giáo dục Tây y đã có môn học đông y ? Như trong các bịnh ung thư ,tim mach ,thần kinh tọa ,vôi gai cột sống ...thì giải phẩu của Tây y làm sao qua được&nbsp; môn khí công giải phẩu bằng &quot;năng lượng tế bào thần kinh&quot; ?
&nbsp;Nhất là môn châm cứu và bấm huyệt&nbsp; công năng nhanh và mạnh hơn Tây y&nbsp; rất xa bị bỏ quên vì ...sức đồng hoá cực mạnh của Tây y ...,chỉ 100 năm mà chúng ta sắp mất gốc ? 
&nbsp;Tại sao 1000 năm nô lệ giặc Tàu mà không sao ,chỉ nô lệ Tây phương 100 năm,&nbsp;vì sao nền y học dân tộc gần như bị xóa sổ ,ngay trong tâm thức của Tuổi trẻ VN ?
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/04/11 00:51:27</pubDate>
            <guid><![CDATA[Vì sao lại trở về với thiên nhiên ?:193]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Em chợt đến ,chợt đi , ai chợt  biết ? Trời chợt mưa ,chợt nắng ,chẳng gì đâu ?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=185]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sáng nay trời trong suốt ,mình ngồi dưới Thánh đường Trịnh Công Sơn nghe nhạc ,&nbsp; hớp nhẹ từng ngụm nhỏ cà fé nhìn mây trôi trên biển ,nghe Ao lụa Hà đông Khánh Ly ca ,tiếng ca ngút ngàn&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn Mà mùa Thu dãi nắng ở chung quanh Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung Bay vội vã vào trong hồn mở cửa &nbsp;&nbsp;&nbsp; Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết &nbsp;&nbsp;&nbsp; Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu &nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau ? &nbsp;&nbsp;&nbsp; Để anh gọi tiếng thở buồn vọng lạị.... Em ở đâu, hởi mùa Thu tóc ngắn? Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông Anh vẫn yêu mào áo ấy vô cùng Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng ...Anh vẫn yêu màu áo ấy em ơiMình nghe :Em chợt đến chợt&nbsp; đi , anh vẫn biết&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trời chợt mưa ,chợt nắng&nbsp; chẳng&nbsp; gì đâuSao thấy Nhà thơ thật dễ thương&nbsp; quá...,riêng mình chỉ tự hỏi
Em chợt&nbsp;đến ,chợt&nbsp;đi Ai chợt biết ?
Trời chợt mưa ,chợt nắng,cớ vì sao ?
&nbsp;http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Ao-Lua-Ha-Dong-Khanh-Ly.IWZDFIUF.html&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ]]></description>
            <pubDate>2009/04/02 17:27:31</pubDate>
            <guid><![CDATA[Em chợt đến ,chợt đi , ai chợt  biết ? Trời chợt mưa ,chợt nắng ,chẳng gì đâu ?:185]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[Nhất niệm vô sinh:vạn niên xuân ? Vì sao ?]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/trancongbinh7/article?mid=184]]></link>
            <description><![CDATA[&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Có phải&nbsp; vô tư ,vô tâm là bí quyết sống&nbsp; AN LẠC , VÔ ƯU&nbsp; VÔ BỊNH ?&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bàn bạc trong kinh điển Đại thừa , và các bậc thánh hiền thường xuyên nhắc nhở ,riêng ta thì sao ?Cái Đạo Vô tư mà thánh hiền khai thị ngày nào nơi chốn Tùng Lâm ra sao ?Một thóang đã 30 năm như môt giấc mơ?Mà không :&nbsp; &nbsp; &nbsp; Vì ,&nbsp; nhất niệm vô sinh : vạn niên xuân?]]></description>
            <pubDate>2009/04/02 16:43:22</pubDate>
            <guid><![CDATA[Nhất niệm vô sinh:vạn niên xuân ? Vì sao ?:184]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- w3.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Sun Nov 29 07:02:30 SGT 2009 -->
