Thư mục: Tổng hợp |
|
Những người dân đang gọi chúng ta trở về… | ||||||||
|
Tuanvietnam cập nhật ngày 25/09/2009 12:21 (GMT + 7) Những giai điệu của bài hát vang lên và mở dần ra một con đường. Và con đường ấy đã đưa tôi trở về một vùng đất mà tôi chưa có một lý do nào chính xác để nói ra. Trong buổi chiều xao động của một ngày thu, một người bạn ngồi uống cà phê với tôi trong một quán cà phê bên đường Nguyễn Du cạnh hồ Thiền Quang lấy điện thoại di động ra và mở một bài hát. Tôi vốn là người ghét những chức năng phụ của điện thoại. Nhưng những giai điệu của bài hát vang lên và mở dần ra một con đường. Và con đường ấy đã đưa tôi trở về một vùng đất mà tôi chưa có một lý do nào chính xác để nói ra. Quảng Bình, một địa danh, luôn luôn thổi vào tôi những cảm xúc kì lạ. Một trong những bài hát làm tôi yêu mảnh đất mà hình như tôi chẳng có một quan hệ cá nhân nào ở đó là bài Quảng Bình quê ta ơi của nhạc sỹ Hoàng Vân. Rồi sau này là một số bài hát khác, trong đó có Cô gái Lệ Ninh.
Những cồn cát trắng, những con đường xa ngái như trong một giấc mộng, những giọng nói đặc trưng, những con sông, những mùa gió lạ, những xóm chài, những cánh đồng và những người dân ở đó. Năm 1997, tại đại học Bryn Mawr, Mỹ, gần 600 tổ chức phi chính phủ (NGO) của Mỹ đã tiến hành một hội thảo lớn về Đông Dương. Tôi được mời tới dự hội thảo này như một khách mời danh dự. Và những ngày ở đó, tôi được xem một bộ phim về một làng ở Quảng Bình trong thời gian chiến tranh. Những người dân ở đó từ trẻ nhỏ cho đến cụ già đã sống trong những căn hầm dưới mưa bom Mỹ để sống, để học hành, để cày cấy và chiến đấu bảo vệ đất đai của họ. Bộ phim như một bài ca bi tráng về một dân tộc chiến đấu cho hoà bình. Trong lúc không ít người Việt Nam đã vô tình quên đi những năm tháng đầy máu chảy nhưng lý tưởng và khát vọng sống của một dân tộc lại thật đẹp và thật kiêu hãnh đó thì không ít những người nước ngoài vẫn tìm đến. Họ tìm đến bởi họ tìm thấy ý nghĩa đích thực của lẽ làm người. Đấy là một sự thật. Một sự thật mà có những người Việt Nam cho đến lúc này vẫn chưa hiểu được. Sau buổi chiếu phim đó, một người Mỹ đã hỏi tôi những câu hỏi về vùng đất Quảng Bình và về con người Việt Nam. Khi tôi bắt đầu trả lời câu hỏi của người Mỹ kia thì những người Mỹ khác bắt đầu đến quanh tôi và thay nhau hỏi tôi về cuộc sống của những con người ở một làng Quảng Bình kia đã thay đổi như thế nào sau chiến tranh. Tôi nói với họ rằng: khát vọng về một cuộc sống yên bình và no đủ và đức hy sinh của những con người ở đó không hề thay đổi. Nhưng cả trong những ngày hoà bình họ vẫn phải sống bên cạnh cái chết bởi trong đất đai, ruộng đồng của họ vẫn còn bom đạn của người Mỹ ném xuống mà chưa được tháo gỡ.
Sau khi xem bộ phim, một số người Mỹ hỏi tôi nếu họ muốn đến những xóm làng Quảng Bình bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh thì có gì cản trở không. Tôi nhớ lúc đó, tôi nói với họ về mảnh đất đó như những gì tôi biết. Tôi nói với họ đó là vùng đất từ trước đến nay đã sinh ra cho dân tộc Việt Nam những người con ưu tú. Một trong những người con ưu tú nhất của Quảng Bình mà cũng là của dân tộc Việt Nam là đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nghe tôi nói vậy thì tất cả ồ lên. Họ bắt đầu hỏi tôi về đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi kể cho họ nghe câu chuyện đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp các cựu binh Mỹ trở lại Việt Nam năm 1991. Trong buổi tiếp đó, ông mời các cựu binh Mỹ ăn chuối. Khi thấy các cựu binh Mỹ còn chưa thực sự tự nhiên, ông cười và bảo: “Các bạn ăn đi, những quả chuối này được trồng ở nơi không nhiễm chất độc da cam”. Họ hỏi tôi vì sao một vùng đất rất ngèo, rất khắc nghiệt như thế lại sinh ra những anh hùng và những nhân tài. Tôi nói với họ vì đó là mảnh đất của truyền thống hiếu học, của những khát vọng cao đẹp và của một ý chí sống mãnh liệt. Có lẽ sự khắc nghiệt của đời sống đã làm cho những con người ở đó có một ý thức sống như vậy. Cũng có lẽ vì những mối duyên tình cờ mà tôi đã yêu mảnh đất Quảng Bình và mang nhiều cảm xúc với vùng đất ấy theo cái cách của tôi chăng. Và cũng bởi điều ấy mà lòng tôi đã xáo động khi bài hát của Trần Hoàn vang lên từ hệ thống loa nhỏ xíu của chiếc điện thoại di động. Bài hát của cố nhạc sỹ Trần Hoàn đã dùng phương pháp tự sự. Nhưng người tự sự ở đây lại không phải tác giả mà lời tự sự của một người con gái sinh ra và lớn lên ở Lệ Ninh, Quảng Bình: Từ cửa sông Nhật Lệ/ Mời anh về thăm quê/ Dòng Kiến Giang mình đó/ Hỡi anh còn nhớ không?
Đó là một lời mời nhưng lại là một câu hỏi. Một câu hỏi của cô gái Lệ Ninh nhưng chính là câu hỏi của những người dân ở khắp các làng quê trên tổ quốc Việt Nam rằng chúng ta, những người Việt Nam, có còn nhớ về những năm tháng máu chảy, có còn nhớ về những người dân đã hy sinh cho cuộc kháng chiến vĩ đại và đau thương ấy. Bởi lẽ đó mà cô gái Lệ Ninh hay là những người dân Lệ Ninh đã nhắn gửi: Nay sông xưa vẫn con đò bến cũ/ Mà cuộc đời thay đổi bao lần/ Bên con sông vẫn tháng ngày lam lũ/ Vẫn có người thương nhớ, đợi chờ…ai. Cuộc sống có biết bao thay đổi tốt đẹp nhưng cũng có những thay đổi như là sự lãng quên và như là sự bạc lòng. Người dân Quảng Bình cũng như người dân ở những nơi mà trong năm tháng chiến tranh họ đã phải chịu đựng sự tàn khốc nhất của chiến tranh vẫn mãi mãi giữ trọn tình cảm thiêng liêng mà họ đã chia sẻ với con người. Điều mà cô gái Lệ Ninh kia sợ nhất không phải là những con người ở làng quê cô vẫn tháng ngày lam lũ. Điều mà cô, hay nói cách khác, là những người dân trên mọi miền quê sợ nhất là sự lãng quên của con người với tri âm, tri kỷ của mình, là sự lãng quên với một quá khứ bi thương mà vô cùng kiêu hãnh. Cho đến bây giờ, họ vẫn đợi những người đã một thời họ chia sẻ và sẵn sàng hy sinh. Không phải họ đợi chúng ta trở về để mang cho họ những gì họ còn thiếu thốn trong đời sống vật chất. Họ đợi chúng ta trở về như cất tiếng gọi chúng ta trở lại một đời sống đẹp đẽ biết nhường nào. Một đời sống mà thuở ấy, ai cũng muốn sống chân thành và thuỷ chung, ai cũng có những ước mơ đẹp đẽ và ai cũng muốn hy sinh cho người khác và cho dân tộc của mình.
Nguồn :VNN |



