Thư mục: Tổng hợp |

Ngày ấy, sau Toàn quốc kháng chiến, Văn Cao đưa cả gia đình vợ chưa cưới (gia đình bà Nghiêm Thuý Băng) về Ba Thá - Chương Mỹ - Hà Đông. Ơ đó, Văn Cao vẫn hàng ngày hướng về mặt trận Hà Nội. Và những ngày đầu năm Đinh Hợi - 1947 cũng là những ngày Văn Cao viết nháp bản thảo bài thơ dài "Ngoại ô mùa đông 1946". Một năm sau, bài thơ đã in trên Tạp chí Văn nghệ số 2 ở chiến khu Việt Bắc. Bài thơ dài đã khép lại bằng câu thơ đón mùa xuân Đinh Hợi - 1947 mới mẻ và rắn rỏi: "Mùa xuân về giữa chiến hào xa".
Việc lớn mà Văn Cao thực hiện được trong năm tuổi của mình là việc tổ chức hôn lễ với bà Nghiêm Thuý Băng - năm đó mới 17 tuổi. Đám cưới xong và trọn vẹn một tuần trăng mật, theo yêu cầu của đồng chí Lê Giản - Giám đốc Công an Bắc Bộ, Văn Cao đã móc nối với đồng chí Minh già - Công an khu X - lên Lào Cai tổ chức một mạng lưới đặc tình nhằm tìm ra và khống chế những gián điệp Tưởng Giới Thạch thâm nhập vào Tây Bắc. Và thế là vợ chồng Văn Cao lại khăn gói lên đường trong nhịp valse "Làng tôi" vừa viết xong.
Lên Lào Cai, Văn Cao quyết định lập bar để làm điểm theo dõi. Văn Cao đã tìm đến ba thổ ty vùng Lào Cai là Nông Vĩnh Xương ở Mường Khương, Lò Văn Phù ở Bát Xát và Voòng A Tưởng ở Bắc Hà. Văn Cao bỏ tiền riêng ra cùng góp với ba thổ ty để vào hội thổ ty và lấy vốn chung đó lập bar.
Theo yêu cầu, Văn Cao đã làm lễ kết nghĩa anh em với Voòng A Tưởng. Trong buổi lễ, một cây kiếm và một khẩu súng được để bắt chéo trên bàn thờ tổ quốc. Kẻ nào thay lòng đổi dạ phản bội tổ quốc thì sẽ chết vì gươm, hoặc vì súng. Đồng chí Trần Huy Liệu đã nhân danh trung ương có mặt để chứng kiến.
Thế là quán bar ở Lào Cai được khai trương với sự tham gia của hai nhạc sĩ Phạm Duy và Ngọc Bích. Khi ấy, Văn Cao với nhiệm vụ đặc biệt của mình đã giấu kín "Văn Cao nghệ sĩ" trong lòng mà chỉ để lộ ra "Văn Cao hiệp sĩ" chủ quán bar mà thôi. Chính nhờ thời gian ở Lào Cai, Phạm Duy đã viết "Bên cầu biên giới" nổi tiếng.
Ai đã tới cầu Cốc Lếu ở Lào Cai, không thể không tưởng tượng giai điệu bài hát Phạm Duy: "Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ/ Cầu cao nghiêng dốc bên dòng sông sâu...". Còn Ngọc Bích thì dào dạt ra "Gió mùa chinh phu": "Cô nàng dệt lụa hồ thu/ Mơ người chinh chiến biên khu chốn ấy xa vời...".
Văn Cao cùng vợ rời Lào Cai đầu thu Đinh Hợi 1947, và đến khi sang sông Lô thì chiến dịch Việt Bắc thu đông đã kết thúc. Đi giữa đoàn bộ đội, ông nhận thấy bên bờ sông Lô còn nghi ngút khói. Và mùa đông buốt giá. Choàng tấm chăn chiên hơ tay trên bếp lửa cùng đồng chí Doãn Tuế - chỉ huy pháo binh Việt Nam trong chiến thắng lẫy lừng vừa qua trên sông Lô.
Thế là "Văn Cao nghệ sĩ" lại bắt đầu nổi hứng. Ông nghĩ sau "Tiến quân ca" thành "Quốc ca Việt Nam", ông đã viết "Chiến sĩ Việt Nam" cho bộ binh và kỵ binh, "Không quân Việt Nam" và "Hải quân Việt Nam" cho các binh chủng tương lai của Vệ Quốc quân. Cũng đã có "Bắc Sơn" dành cho dân quân du kích. Đã có "Công nhân Việt Nam" và "Làng tôi" cho nông dân. Và vì thế ông sẽ viết về binh chủng pháo binh non trẻ.
Nhưng khi cầm đàn lên, thì cây guitar thân thuộc lại dẫn ông lạc vào một "Trường ca sông Lô" mênh mang và trở thành tác phẩm bất tử chảy lai láng trong trường kỳ kháng chiến, cùng "Lô Giang" của Lương Ngọc Trác, "Chiến sĩ sông Lô" của Nguyễn Đình Phúc và "Tiếng hát bên sông Lô" của Phạm Duy tạo nên một bộ tứ bình sông Lô âm thanh. Hoàng Cầm cũng có một trường ca thơ về sông Lô.
Trong "Trường ca sông Lô" của mình, Văn Cao đã đưa vào đó một đoạn về chiến sĩ pháo binh: Thây giặc trôi trở về ngập bờ/ Sông gầm âm vang súng trái phá/ Bao rừng thu như bát ngát cười/ Dân hoan hô chiến sĩ pháo binh Việt Nam ghi công...
Và để nhớ về căn làng Ba Thá mùa xuân Đinh Hợi - 1947, Văn Cao đã nhắc lại âm hình "Làng tôi" trong đoạn kết trường ca: "Dòng sông Lô (ố) trôi" chính là "Làng tôi xanh bóng tre". Dường như ông đã xem cả bốn mùa trong năm Đinh Hợi - 1947 đều là bốn mùa xuân ở tuổi 24 đầy khát vọng mà hát tới mùa xuân sau: "Mùa xuân tới nước băng qua ngàn, nước in ven bờ xanh bóng tre"...