Gocomay xin chào bạn: "Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may/Áo em sơ ý cỏ găm dầy/Lời yêu mỏng mảnh như màu khói/Ai biết lòng anh có đổi thay?" (Xuân Quỳnh)

Bài mới nhất

Sửa Đóng

Thiếu nữ VN đoạt Giải Tự Do 2009 vì cứu các nạn nhân nô lệ tình dục ở CPC

Sina Nguyễn Thị Bích, quê ở Cần Thơ, vừa được trao Giải Frederick Douglass ngày 13 tháng 10 năm 2009

Sina Nguyễn Thị Bích, quê ở Cần Thơ, vừa được trao Giải Frederick Douglass ngày 13 tháng 10 năm 2009. (Foto: Thanh trúc)

Một cô gái gốc Việt được trao giải Tự Do 2009 tại Hoa Kỳ, theo bản tin của ký giả Thanh Phương trên đài Pháp Quốc RFI hôm 19-10-2009. Bản tin cho biết rằng vào ngày 15/10 vừa qua, một nhà hoạt động bảo vệ nạn nhân nô lệ tình dục ở Cam Bốt, cô Sina Vann, đã được trao giải Frederick Douglass, nhân lễ trao giải Freedom 2009 tại Mỹ.

Sina Vann là một cô gái gốc Việt bị bắt cóc bán sang Cam Bốt làm gái điếm từ năm 13 tuổi. Theo lời thông tín viên Phạm Phan trên đài RFI, cô Sina Vann, 25 tuổi, trước đây là một nô lệ tình dục trong nhà chứa tại Cam Bốt sau khi được cứu thoát đã tích cực hoạt động giúp đỡ những nạn nhân cùng cảnh ngộ như cô.

Giải thưởng Tự Do năm 2009 trị giá 20.000 Mỹ Kim, phân nửa số tiền để tạo điều kiện cho người nhận giải tiếp tục hoạt động cứu giúp phụ nữ trẻ em bị bắt làm nô lệ tình dục, phần còn lại để tưởng thưởng cá nhân cô Sina Vann. Bị bán vào nhà chứa năm cô 13 tuổi Sina Vann quê tại Việt Nam, lúc được 13 tuổi, cô bị bắt cóc mang qua Cam Bốt và bị bán vào nhà chứa. Tại đây, Sina Vann bị hãm hiếp một ngày từ 20 đến 30 lần bởi khách làng chơi và bị chủ chứa đánh đập nêu có thái độ chần chừ không chịu tiếp khách.

Đến tuổi 16 tức 3 năm sau khi bị cưỡng bức làm nô lệ tình dục, Sina được cảnh sát Cam Bốt cứu thoát khỏi địa ngục trần gian này khi họ đột kích vào nhà chứa trong các đợt truy quát tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em. Sau khi phục hồi sức khỏe và tinh thần tại trung tâm cứu nguy các nạn nhân bị bắt làm nô lệ tình dục, Sina Vann bắt đầu làm việc cho Sáng Hội Somaly Mam, và rồi cô đảm nhận vai trò người đứng đầu chương trình có tên Tiếng Nói Vì Sáng Kiến Thay Đổi, một chương trình có mục tiêu hoạt động cứu giúp các nạn nhân nô lệ tình dục.

Đài RFI cũng ghi lời ông Lin Sylor phát ngôn nhân của văn phòng Sáng Hội Somaly Mam tại Cam Bốt thì nhiều người vui lòng khi thấy cô Sina Vann nhận được giải thưởng Tự Do, vì điều này chứng tỏ hoạt động bênh vực nữ quyền của cô được quảng bá trong xã hội.

*

Một nơi còn trắng

Talawas - 04/11/2009 | 1:05 sáng | phản hồi

Tưởng Năng Tiến

Sẽ không để vùng trống, vùng trắng trong công tác kiều bào.”

                                                    Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn

Nghị quyết 36 được ký vào ngày 26 tháng 3 năm 2004. Ngay sau đó, lác đác, có tiếng vỗ tay tán thưởng:

- Nhạc sĩ Phạm Duy: “Chính phủ Việt Nam  vừa làm một chuyện hết sức ngoạn mục… Đó là một cách đưa tay ra với những người thua trận… Thật tuyệt vời. Đất nước đã đổi thay thế nào thì cùng lúc một viên tướng (ông Nguyễn Cao Kỳ), một nhà sư (thiền sư Thích Nhất Hạnh) và một nhạc sĩ lại cùng trở về.”

-  GS-TS Nguyễn Đăng Hưng (Việt kiều tại Bỉ): “… từ khi nghị quyết này được ban hành, có nhiều con tim đã vui trở lại!”

Âm thanh của những tiếng vỗ tay này – nghe ra – có phần hơi gượng gạo và không được vang xa. Do đó, khi “viên tướng, nhà sư và nhạc sĩ cùng về” thì nơi những bản làng (heo hút) vẫn có những kẻ bồng bế, dắt díu nhau đi.

Ông Thắng A Di, 38 tuổi, là một trong những người đã ra đi trong cảnh muộn màng (và lỡ làng) như thế. Gốc sắc tộc Hmong, quê ở Bắc Hà, ông cùng cha mẹ vợ con rời Lào Cai đến Đắc Lắc, rồi vượt biên sang Lào, và từ đó vượt sông qua nước Thái.

“Cùng với 6.500 người Hmong khác, cũng chạy nạn từ Lào sang, gia đình ông Thắng A Di bị nhà cầm quyền Thái Lan coi là những di dân bất hợp pháp. Từ ngày 4 tháng 7, họ bị xua đuổi và không còn chỗ nào khác hơn là tập trung trên hành lang dài 2 KM, dọc theo con lộ chính nơi Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng. Họ che những tấm vải nhựa, nhưng rõ ràng là khó vượt qua được cái nóng vẫn còn gay ắt, hoặc những trận mưa đầu mùa ở vùng đông Bắc Thái … Họ đã trải qua bốn ngày điêu đứng như người chạy loạn, không nơi che mưa nắng, không thực phẩm, không nước sạch, kể cả không có chỗ làm công việc vệ sinh cần thiết …” –  theo như tường trình của đặc phái viên Nam Nguyên, từ Bangkok, nghe được qua RFA trong hai hôm 07 và 28 tháng 7 năm 2005.

Ông Thắng A Di, và những người Việt Nam đồng cảnh (rõ ràng) đã đi không đúng lúc, và tới không đúng nơi – wrong time and wrong place – theo như cách nói của đời thường. Còn theo ngôn ngữ của (đương kim) Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn thì họ đã đến những vùng trống và vùng trắng.

Trong một cuộc họp báo tại Hà Nội, vào ngày 10 tháng 7 năm 2008, ông Thứ trưởng đã long trọng tuyên bố: “Sẽ không để vùng trống, vùng trắng trong công tác kiều bào.” Gần hơn, khi trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, hôm 7 tháng 6 năm 2009, nhân vật này còn cho biết thêm là sẽ có nhiều “khởi sắc” và “đột phá” trong chính sách đãi ngộ Việt kiều.

Với chủ trương “khởi sắc” và “đột phá trong chính sách đãi ngộ Việt kiều, và với quyết tâm “sẽ không để vùng trống, vùng trắng trong công tác kiều bào” của nhà nước Việt Nam (như vừa trích dẫn) tôi tin rằng số phận của ông Thắng A Di –  cũng như của của tất cả những người Việt ở Ban Huay Nam Khao, hay còn có tên gọi (thơ mộng) là Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng – sẽ hoàn đổi khác, nếu họ đi vượt biên… trễ lại độ vài năm!

Cũng bằng vào niềm tin này, và bằng vào nội dung của Chỉ thị 19 (do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký vào ngày 6 tháng 6 năm 2008 để chấn chỉnh “những hạn chế, yếu kém trong việc nắm tình hình người Việt Nam ở nước ngoài…”) tôi xin được để cập đến một nơi còn rất trống và rất trắng: Svay Pak, hay còn có tên gọi khác là Khu Đèn Đỏ, hoặc “Mecca for paedophiles” (“Thánh Địa Ấu Dâm”) ở Cambodia.

Nạn nhân vừa được giải thoát ở Svay Pak. (Nguồn: www.sbtn.net)

Từ Phnom Penh, nhà báo Nicholas D. Kritstof, có bài tường thuật “The Evil Behind the Smiles”  về sinh hoạt của Việt kiều tại địa phương này (The New York Times – December 31, 2008) xin ghi lại một vài đoạn ngắn:

Sina (*) là người Việt, nhưng bị bắt cóc từ lúc mới tuổi 13, và bị mang vào Cambodia, để được tập dùng ma túy. Em kể sau đêm đầu tiên ở xứ Tháp Chùa, em tỉnh thức và thấy mình trần truồng, người đầy máu me, cùng nằm chung giường với một ông Tây da trắng, không biết người xứ nào, là kẻ đã bỏ tiền trả cho tú bà để phá trinh em.

Sau đêm đó, em bị khóa chặt trong phòng trên gác một khách sạn xinh đẹp để chủ chứa chào hàng với khách Tây hay dân đại gia Cam Bốt. Em kể là em đã bị tẩn nhừ đòn vì không chịu cười đùa và tỏ ra cợt nhả để quyến rũ khách mua hoa. Câu tiếng Miên đầu tiên mà tôi phải học thuộc, là ‘Em muốn làm tình với anh’, còn câu tiếng Anh đầu tiên của tôi thì quá tục tĩu, không thể nói ra ở đây, em kể.

Thế là Sina phải thuộc nằm lòng bài học tươi cười nhũng nhiễu với đàn ông thường bằng tuổi bố mình vì nàng không muốn no đòn do không kéo níu được một gã đàn ông. Nhưng cũng có khi em lảng tránh khách vì người ê ẩm do lao động thể xác quá độ, để rồi sau đó bị kéo đầu xuống phòng tra tấn nằm dưới tầng hầm.

Hầu như nhà chứa nào cũng có phòng tra tấn như vậy cả, em bảo. Các phòng này phải ngầm dưới đất để các tiếng rú của nạn nhân thét to không thoát ra bên ngoài làm người khác hay.

Cũng như ở bất cứ nhà chứa nào, phương thức tra tấn được dùng phổ thông nhất, là roi điện. Sina thường bị trói gô lại, nhúng vào nước, xong mới bị quất bằng dây điện cắm vào nguồn điện 220 volts từ tường. Những nhát roi như muốn xé thịt, nhiều lần làm nạn nhân té đái hay phọt cả phân, và xỉu tại chỗ.

Bị điện giật có vẻ thích hợp cho việc dằn mặt của kỹ nghệ đĩ điếm vì các nhát roi chỉ làm đau và gây kinh hoàng cho nạn nhân nhưng không để lại thương tích bên ngoài để làm giá cả món hàng thịt người bị giảm sút. Sau khi bị đánh và bị giật điện, Sina kể là em còn bị nhốt truồng như nhộng trong một quan tài gỗ đầy kiến lửa. Bên trong quan tài tối thui,ngột ngạt và chật chội đến nỗi em không thể dùng tay để phủi kiến. Nước mắt ràn rụa của em đã làm mấy con kiến bu ở khóe mắt trôi đi. Hình phạt bị nhốt vào quan tài thường kéo dài từ một đến hai ngày liền, và chuyện bị nhốt và bị kiến đốt đã trở thành cơm bữa.”

Đoạn văn thượng dẫn được chuyển ngữ bởi nhà báo và nhiếp ảnh gia NgyThanh, người vừa có mặt ở Cao Miên vào tháng 8 năm 2009 vừa qua. Trong một thiên bút ký của chính ông (tựa là Lẽ ra đừng tới) hiện đang đăng nhiều kỳ trên tuần san Thời Báo, tác giả cho biết thêm rằng:

“Svay Pak là làng điếm truyền thống gồm những căn nhà vừa gạch vừa bê tông làm nơi chứa gái bán dâm đến từ Việt Nam, công khai mời chào ‘boom boom’ (làm tình với bé gái) và ‘yum yum’ (khẩu dâm với bé trai) với giá mạt hạng chỉ 5 đô trong những vuông phòng chật hẹp được ngăn ra bằng ván ép xập xệ…

Trẻ em Việt Nam được cảnh sát Cambodia giải thoát trong một cuộc bố ráp các động mãi dâm ở Phnom Penh. Nguồn AP.  

Trẻ em Việt Nam được cảnh sát Cambodia giải thoát trong một cuộc bố ráp các động mại dâm ở Phnom Penh.

Nguồn AFP.

Vừa qua, thủ tướng Hun Sen đã thề (lại thề!) đối diện với tệ nạn buôn người, và bà Bộ trưởng Mu Sokhour đặc trách Các Vấn Đề Phụ Nữ hứa là nhà nước sẽ chấn chỉnh. “Chúng tôi thấy rõ ràng nạn buôn người, đặc biệt là gái tơ từ Việt Nam; ai cũng gặp chúng trong nhà chứa”

Lời thề hay lời hứa, như vừa dẫn, tuy không có giá trị cao nhưng ít nhất nó cũng làm cho thiên hạ được an tâm (phần nào) vì những giới chức cao cấp nhất của Nam Vang đã thừa nhận rằng đất nước của họ có vấn đề. Hơn hai muơi năm qua, kể từ khi những tệ nạn ở Svay Pak được giới truyền thông thế giới lưu tâm, chưa bao giờ người ta được nghe một lời thề hay lời hứa (xuông) tương tự từ những viên chức Việt Nam có thẩm quyền, ở Nam Vang – dù khoảng cách giữa Sứ quán và Khu Đèn Đỏ (xem ra) chỉ độ… mươi cây số, và dù người ngoại quốc đã có kẻ (sốt ruột) phải lên tiếng than phiền.

Ông Aaron Cohen, nhà phân tích độc lập về vấn đề buôn bán trẻ em vào đường mãi dâm, trong một cuộc phỏng vấn thực hiện bởi phóng viên Thanh Trúc (nghe được qua RFA, vào hôm tháng Giêng 2006) đã đưa ra nhận xét như sau:

“Tôi tự hỏi tại sao chính phủ Việt Nam không tạo áp lực với Cambodia về vấn đề đó. Tôi nghĩ là chính ông đại sứ Việt Nam ở Phnom Penh biết rõ các em gái nhỏ tuổi ở nước mình bị bán qua Cambodia mà không cố tìm cách ngăn chặn. Quả thực điều này tôi không hiểu ra.”

Câu chuyện còn khó hiểu hơn nữa nếu thiên hạ biết rằng nhà nước Việt Nam đã có thể gây áp lực khiến Nam Dương, và Mã Lai, phải đục bỏ những tấm bia tưởng niệm thuyền nhân – ở hai xứ sở này. Và theo The Jakarta Post (số ra ngày 1 tháng 8 năm 2009) họ cũng đang có yêu sách phải đóng cửa trại Galang, trong thời gian sắp tới.

Two Vietnamese girls, aged eight and 10, sit on a bed in a brothel in the Cambodian village of Svay Pak, near Phnom Penh in March. Nguồn Shanghai Star.

Two Vietnamese girls, aged eight and 10, sit on a bed in a brothel in the Cambodian village of Svay Pak, near Phnom Penh in March. Nguồn: Shanghai Star.

Còn ở Cao Miên – nơi mà công an và cảnh sát Việt Nam có thể đi lại như chỗ không người, và họ đã thành công trong nhiều vụ bắt cóc người tị nạn ngay giữa ban ngày – việc hợp tác với chính quyền địa phương để xoá bỏ “Thánh Địa Ấu Dâm” (chắc chắn) là điều có thể thực hiện được, nếu Hà Nội thực sự quan tâm đến vấn để này, và thực lòng muốn làm như thế.

Sở dĩ phải rào đón trước sau (“như thế”) vì khi long trọng khẳng định “sẽ không để vùng trống, vùng trắng trong công tác kiều bào,” Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn – rất có thể – chỉ có ý muốn nói đến những vùng mà kiều bào có khả năng làm ra kiều hối mà thôi. Chứ còn ở Bản Làng Nơi Dòng Sông Trắng hay ở Svay Pak – những nơi mà Việt kiều không có cơm ăn nước uống hay phản bán thân nuôi miệng, và bán với giá rất bèo, nếu không thì bị “đánh đập mỗi ngày – thì chưa chắc đã là những vùng đất nằm trong đích nhắm của Chỉ thị 19 và  Nghị quyết 36.

Trong trường hợp này thì tôi xin lỗi là đã nói chuyện  lạc đề, và đã nói hơi lâu, làm mất thì giờ độc giả đã đọc đến dòng chữ cuối cùng này.

TNT

____

(*) Theo RFA (nghe được vào hôm 28 tháng 10 năm 2009) Sina tên thật là Nguyễn Thị Bích, quê ở Cần Thơ, vừa được trao Giải Frederick Douglass – hôm 13 tháng 10 năm 2009 – vì nỗ lực tự phục hồi bản thân cũng như quyết tâm phòng chống tệ nạn buôn người mà cô từng là nạn nhân.

----------

____________
  • Ngày mai cô s t trong ra ngoài
    Thơm như hương nhy hoa lài
    Trong như nước sui ban mai gia rng.

    Ngày mai gió mi ngàn phương
    S đưa cô ti mt vườn đy xuân”

                       ( Tiếng hát sông Hương - ́ Hữu)

    Cô gái sông Hương năm xưa, nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị dày vò cả thể xác lẫn tâm hồn muốn được hoàn lương phải đợi một làn gió mới, làn gió cách mạng vô sản.

    Nhưng ngày nay không chỉ bên dòng Hương Giang vẫn còn gái “bán hoa” mà đầy rẫy ca ve trong các “Quán Lý Thông” ở mọi nơi:

    “Tôi hỏi ca ve, ca ve cười ngất

    Chợt nhận ra mình giữa quán Lý Thông"

                         (Quán Lý Thông - Nguyễn Trọng Tạo)

     Vì vậy, tin  Sina tên  Nguyn Th Bích, quê Cn Thơ, va được trao Gii Frederick Douglass – hôm 13 tháng 10 năm 2009 – vì n lc t phc hi bn thân cũng như quyết tâm phòng chng t nn buôn người mà cô tng là nn nhân, đú́ng thật là con tim đã vui trở lại!

    Báo cáo

    gocomay16:46 05-11-2009

    Những lý giải sự việc của bác thật giản dị mà dễ hiểu.
     
    Tuy cái Giải Frederick Douglass-2009 không to và không nhận được nhiều tiền như các giải thưởng khác. Nhưng chưa thấy ai nói nó không danh giá?.
     
    Em cũng đang có théc méc (thắc mắc) là sao không thấy báo chí lề phải bên nhà đả động gì đến một người VN (sinh ở Cần Thơ - năm 1984 - tức là ra đời dưới chế độ ta), mà nỗ lực và cố gắng thế thì cũng đáng để thanh thiếu niên của ta (chưa ngoan hay cùng cảnh ngộ) học hỏi lắm chứ. Chí ít cũng là tự phục hồi bản thân (cái này khó lắm nha)...
     
    Vậy nhờ bác hỏi (hỏi nhỏ) các nhà báo nhà văn xem có điều gì tế nhị hay uẩn khúc ở đây?
     
    Chả nhẽ: Sẽ không để vùng trống, vùng trắng trong công tác kiều bào.” (Lời Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn) đanh thép thế mà lại chừa bà con Việt Kiều mình ở Campuchia?

Bài viết về bạn hoặc có tag tên bạn:

  • Chưa có bài nào có liên quan.

Người đăng ký yêu thích blog này cũng đồng thời thích:

  • Chưa có blog yêu thích nào có liên quan.