<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0">
<channel>        <title><![CDATA[vucquanh BLOG]]></title>
        <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh]]></link>
        <description><![CDATA[vucquanh BLOG]]></description>
        <language>vi-vn</language>
        <lastBuildDate>2009/11/25 09:37:24</lastBuildDate>         <item>
            <title><![CDATA[TẠI SAO CÁC ÔNG KHÁC KHÔNG LÊN TIẾNG]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=537]]></link>
            <description><![CDATA[Cô Ba Sương có công, chứ không có tội!
Tác giả: Nguyễn Kiến Phước
Bài đã được xuất bản.: 1 giờ trước

&nbsp;

&quot;Anh Sáu kể: tôi có nghe Thành ủy Cần Thơ dự tính sẽ quy hoạch một trung tâm mới cho thành phố mà toàn bộ khu đất của nông trường Sông Hậu nằm trong quy hoạch đó. Trong quy hoạch còn định dời sân bay Trà Nóc lên trên đó, và làm con đường xuyên Đông Dương qua An Giang lên Cam-pu-chia...&quot;
LTS: Vụ xét xử bà Trần Ngọc Sương (Ba Sương) đang được dư luận xã hội quan tâm theo dõi. Ông Nguyễn Kiến Phước, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân vừa gửi tới Tuần Việt Nam một bài viết với tựa đề: &quot;Cô Ba Sương có công, chứ không có tội!&quot;. Để tôn trọng tính đa chiều của truyền thông, chúng tôi xin đăng bài viết của ông như một tư liệu tham khảo.
Tôi là Nguyễn Kiến Phước, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, là phóng viên thường trú của báo Nhân Dân tại tỉnh Hậu Giang từ năm 1977 đến 1983.
Trong cuộc đời làm báo của mình, tôi đã từng là một trong những người đầu tiên viết về Nông trường Sông Hậu và người anh hùng chân đất Trần Ngọc Hoằng và con gái Trần Ngọc Sương, những người đã bỏ hết trí lực cho sự nghiệp này nở hoa.





Dù đón lãnh đạo cao cấp như Tổng bí thư Đỗ Mười, cố giám đốc Trần Ngọc Hoằngcũng không bỏ được thói quen đi chân đất lội đồng quen thuộc. Ảnh tư liệu.Trên tờ Nhân Dân, tôi đã&nbsp; viết về bài học về quản lý của nông trường này đăng ngày 9/5/1983 và bài &quot;Vĩnh biệt người anh hùng chân đất&quot; đăng ngày 20/7/2000. 
Thời gian sau, tuy không có điều kiện theo dõi nhưng thỉnh thoảng, tôi vẫn &nbsp;hỏi thăm để nắm thông tin và giới thiệu cho không ít cơ quan, đoàn thể ở TP Hồ Chí Minh về tham quan, tận mắt thấy và cảm nhận về thành quả của chủ nghĩa xã hội ở một góc nông thôn Nam Bộ - nông trường Sông Hậu mà trong sâu thẳm của lòng mình &nbsp;tôi rất hãnh diện và tự hào.
Từ khá lâu rồi, tôi có nghe người ta sắp bắt và xử cô Ba Sương, vì những lý do này khác. Tôi đã bán tín bán nghi, nên có hỏi một số đồng&nbsp; chí&nbsp; nguyên lãnh đạo tỉnh này để xác tín thông tin. Tôi hoàn toàn sửng sốt khi người ta đã đối xử với một người Anh hùng như thế!
Với những gì tôi biết, nhìn thấy, cảm nhận về nông trường và về cá nhân cô Ba, tôi xin nói thẳng: cô Ba Sương, đồng chí Trần Ngọc Sương có công, chứ không &nbsp;có tội!





Cố giám đốc Trần Ngọc Hoằng cùng những người trong số 16 chàng trai,cô gái từ buổi đầu theo chân ông vào xây dựng nông trường với mấy chiếc máy kéovà 50 ngàn đồng đi vay để mua nồi niêu, xoong chảo, lều bạt.... Ảnh tư liệu.Nhớ lại lần về thăm lại Sông Hậu, chúng tôi, những người quen cũ, ra đốt nén nhang cho ông Năm Hoằng, một người Nam Bộ khẳng khái, khí tiết - một con người đặc biệt. Bấy giờ nông trường đang bị thanh tra chi đó, bên mộ phần người cha của mình, tôi nghe lời khấn lầm thầm của cô: Ba ơi, vì con nghe lời Ba mà con ra nông nỗi này! 
Sau khi khấn ông cụ xong, tôi có ý kiến ngay với Ba Sương, có gì thì cứ trình bày hết, minh bạch, trung thực, chớ làm gì mà thối chí quá vậy.
Từ đó đến nay thời gian đã lùi xa, và trước hung tin là người ta xử cô Ba tới 8 năm tù(!?), tôi cố nén lòng mình, đọc lại tư liệu, trầm tĩnh suy nghĩ xem lẽ phải ở đâu? Nguyên nhân sâu sắc là gì, và người ta được gì và hại gì khi mang người Anh hùng ra trước vành móng ngựa?
Cô Ba Sương đi theo và làm theo lời dặn của cha là ông Năm Hoằng thì có gì sai? Chẳng lẽ sự hy sinh, dấn thân vì sự nghiệp xây dựng một mô hình kiểu mẫu cho chủ nghĩa xã hội ở nông thôn Nam Bộ (mà hầu như các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta&nbsp; nhiều thời kỳ đến thăm đều khen ngợi) và được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho tập thể nông trường lại là sự chọn lựa sai lầm chăng!?





Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh về nông trường Sông Hậu để nghecố Giám đốc Trần Ngọc Hoằng giới thiệu về mảnh đất sình lầy hoang hóađang dần trở thành &quot;bờ xôi ruộng mật&quot;. Ảnh tư liệu.Chẳng lẽ các thế hệ lãnh đạo tỉnh Hậu Giang từ thời anh Mười Dài, anh Tư Bình cho đến anh Sáu Hậu..., những Bí thư tỉnh ủy Hậu Giang, những người ủng hộ mô hình Sông Hậu là sai lầm chăng? Chẳng lẽ cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt biểu dương điển hình Sông Hậu là không trúng? 
Tôi cũng đã từng theo chân nhiều anh trong Bộ Chính trị (BCT), trong Trung ương (TW) về thăm Sông Hậu khi còn công tác ở tỉnh này. Tôi cũng nghe nhiều nhắc nhở, phản biện nhưng chưa thấy ai phê phán điển hình này.
Thế mà giờ đây người lãnh đạo của mô hình làm ăn giỏi giang này lại phải ra trước vành móng ngựa. Đánh vào cô Ba Sương chính là tiêu diệt một mô hình thành danh trong lúc còn loay hoay cơ chế cũ lẫn khi đã có lối thoát ra.
Tôi biết rõ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc còn sống nghe lùm xùm vụ sẽ khởi tố cô Ba Sương, đã có thư cho cấp ủy địa phương nhắn nhủ hãy cân nhắc, thận trọng.
Tôi cũng biết rõ anh Sáu Hậu (Lê Phước Thọ), nguyên Ủy viên BCT, nguyên Trưởng ban Tổ chức TW, nguyên Bí thư tỉnh này, cũng có những lời can gián: có đáng hành xử với cô Ba như vậy không?





Đại tướng Võ Nguyên Giáp một lần về thăm nông trường,cùng cố giám đốc Trần Ngọc Hoằng xuống hỏi chuyện nông trường viên. Ảnh tư liệu.
Tuy nhiên, họ đã bỏ ngoài tai. Thậm chí tại phiên xử hôm 19/11, họ phớt lờ tất cả, từ công luận trên các phương tiện thông tin đại chúng, phớt lờ việc có thể vi phạm Luật tố tụng, phớt lờ ý kiến của luật sư, phớt lờ lời giải bày của các bị cáo.
Và &nbsp;họ thản nhiên trước hàng trăm thành viên nông trường đang than khóc khi nghe bản án được tuyên một cách lạnh lùng. Những nông trường viên sẵn sàng ở tù thay cho cô Ba Sương, vì những nông trường viên này coi cha con ông Năm Hoằng là ân nhân của những gia đình ấy.
Hỏi rằng, cho dù có việc lập ra cái gọi là &quot;quỹ đen&quot; đi nữa, thì số tiền ấy cô Ba Sương dùng để làm gì, mà đến nỗi bây giờ không có được một mái nhà nhỏ để an dưỡng tuổi già?
Có phải số tiền nhỏ nhoi đó là để làm quà tặng khuyến khích những ai làm ăn giỏi giang, là để thưởng cho thầy trò của cái trường phổ thông mà chính nông trường đã lập ra và tự lo việc trả lương, khi họ dạy giỏi học giỏi?
Khi nhận danh hiệu Người phụ nữ ấn tượng châu Á - Thái Bình Dương, được thưởng 10.000 đô-la, cô cũng đem tặng lại cho những phụ nữ và trẻ em nghèo Cần Thơ.v.v
Cái gọi là quỹ đen nào có thấm tháp gì so với giá trị nông trường đem lại là chăm lo đời sống của hàng nghìn nông dân ngày càng sung túc, cả về vật chất lẫn tinh thần, mà trên thực tế chưa có một quốc doanh nông nghiệp nào trong cả nước làm được như vậy.





Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) một lần về thăm nông trường.Trước khi mất, ông Sáu Dân đã viết thư gửi Thường trực Thành uỷ Cần Thơtrong việc cần ứng xử với NTSH sao cho hợp tình, hợp lý.
Tôi đã từng được nghe cách tính giá trị tài sản nông trường của cái gọi là kiểm toán hay thanh tra chi đó. Một cây bạch đàn nếu tính ra đô-la có thể bán được 5 - 7 USD, mà họ tính có 800 đồng Việt Nam/cây; các loại cây con trên phần đất Sông Hậu cũng được tính đại loại kiểu như vậy và kết quả là nông trường làm ăn không khá(!? ).
Tôi thật kinh hoàng khi có người thản nhiên nói với báo chí là để còn điều tra xem số hộ nông trường viên xin ở tù thay cho cô Ba là có bị ai xúi giục không?
Có bao nhiêu người lãnh đạo lâm vào hoàn cảnh như cô Ba mà còn được bà con thương như vậy? Tình cảm đó, chao ôi, quý biết chừng nào!
Tôi đã từng về Hậu Giang theo ý kiến của Ban Bí thư để điều tra xem kẻ nào xúi giục một số nông dân chống phá nông trường. Tôi cho rằng kẻ xấu lợi dụng những sơ hở của ta để chống phá ta thì có thể hiểu được, vì bản chất và lòng thù hận giai cấp của họ. Còn người của ta sao lại cũng tìm cách phá hoại một sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội mà suốt 30 năm qua cha con ông Năm Hoằng và khoảng 1.500 công nhân nông trường ra công khai phá thành một cơ ngơi giàu có sung túc?
Cuối cùng, nếu không phải để bức hại&nbsp; nông trường, hãy hỏi vì động cơ nào mà xử cô Ba Sương như vậy?
Mới đây, tôi có dịp tâm sự với anh Sáu Hậu về chuyện xử cô Ba Sương. Xin phép Anh Sáu được thuật lại đôi dòng về cuộc trao đổi này. Anh Sáu kể: tôi có nghe Thành ủy Cần Thơ dự tính sẽ quy hoạch một trung tâm mới cho thành phố mà toàn bộ khu đất của nông trường Sông Hậu nằm trong quy hoạch đó. Trong quy hoạch còn định dời sân bay Trà Nóc lên trên đó, và làm con đường xuyên Đông Dương qua An Giang lên Cam-pu-chia...
Kể tới đây, anh Sáu Hậu cho rằng đó là dự án duy ý chí! Vì đất vùng này rất thấp, nếu muốn xây khu đô thị mới... thì phải nâng mặt bằng lên rất cao đôi - ba mét, hỏi cát ở đâu cho đủ mà bơm hút vào đây? Còn muốn xây sân bay thì còn mắc cười nữa! Riêng chuyện kéo dài đường băng sân bay Trà Nóc để máy bay lớn có thể hạ - cất cánh đã gian nan quá cỡ rồi.
À , tôi vỡ ra, họ muốn lấy đất nông trường cho cái dự án phiêu lưu kia(!?). Và trong cái dự án quy hoạch đó, mọi sự có trong sáng, minh bạch, không có điều gì khuất tất?





Nông trường Sông Hậu những ngày đầu mới gây dựng. Ảnh tư liệu.Tôi biết rõ tính thẳng thắn bộc trực, thậm chí nóng này của cô Ba. Trong quản lý, cô có nhược điểm, thiếu sót này nọ, nhưng tuyệt nhiên cô Ba Sương là một con người trong sạch &nbsp;và có tình thương con người bao la. Bởi vì, ngay một căn nhà nhỏ cho riêng mình cô cũng không có, phải thuê lại nông trường, mà vào lúc này còn bị gấp rút thu hồi, thì nhẫn tâm quá! 
Với trách nhiệm một đảng viên hơn 40 tuổi Đảng, với những gì hiểu biết về nông trường và cha con ông Năm Hoằng, tôi xin khẳng định một lần nữa rằng, đồng chí Trần Ngọc Sương có công lớn, chứ &nbsp;không có tội. Bản án đối với cô Ba Sương là không thuận lòng người.
Nguồn : Vietnam Net
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/11/25 09:34:19</pubDate>
            <guid><![CDATA[TẠI SAO CÁC ÔNG KHÁC KHÔNG LÊN TIẾNG:537]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[MONG SAO TẤT CẢ NHỮNG AI ĐÃ NHẬN QUÀ ĐỀU LÀM NHƯ VẬY]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=535]]></link>
            <description><![CDATA[Tôi xin trả lại cho Nông trường Sông Hậu
TT - Vào đầu những năm 1990, khi tôi đang dự hội nghị bàn việc Đảng làm kinh tế ở T78 TP.HCM, một vị lãnh đạo hội nghị giới thiệu về Nông trường Sông Hậu: “đây là hình mẫu về nông nghiệp sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, mọi người cần đi nghiên cứu”.
Sau hội nghị, tôi tháp tùng đoàn đại biểu đi tham quan, không còn nhớ là bao nhiêu người, nhưng chắc là không dưới 50 người. Khi đến nơi thì không biết từ đâu đến vài chục người nữa cũng đang đi tham quan học tập nông trường. Lúc đó tôi nghĩ kiểu này nông trường chỉ lo tiếp khách chứ đâu còn thì giờ làm ăn.
Quá trình nghe giám đốc Năm Hoằng báo cáo thì mới biết có bộ phận chuyên lo công việc báo cáo và hướng dẫn người đi tham quan, chỉ có đoàn cấp cao và khách quốc tế ông mới trực tiếp báo cáo. 
Từ một vùng đất chua mặn, đầy bom đạn sau chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Hậu Giang và sự giúp đỡ của các ban ngành trung ương, nông trường đã làm ra hàng vạn hecta lúa có năng suất cao, hàng trăm hecta ao cá và vườn cây ăn quả. Hàng vạn nông trường viên có đời sống no đủ, trẻ em có trường học, gia đình neo đơn có sự trợ giúp của nông trường. Nghe báo cáo và xem không khí lao động, tôi thật sự bất ngờ về sức sống của Nông trường Sông Hậu, khác hẳn với các nông trường tôi đã đi thăm ở miền Bắc và miền Trung.
Bữa ăn trưa thân mật không thể nào quên tại nông trường với cơm gạo trắng, cá đồng, thịt heo, bò của nông trường sản xuất chăn nuôi. Trước khi ra về, ông Hoằng tặng mỗi người một túi gạo 10kg và lít nước nắm. Thấy mọi người ngạc nhiên, ông Hoằng giải thích: “Đặc sản cây nhà lá vườn cả đấy, ai đến đây cũng vậy thôi, các anh không nên ngần ngại gì, nhận quà cho nông trường vui”. Phong cách ứng xử của một giám đốc nông trường ăn nên làm ra, văn hóa ứng xử của con người Nam bộ, thực chất giản dị đến làm vậy. Thật xúc động!
Trên đường về tôi mãi suy nghĩ về ông Trần Ngọc Hoằng - một con người giản dị, cần cù mà rất đam mê ruộng vườn, sông nước. Bà Trần Ngọc Sương - một phụ nữ tài hoa, có học thức cao - tuyên bố sẽ nối nghiệp cha xây dựng một nông trường kiểu mẫu, đem lại đời sống sung túc cho bà con nông dân mình.
Nhận túi gạo và lít nước mắm của Nông trường Sông Hậu lúc đó mọi người đều ghi nhận như một kỷ niệm đẹp. Chắc không ai ngờ những món quà nhỏ, những bữa cơm khách, bồi dưỡng cho người lao động, cưu mang cho trẻ em nghèo và gia đình neo đơn trong ba thập kỷ từ “quỹ đời sống” (từ của nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình) đã khiến chị Ba Sương lâm vào cảnh cay đắng như hôm nay. Vì vậy, tôi tự nguyện trả lại phần quà ông Năm Hoằng trao tặng từ năm 1992 để Nông trường Sông Hậu góp phần cùng chị Ba Sương nộp phạt cho tòa án: 10kg gạo x 15.000đ = 150.000đ, 1 lít nước mắm 20.000đ, bữa cơm trưa 50.000đ, tổng cộng 220.000đ.
Xây dựng một Nông trường Sông Hậu đến ngày nay là một việc khó, chẳng mấy ai làm được. Điều đó được không ít các nhà lãnh đạo, các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực đã về tham quan, nghiên cứu nông trường này khẳng định. Vậy mà...
Tôi nghĩ Tòa án Cần Thơ có thể phạt chị Ba Sương 8 năm tù và bồi thường 4,3 tỉ đồng về tội lập quỹ trái phép theo quy định của pháp luật, nhưng phía sau phiên tòa còn lắm việc phải bàn…
HUỲNH THANH BÌNH (nguyên chánh văn phòng Tỉnh ủy Khánh Hòa
Nguồn : Tuổi trẻ Online]]></description>
            <pubDate>2009/11/25 09:03:59</pubDate>
            <guid><![CDATA[MONG SAO TẤT CẢ NHỮNG AI ĐÃ NHẬN QUÀ ĐỀU LÀM NHƯ VẬY:535]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[RỨA LÀ RĂNG]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=532]]></link>
            <description><![CDATA[


Day dứt chuyện Nông trường Sông Hậu
Lao Động số 266 Ngày 23/11/2009&nbsp;Cập nhật: 8:21 AM, 23/11/2009








Bà Trần Ngọc Sương tại phiên sơ thẩm của toà án huyện Cờ Đỏ (TP.Cần Thơ).
(LĐ) - Chiều 19.11, trong lúc bà Trần Ngọc Sương phải nhập viện cấp cứu thì Hội đồng phúc thẩm TAND Cần Thơ tuyên y án sơ thẩm 8 năm tù giam đối với bà. Bỏ tù người nữ giám đốc, một trong những phụ nữ hiếm hoi của ngành nông nghiệp được phong tặng danh hiệu &quot;Anh hùng Lao Động thời kỳ đổi mới&quot;, ta được gì?

Mặc dù bản án có hiệu lực ngay, nhưng dư luận chưa thể yên lòng.Công lao của hai cha conCó lẽ, ít có đơn vị kinh tế nào có thể chiếm được tình cảm nhiều đến thế của báo giới cả nước. Cũng có lẽ, ít có đơn vị kinh tế nào trong suốt gần ba thập kỷ luôn được đánh giá cao và dành được tình cảm tốt đẹp cùng sự hiện diện tại đơn vị mình nhiều đến thế của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước.&nbsp;Những ngày này, khi người nữ giám đốc Nông trường Sông Hậu (NTSH) bị khởi tố, truy tố, xét xử thì dư luận lại càng không thể yên lòng. Báo chí vẫn tiếp tục lên tiếng khẳng định mô hình NTSH, khẳng định những đóng góp to lớn của người đứng đầu nông trường.



&nbsp;

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có ý kiến; Thường trực Uỷ ban Trung ương MMTTQVN cử luật sư và ra văn bản &quot;Kiến nghị xem xét lại bản án&quot;. Gần 500 hộ nông trường viên của NTSH ký vào đơn bày tỏ sự không đồng tình với phán xử của các cơ quan pháp luật, trong đó hơn 100 người dân ở NTSH tình nguyện &quot;ở tù&quot; thay cho giám đốc nông trường. Chỉ riêng điều đó thôi cũng chứng tỏ sự việc không chỉ còn là của riêng người nữ giám đốc. Từ vai trò và số phận của những người cán bộ quản lý kinh tế dám dấn thân khai phá trên con đường đổi mới chưa từng có tiền lệ của đất nước, xin mạnh dạn nêu một vài suy nghĩ với mong muốn vào một kết cục có hậu của NTSH - một đơn vị anh hùng, một điển hình của nông thôn mới và số phận người nữ giám đốc anh hùng đã cống hiến trọn đời cho mô hình đó...Bị can ngồi kia, ngay trên vỉa hè, đang lùa vội bát bún thay bữa cơm chiều khi bóng đêm nhấp nhoá đã về. Bị can ngồi kia, trong căn buồng tá túc tuyềnh toàng ở TPHCM, tóc ngả bạc, mắt cần phải mổ, nhưng chưa đủ tiền đang cắm cúi lục tìm đống chứng từ, tài liệu để minh chứng cho sự vô tội của mình. Bị can nằm kia, đang cấp cứu giữa trắng toát giường bệnh trong suy kiệt vì bệnh tiểu đường, huyết áp và tim mạch. Bị can đứng kia, đang chắp tay thành kính trước bàn thờ cha mình (ông Trần Ngọc Hoằng). Ông là người anh hùng lao động chân đất nổi tiếng, không chỉ Đồng bằng Nam Bộ, mà cả nước này biết đến.&nbsp;



&nbsp;

Người con gái hiếu thảo tài giỏi kế tục sự nghiệp của ông, cũng được phong tặng danh hiệu &quot;Anh hùng Lao Động thời kỳ đổi mới&quot; như ông. Người con gái anh hùng của ông, &quot;người phụ nữ tài năng toàn quốc năm 2007&quot;, &quot;người phụ nữ ấn tượng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương năm 2002&quot; - con ông - giờ đã là bị cáo. Cái ranh giới giữa anh hùng và tội phạm sao mong manh đến thế?Ngay cả lúc này, khi bản án phúc thẩm đã tuyên, sự thể đã thế rồi thì ngay một người khe khắt và định kiến nhất cũng không thể không thừa nhận công trạng của cha con người anh hùng. Bằng chứng ư? Hiển nhiên ngay trước mắt chúng ta đó, một nông trường trù phú mênh mông, bát ngát với sức sống mới đang lên. Những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay trĩu hạt khi mùa về. Hơn vạn con người gắn bó, quần tụ với nông trường trong đời sống dẫu còn khiêm tốn, nhưng ấm no, hạnh phúc đã về. Nó không tự hiện lên như trong chuyện cổ tích giữa đời thường, mà nó khởi nguồn từ hơn 30 năm trước (tháng 4.1979), khi 16 chàng trai, cô gái theo Giám đốc Trần Ngọc Hoằng chèo xuồng vào vùng đất hoang hoá sình lầy này để cắm mốc khai phá cho cuộc sống ấm no của 16.000 người dân hôm nay.Chỉ 2 năm sau đó (1981), bà Trần Ngọc Sương tốt nghiệp Đại học Cần Thơ khoá đầu cũng theo bước cha mình là Giám đốc Trần Ngọc Hoằng, ký thác cuộc đời vào sự tồn vong của nông trường.&nbsp;





Đó là những năm đất nước bên bờ vực khó khăn. Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất tan rã từng mảng, nông dân cơ cực, đói ăn ngay trên đồng ruộng của mình. Cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp chồng chéo, thắt bó, tình trạng ngăn sông cấm chợ và tư duy cũ làm nên bao nỗi thống khổ trong đời sống của đất nước. Theo lời Đảng gọi, cha con bà Sương và bao chàng trai, cô gái đã đổ không biết bao nhiêu tâm sức, mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa xuống vùng đất sình lầy này.&nbsp;Năm 1985, Nhà nước đã lần đầu phong tặng danh hiệu &quot;Anh hùng Lao Động&quot; cho Nông trường Sông Hậu để ghi nhận công lao của Giám đốc Trần Ngọc Hoằng và bà con nông dân nơi đây đã biến một vùng đất hoang hoá, sình lầy thành một làng quê trù phú. Năm 1999, Nhà nước lần thứ hai tặng danh hiệu &quot;Anh hùng Lao Động&quot; cho NTSH&nbsp; để ghi nhận công lao của một tập thể những người lao động không chỉ làm giàu cho nông trường, đưa năng suất lúa của nông trường lên hàng cao nhất nước, mà còn đưa nông trường hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Ông Trần Ngọc Hoằng được tặng danh hiệu &quot;Anh hùng Lao Động&quot;, nhưng ông vẫn đi chân đất, kể cả khi đón tiếp Tổng Bí thư Đỗ Mười khi đó về thăm nông trường. Vậy nên, bà con Nam Bộ mới yêu mến gọi ông là &quot;anh hùng chân đất&quot;.&nbsp;Rồi năm 2000, ông Năm Hoằng qua đời. Bà Ba Sương tiếp nối xứng đáng sự nghiệp của cha và cũng được Nhà nước phong tặng danh hiệu &quot;Anh hùng Lao Động thời kỳ đổi mới&quot;, được bầu là Đại biểu Quốc hội. Năm 2002, bà được vinh danh&quot; Người phụ nữ ấn tượng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương&quot;. Năm 2007, NTSH là một trong số những doanh nghiệp tiêu biểu cả nước được trao &quot;Giải thương hiệu mạnh Việt Nam&quot;, còn bà Ba Sương được tặng danh hiệu &quot;Người phụ nữ tài năng toàn quốc&quot;.Như vậy là, bà Ba Sương cùng với cha mình đã đóng góp rất lớn vào việc biến vùng hoang hoá sình lầy thành miền quê trù phú, giúp bao cảnh đời nghèo khó vươn lên có cuộc sống sung túc như ngày nay. Ông Năm Hoàng qua đời, bà con nông trường dựng tượng ông để thể hiện sự kính trọng, biết ơn của mình.





Anh hùng Trần Ngọc Hoằng (chân đất) và con gái Trần Ngọc Sương (áo dài) trong lần đón Tổng Bí thư Đỗ Mười về thăm (ảnh tư liệu của đồng nghiệp).Không chỉ làm giàu một vùng quê, cha con ông Năm Hoàng còn cống hiến cho đất nước một mô hình về con đường đi lên ấm no và hội nhập của nông thôn mới trong chặng đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Mô hình đó không chỉ được xác nhận và đánh giá trong chuyến thăm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp khác; không chỉ được đề cao trong các bài báo, phim ảnh, mà còn trong cả các cuộc hội thảo, các công trình nghiên cứu khoa học. Năm 2002, tại Diễn đàn kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương ở Singapore, GĐ Trần Ngọc Sương được tặng danh hiệu &quot;Người phụ nữ ấn tượng Châu Á - Thái Bình Dương&quot; về kinh doanh, vì đã giải quyết được 4 vấn đề lớn của nông dân, không chỉ ở Việt Nam mà là ở cả ASEAN hiện nay: 1/Giúp nông dân tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. 2/Đưa khoa học-kỹ thuật vào đồng ruộng. 3/Tạo thương hiệu cho nông dân để vào các thị trường phát triển. 4/Thu hút được tuổi trẻ ở lại với nghề nông.Bà Ba Sương đã có mặt ở gần 40 quốc gia trên thế giới để tìm hiểu thị trường, quảng bá sản phẩm, khai thác cơ hội kinh doanh. NTSH đã trở thành đơn vị tiên phong trong 4 lĩnh vực của mặt trận nông nghiệp Việt Nam: 1/NTSH là doanh nghiệp nông nghiệp đầu tiên ở nước ta tiên phong đăng ký nhãn hiệu độc quyền ở trong và ngoài nước. 2/NTSH là doanh nghiệp nông nghiệp có sản phẩm xuất khẩu đa dạng bậc nhất. 3/NTSH là doanh nghiệp nông nghiệp có nhiều nhà máy chế biến xuất khẩu bậc nhất. 4/NTSH là doanh nghiệp nông nghiệp có nhiều sản phẩm quen thuộc với thị trường thế giới bậc nhất. 





Người ta nhiều khi không cần làm, chỉ cần bán ý tưởng thôi đã có thể thành tỉ phú.&nbsp;Ở đây không chỉ đơn thuần là ý tưởng, mà bà Ba Sương cùng với cha mình đã cống hiến cho đất nước cả một điển hình bằng xương, bằng thịt trong thực tế về xây dựng nông thôn mới. Bằng những thành công của mình, NTSH đã trở thành một điển hình mới, một cơ chế mới, một mô hình mới, một thương hiệu mới của nông thôn Nam Bộ.Điều xót xa, cay đắng nhất là người nữ giám đốc anh hùng ấy đã gục ngã không phải vì đã có các quyết sách không đúng trong sản xuất kinh doanh hay vì sự sa ngã bản thân, mà lại bị bắt lỗi, kết tội vì lập &quot;quỹ trái phép&quot; với vai trò chủ mưu. Vậy thì, một câu hỏi lại được đặt ra là: Ai quyết định lập quỹ? Vì sao phải lập quỹ và quỹ chi vào việc gì? Bà Ba Sương rất ngạc nhiên khi bị kết tội chủ mưu lập quỹ trái phép, trong khi chẳng hề có một văn bản, cuộc họp hay quyết định nào về việc lập quỹ do bà ký. Bởi vì quỹ là do cha bà lập ra từ năm 1994, tới năm 2000 ông qua đời, bà lên làm giám đốc thay cha và quỹ đó vẫn tiếp tục do công đoàn quản lý. Bắt tội lập &quot;quỹ trái phép&quot; thì nếu cha bà còn sống có kết tội cả ông hay không?Những năm đầu đổi mới, nền kinh tế nước ta vật vã vận hành trong cơ chế và quy phạm cũ nặng nề, thắt bó, cơ chế và quy phạm mới chưa thật sự định hình để đủ sức thắng hẳn cái cũ. Có hàng trăm thứ không hề có trong quy định vẫn phải chi. Một là bó tay, hai là tìm cách tháo gỡ.&nbsp;Quỹ công đoàn do Giám đốc Trần Ngọc Hoằng lập ra để thu hút các thầy - cô giáo yên tâm về nông trường dạy học, trợ giúp các gia đình khó khăn, chi cho cán bộ nhân viên bị đau ốm, chi cho việc xây dựng nhà tình thương, ăn trưa, tang ma, cưới hỏi, chi cho các hội đoàn, các cơ quan hành chính từ xã, huyện đến tỉnh khi có lời đề nghị trợ giúp.Đấy là chưa kể không biết cơ man nào là các đoàn tham quan, nghiên cứu từ tỉnh đến trung ương viếng thăm nông trường. Những khoản chi đó không thể xuất tiền của nông trường vì đó là tiền Nhà nước, tài chính không cho phép. Phải chi từ quỹ công đoàn, vì đó là những khoản tiền làm ngoài kế hoạch của nông trường, ở đây chủ yếu là tiền thu được do sáng kiến trồng bạch đàn dọc các kênh mương. Rõ ràng Nhà nước không mất gì ở đây. Đó là tiền làm ngoài kế hoạch của bà con nông trường. Nay kiểm tra, thanh tra, nếu thật sự có thất thoát, tư lợi, chi sai mục đích thì xử lý, thì thu hồi. Nhưng nếu giả dụ NTSH là doanh nghiệp tư nhân thì sao? Nhà nước sẽ làm gì với khoản tự làm ra và tự chi đó? Có những doanh nghiệp nước ngoài được Nhà nước cấp đất tới 50 năm, họ tự tung tự tác làm ăn, đánh đập sa thải công nhân, xả chất thải huỷ hoại môi trường (như Vedan), Nhà nước không thu được gì, mà lại phải đứng ra giải quyết. Còn ở đây, đất đai của NTSH vẫn trong tay Nhà nước. Nông trường lại làm nên bức tranh tươi sáng cho cả một vùng quê, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn con người, gánh trách nhiệm thay chức năng của một xã từ xây dựng hạ tầng cơ sở đến lo an sinh cho người dân mà không được Nhà nước cấp ngân sách. Có những năm, NTSH xuất khẩu tới 300.000 tấn gạo, hàng trăm ngàn tấn phân bón, rồi những chuyến bay tới gần 40 quốc gia trên thế giới để quảng bá sản phẩm, mở mang cơ hội kinh doanh thì nếu cứ dựa vào các quy định tài chính thắt bóp thì chỉ có nước bó tay chịu chết.Trong lúc các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn làm ăn thua lỗ, thất thoát lớn tiền của, tài sản của Nhà nước, làm nóng cả diễn đàn Quốc hội thì xử lý ra sao?Còn với NTSH thì sao?Là lá cờ đầu trên mặt trận nông nghiệp và nông thôn, là &quot;Anh hùng Lao Động trong thời kỳ đổi mới&quot;, được lãnh đạo kỳ vọng nhiều điều, NTSH đã phải oằn mình vì gánh nặng cơ chế và gánh nặng mô hình để đi lên. Kỳ lạ và đáng khâm phục làm sao, trải bao sóng gió, NTSH vẫn sống, vẫn đầy tiềm năng phát triển. Điều đó quý giá biết bao khi trong thực tế có những điển hình đầu năm đón nhận danh hiệu anh hùng, cuối năm tuyên bố phá sản (Dệt Long An).&nbsp;Lại có điển hình từng được coi là hình ảnh của CNXH ở nông thôn, nay đang rơi vào cảnh nghèo đói nhất tỉnh (Định Công - Thanh Hoá ). Vì lẽ đó, nhìn nhận, xử lý và cư xử ra sao với NTSH và với người nữ giám đốc anh hùng đứng đầu nông trường lâm vòng lao lý đang là mối bận tâm của xã hội.Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và môi trường kinh doanh quá nhiều khó khăn về cơ chế và không ít biến động, rủi ro, không ai nói là người nữ giám đốc ấy không có sai phạm, thậm chí sai phạm không nhỏ. Nhưng đó có phải là con người tư lợi, chỉ lo thu vén cho cá nhân mình hay không? Rõ ràng là không phải. Người nữ giám đốc ấy nay đã ngoài 60 tuổi, già yếu, bệnh tật, không chồng, không con, không nhà cửa, không một tài sản giá trị nào, đang sống bằng đồng lương hưu ít ỏi và phải tá túc nhà bà con mỗi chỗ ít hôm trên con đường đấu tranh giành lại danh dự cho mình. Bà có một lời tâm sự và một lời nhắn gửi buốt lòng, xin được nhắc lại và xin được gửi tới bạn đọc bài báo này:- &quot;Tôi định tự sát lâu rồi, nhưng nhiều đồng chí lão thành khuyên tôi phải sống để tìm ra sự thật. Bây giờ còn sống ngày nào, tôi còn đấu tranh để làm rõ ra chân lý&quot;.Bỏ tù người nữ giám đốc, một trong những phụ nữ hiếm hoi của ngành nông nghiệp được phong tặng danh hiệu &quot;Anh hùng Lao Động thời kỳ đổi mới&quot;, ta được gì?

Ghi chép của Trần Nhật Thi


Theo dòng sự kiện 

Vụ án Nông trường sông Hậu 

Thủ tướng: &quot;Tôi có quan tâm đến vụ án Trần Ngọc Sương&quot; 
Nguyên Giám đốc Trần Ngọc Sương gửi đơn kêu cứu 
Mong cô Ba tai qua nạn khỏi về lại với nông trường 
Vô tâm và nhẫn tâm! 
Sự trong sáng của một Anh hùng Nguồn : Lao động.com]]></description>
            <pubDate>2009/11/24 11:00:03</pubDate>
            <guid><![CDATA[RỨA LÀ RĂNG:532]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ NÓI...]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=530]]></link>
            <description><![CDATA[Tình người ở Nông trường Sông Hậu, nay còn không?
Cập nhật lúc 08:17, Thứ Hai, 23/11/2009 (GMT+7)

,

&nbsp;– Không kịp một ngày nghỉ ngơi sau phiên xử phúc thẩm y án 8 năm tù giam, bà Trần Ngọc Sương đã phải tất tả quay lại TP. Hồ Chí Minh tìm nơi tá túc.
&nbsp;
Ba ngày trước khi TAND thành phố Cần Thơ mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án “Lập quỹ trái phép”, ngày 16/11/2009, tân Giám đốc Công ty Nông nghiệp Sông Hậu (vẫn dùng con dấu “Nông trường Sông Hậu” (NTSH) - PV) Nguyễn Bá Cường “sức giấy” đến bà Trần Ngọc Diệp - Cơ sở Bánh kẹo Ngọc Tuyết (số 17, Điện Biên Phủ, P.15, Q.Bình Thạnh, TP.HCM).
&nbsp;







Bà Ba Sương tại nơi ở nhờ: tầng trệt căn nhà số 17 đường Điện Biên Phủ, P.15, Q. Bình Thạnh, TP.HCM. Ảnh: GVT.Nội dung công văn do ông Cường ký về việc “thanh lý sớm Hợp đồng thuê nhà số 03/HĐKT.2007 có thời hạn đến vào 01/09/2010”, để hối thúc việc “thu xếp dọn dẹp giao lại nhà vào ngày 25/11/2009”.
&nbsp;
Bà Trần Ngọc Diệp nguyên là nhân viên NTSH và là “vú nuôi” cháu bé Trần Ngọc Tuyết (con gái nuôi của cố Giám đốc NTSH, AHLĐ thời kỳ Đổi mới Trần Ngọc Hoằng). Căn nhà kể trên là tài sản của NTSH, là “hậu trạm” kiêm Văn phòng giao dịch các hoạt động XNK khi ông Năm Hoằng còn sống. 
&nbsp;
Tháng 11/2007, Phó giám đốc Trương Hồng Nhung, đại diện NTSH, ký hợp đồng cho bà Diệp thuê lại tầng trệt của căn nhà 17 Điện Biên Phủ để làm cơ sở bánh kẹo và làm nơi tiếp tục nuôi dưỡng đứa con nuôi vị Anh hùng quá cố. 
&nbsp;
Đây cũng chính là nơi ở nhờ của nữ AHLĐ Trần Ngọc Sương (Ba Sương), nguyên Giám đốc NTSH từ khi khi rời nhiệm vụ. 
&nbsp;
Trước “tối hậu thư” số 959/TB.NTSH ngày 16/11/2009, Giám đốc kế nhiệm Nguyễn Bá Cường đã ký hàng loạt các văn bản vào ngày 24/10/2008, 25/05, 08/07 và 27/8/2009 đều mang nội dung “cắt ngang” hợp đồng 03/HĐKT.2007 với “chỉ đạo”: “...thực hiện đúng nội dung chỉ đạo của UBND thành phố Cần Thơ”. 
&nbsp;
Xen giữa các “giấy đòi nhà” của giám đốc kế nhiệm, bà Diệp cũng đã 02 lần kiến nghị với ông Nguyễn Bá Cường, Giám đốc NTSH “thực hiện đúng điều IV, khoản 4 của Hợp đồng đã ký” nhưng vẫn không được quan tâm. 
&nbsp;







Cũng tại căn nhà đang ở nhờ người bà con thuê lại của NTSH này, có một bàn thờ nhỏ của cố Giám đốc Trần Ngọc Hoằng. Ảnh: GVT.Với cách thể hiện như vậy, tất cả các văn bản của Giám đốc Cty Nông Nghiệp Sông Hậu Nguyễn Bá Cường như muốn “dồn” bà Ba Sương vào vị thế không còn chốn nương thân (?).
&nbsp;
Còn nhớ năm xưa, những ngày khai phá rồi gầy dựng lên Nông trường Sông Hậu, mảnh đất 7.000 hecta này luôn luôn “mở cửa”, dang rộng vòng tay đón những mảnh đời khốn khó, không tấc đất cắm dùi từ mọi tỉnh thành tìm về tá túc, nương thân.
&nbsp;
Rồi họ trở thành nông trường viên, thành công nhân nông nghiệp. Con cái họ đi học được miễn học phí, được cấp gạo hằng tháng…
&nbsp;
NTSH vào đêm giờ đã một vùng làng quê trù phú, điện về tận từng nhà. Rạng sáng ngày 21/11/2009, khi hàng ngàn hộ dân NTSH đang say giấc nồng no ấm, thì cô Ba Sương của họ lại lầm lũi, tất tả lên xe đò quay lại điểm xuất phát của họ năm xưa: về gấp TP. HCM tìm thuê một nơi tá túc cho riêng mình, với bản án tù giam 8 năm đang treo lơ lửng.&nbsp;
&nbsp; 




Liên lạc điện thoại di động lúc 14g49’ ngày 22/11 với đương kim Giám đốc NTSH Nguyễn Bá Cường (ông NBC), ông Cường nói: “Đúng là cái này có chỉ đạo của&nbsp;UBND thành phố hồi đầu năm nay về việc thanh lý một số tài sản để trả nợ ngân hàng”. 
&nbsp;
PV: Xin hỏi ông, việc này do ai chỉ đạo? 
Ông NBC: Do Phó Chủ tịch Thường trực (ông Nguyễn Hữu Lợi, phó Chủ tịch thường trực UBND TP. Cần Thơ - PV) có kết luận bằng văn bản. 
&nbsp;
PV: Mấy anh em trong Nông trường (như ông Ngọc Chữ, Trưởng phòng Tổ chức-PV) có biết văn bản chỉ đạo này không? Giờ này có thể tham khảo ở đâu? 
NBC: Chữ làm hành chính không biết. Giờ này ngày nghỉ không có ai ở NT. Cái này đã có trao đổi (với bà Diệp-PV) và thống nhất “thông báo trước 03 tháng”.
&nbsp;
PV: Nhưng ông thấy hoàn cảnh của bà Ba Sương hiện tại như thế này mà mình xử lý như vậy có phải đạo không? 
NBC: Hôm nay ngày nghỉ, việc đúng sai xin miễn bàn. Thông cảm (!)
&nbsp;
PV cũng liên lạc với ông Nguyễn Hữu Lợi, hỏi ”ông có biết NT đang thực hiện sự chỉ đạo của ông về việc “đuổi” bà Ba Sương ra khỏi căn nhà thuê ở TP.HCM, trong hoàn cảnh này?”. Ông Lợi xác nhận: “Tôi không có chỉ đạo cụ thể từng cái. Tôi chỉ biết NT có nhà ở Tôn Thất Thuyết. Cái đó đúng là phải thanh lý”. 
&nbsp;
Riêng về căn nhà số 17 Điện Biên Phủ mà bà Ba Sương đang ở nhờ người bà con làm bánh kẹo, có hợp đồng thuê với nông trường, ông Lợi cho hay “không biết”, và yêu cầu phóng viên gửi hồ sơ để “xem xét, giải quyết nhanh”.
&nbsp;


&nbsp;Huy Bình - Trường Minh 

Nguồn : Vietnam Net]]></description>
            <pubDate>2009/11/23 12:26:11</pubDate>
            <guid><![CDATA[KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ NÓI...:530]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[BÀ BA SƯƠNG]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=524]]></link>
            <description><![CDATA[Ba Sương, vinh quang và cay đắng
TT - Cuộc đời sao mà quá ngang trái. Mới hôm nào bà là Anh hùng lao động, là người phụ nữ tiêu biểu&nbsp;châu Á - Thái Bình Dương, là người được ca ngợi đã dâng trọn đời mình cho sự nghiệp đến độ quên cả hạnh phúc riêng tư. Thế mà giờ đây bà&nbsp;đứng trước vành móng ngựa.
 
 
Ba Sương, tên thường gọi của bà Trần Ngọc Sương - giám đốc Nông trường Sông Hậu, người phụ nữ ấn tượng khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đã không còn sức để đứng suốt buổi trước vành móng ngựa trong phiên xử phúc thẩm hôm 19-11.







Bà Ba Sương ngày nhận danh hiệu Anh hùng lao động (1999) và... Ảnh tư liệu






... sau vành móng ngựa trong phiên tòa sơ thẩm, tháng 8-2009 - Ảnh: Quang Vinh
Một ngày sau phiên xử, chúng tôi đến thăm bà tại căn nhà nhỏ ở quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Bà Sương già sọm đi, nước da nhợt nhạt, thân hình tiều tụy đến không ngờ. 
Ngồi bệt trên chiếc ghế bố cũ cạnh đống tài liệu và một ít hình ảnh chụp chung với người cha quá cố và bà con nông trường viên, bà sụt sùi: “Hơn 30 năm sống chết với Nông trường Sông Hậu, với bà con, bây giờ tôi không còn gì cả! Không chồng, không con, không nhà cửa... Căn nhà này cũng của người em, tôi đang tá túc ở nhờ để đeo đuổi công lý. Tôi biết đào đâu ra tiền tỉ để bồi hoàn theo phán quyết của tòa. Với chứng đau tim mang trong mình, không biết tôi còn đủ sức để tiếp tục kêu oan”.






Tổng bí thư Đỗ Mười đến thăm Nông trường Sông Hậu tháng 1-1996. Ông Năm Hoằng - ba của bà Ba Sương, một người nông dân luôn đi chân đất cho dù đón lãnh đạo cao cấp - Ảnh tư liệu







Chủ tịch UBND tỉnh Cần Thơ trao danh hiệu Anh hùng lao động lần 2 cho Nông trường Sông Hậu năm 1999 - Ảnh tư liệu
Mới 16 tuổi, Ba Sương đã đoạt giải nhất cuộc thi cấp tỉnh tại Trường cao đẳng Nữ công gia chánh Bạc Liêu (1965), giỏi giang từ chọn mẫu thời trang đến nấu nướng, cắm hoa... 
Lẽ ra với năng khiếu mang đậm thiên chức phụ nữ tại gia như thế, cuộc đời bà đi theo một hướng khác. Nhưng không, Ba Sương lại coi đó là cũ, tự đổi mới bằng cách đi học khóa 1 ĐH Nông nghiệp Cần Thơ. 
“Gia đình tôi là nông dân. Tấm gương cần cù của cha tôi, ông Trần Ngọc Hoằng (Năm Hoằng), đã truyền cho tôi một tình yêu đam mê với ruộng vườn, sông nước. Vì thế sau một thời gian về công tác ở Nông trường Sông Hậu, tôi đi nghiên cứu về quản lý kinh tế ở Liên Xô, quyết tâm trở về xây dựng nông trường thành nông trường kiểu mẫu” - bà kể.






Những chiếc xe máy kéo khai mở mảnh đất hoang hóa, nhiễm phèn. Ở thời kỳ đầu, đoàn “cán bộ khung” do ông Năm Hoằng là đảng viên duy nhất phụ trách chỉ có 16 người là đoàn viên thanh niên, bộ đội xuất ngũ..., tài sản chỉ có 3.450ha đất (95% bị nhiễm phèn trung bình và phèn ít, 5% diện tích nhiễm phèn nặng), 10 máy kéo mua chịu của Chi cục Cơ khí Hậu Giang và 50.000 đồng vay của Phòng Thương binh - xã hội huyện Thốt Nốt để mua sắm nồi chảo, gạo mắm phục vụ “cuộc đọ sức với thiên nhiên” - Ảnh tư liệu






Ông Năm Hoằng và bà Ba Sương trong một bữa cơm dưới mái nhà tranh ọp ẹp thời khai mở nông trường - Ảnh tư liệu






Ông Năm Hoằng với chân đất, quần đùi đi thực địa ruộng lúa của nông trường viên - Ảnh tư liệu






Lúa gạo đầy ắp nhà máy xay xát và nườm nượp ghe thuyền xếp hàng chờ nhận gạo ở nông trường - Ảnh tư liệu
Trở về nước với cương vị giám đốc nông trường, bà Ba Sương trở thành người toàn năng, lo đủ việc: thủy lợi, giao thông, cải tạo đất, chế biến nông sản, tiếp thị, ngược xuôi bươn chải tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi cả việc học hành của con em nông trường viên. 
Biến vùng đất 7.000ha hoang lầy, nhiễm phèn mà cây lúa mọc không nổi trở thành nơi làm ra của cải cho xã hội, trở thành những làng công nhân nông nghiệp của chủ nghĩa xã hội. Từ đó hình thành trung tâm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có tiếng tăm lẫy lừng trong và ngoài nước. 
Nông trường Sông Hậu như một điển hình của nông thôn mới, không biết bao nhiêu đoàn khách đã tới tham quan học hỏi. Có nhiều đoàn lãnh đạo đã tới đây chỉ đạo nhân rộng mô hình nông trường.








Con em của nông trường trong giờ ăn ở trường mẫu giáo và học võ tại sân trường PTTH do Nông trường Sông Hậu tự xây dựng. Từ mảnh đất hoang hóa nông trường đã làm nên quá nhiều kỳ tích: từ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nông trường viên (điện, đường, trường, trạm, nhà văn hóa, hệ thống thủy lợi, nhà máy, cầu cảng, kho tàng...) đến công ăn việc làm, đời sống văn hóa tinh thần - y tế - giáo dục, xây dựng môi trường sinh thái, trật tự an ninh xã hội (là nơi mở lòng đón nhận, nơi gặp gỡ rồi “neo” lại của nhiều thành phần, tính cách, tập quán, phong tục... phiêu bạt đến từ 53 tỉnh, thành của đất nước); bảo đảm cuộc sống từ chỗ trôi dạt dọc các con kênh, móc lõm trỉa lúa độ nhật qua ngày, thành ăn no mặc ấm rồi ăn ngon mặc đẹp... - Ảnh tư liệu






Nông trường viên làm việc hăng say tại xưởng chế biến thực phẩm xuất khẩu của Nông trường Sông Hậu - Ảnh tư liệu
Hiệu quả đổi mới với tốc lực nhanh, mạnh mẽ của Nông trường Sông Hậu đã đưa bà Ba Sương đến đỉnh vinh quang: nối nghiệp cha nhận danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Trở thành người phụ nữ đầu tiên của VN nhận danh hiệu “Người phụ nữ ấn tượng khu vực châu Á - Thái Bình Dương”.
Vậy mà giờ đây phải nhìn thấy cảnh bà Ba Sương đứng trước vành móng ngựa với cáo buộc của tòa 8 năm tù giam cùng với số tiền phải bồi hoàn 4,3 tỉ đồng... Tội tình!
HOÀNG&nbsp;TRÍ DŨNG - HUỲNH KIM





Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: 
Cô ấy là anh hùng






Tối 19-11-2009, ngay sau phiên tòa, bà Ba Sương trở về nhà người em nằm trên chiếc giường xếp đơn sơ. Những ngày lèo lái “con thuyền Sông Hậu” bà cũng chỉ làm việc trên cái bàn gỗ thấp tè, nhỏ bé luôn cao chất ngất giấy tờ mà hàng năm trời bà vẫn ngồi, được gọi là “chỗ làm việc”. Cùng với đó là một chiếc giường xếp cá nhân có thể di chuyển đến bất kỳ đâu được coi là “chỗ ngủ” - Ảnh: Quang Vinh
“Chính tôi là người từng đi đến Nông trường Sông Hậu để xác minh có xứng đáng tuyên dương danh hiệu anh hùng hay không thì thấy rõ là hoàn toàn xứng đáng. Nông trường Sông Hậu đã cải thiện được cuộc sống cho hàng ngàn người nông dân khi làm ăn càng ngày càng hiệu quả, phát triển. Đó là nông trường anh hùng, cá nhân cô ấy (Trần Ngọc Sương) cũng là anh hùng, không phải ngẫu nhiên được như thế”.
Về cáo buộc lập “quỹ trái phép” hay “quỹ đen” đối với bà Trần Ngọc Sương, bà Bình khẳng định: “Đây không phải là “quỹ đen” mà phải gọi đúng tên là “quỹ đời sống”, trong thời gian đó người ta cũng gọi đây là “quỹ đời sống”. Cô ấy duy trì quỹ đó không phải để cho riêng mình tiêu xài, cũng không hề có gì giấu giếm để phục vụ cho những lợi ích cá nhân”.
Là người đã nhiều lần tiếp xúc với bà Sương, bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ: ”Tôi biết cô ấy không lập gia đình, cả cuộc đời dành mọi tâm huyết lo lắng cho nông trường, cho cuộc sống biết bao người nông dân, nguyên cái đó thôi cũng khiến chúng ta phải suy nghĩ về động cơ việc làm của cô ấy”.
Theo VietNamNet
Nguồn : Tuổi tre Online]]></description>
            <pubDate>2009/11/23 08:49:33</pubDate>
            <guid><![CDATA[BÀ BA SƯƠNG:524]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[CON CHÁU NGƯỜI VIỆT Ở ĐỨC...HỌC GIỎI]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=515]]></link>
            <description><![CDATA[Điều kỳ diệu Việt Nam” 
TT - Thế hệ thứ hai của những người Việt Nam tại Đức học hành rất thành công. Nỗ lực học tập của các em được ghi nhận trong bài viết của tác giả Martin Spiewak trên tạp chí Deutschland (Nước Đức) số tháng 9. Tuổi Trẻ trích giới thiệu.







Chị em Dung Van Nguyen - Ảnh: Westrich/ Deutschland Magazine
Ông hiệu trưởng Detlef Schmidt - Ihnen của Trường cấp III Barnim ở Đông Berlin rất hài lòng về kết quả trong kỳ thi Olympic toán. Sáu học sinh của ông đã đạt điều kiện để tham gia vòng tiếp theo cấp khu vực. Thành tích này không hẳn là đặc biệt đối với Trường cấp III Barnim ở Đông Berlin vì trường này luôn chú trọng tới các môn khoa học tự nhiên. Nhưng vấn đề nảy sinh là phải phát âm đúng tên của những học sinh đoạt giải như thế nào.
Cô bé học lớp 7 là Tran Phuong Duyen hay Duyen Tran Phuong? Tương tự như Duc Dao Minh, cậu học trò lớp 10. Ông Detlef Schmidt-Ihnen thường xuyên vấp phải khó khăn này vì 17% học sinh của ông đến từ các gia đình Việt Nam, con số ở lớp nhỏ tuổi hơn là trên 30%. “Nhiều em học rất tốt, đặc biệt là môn khoa học và toán” - ông hiệu trưởng nhấn mạnh. Học sinh giỏi toán nhất trường cũng là người gốc Việt Nam.
Giỏi hơn cả người Đức
Không có nhóm dân di cư nào đến nước Đức học tập tốt hơn dân Việt Nam: khoảng 50% con cái họ đậu vào các trường trung học, tức là theo tỉ lệ sẽ có nhiều học sinh đỗ vào trường đại học hơn người Đức. “Sức học của các em học sinh Việt Nam đối lập với những em nhỏ có nguồn gốc di cư khác. Điều kỳ diệu thường diễn ra ở Mỹ, nay đang lặp lại ở Đức” - Karin Weiss, chủ tịch Ủy ban Các vấn đề nước ngoài ở Brandenburg, hồ hởi.





Hầu hết người Việt Nam sống ở Đức kinh doanh buôn bán nhỏ. Rào cản ngôn ngữ khiến họ khó tìm được việc thông thường. Vì vậy, họ phải làm việc 60 giờ/tuần, làm các việc như thợ nề, bán hàng hoa hay bán hàng ngoài chợ nên con cái họ thường phải giúp cha mẹ.
Dung Van Nguyen cùng gia đình sống ở nhà dành cho người tị nạn trong nhiều năm. Em không có những kỷ niệm tồi tệ về thời thơ ấu, ít ra quanh em cũng có nhiều bạn để chơi, còn cha mẹ em thì ngược lại. 
Họ bị ám ảnh bởi cái bếp tập thể, sự chật chội và những trận cãi vã giữa những người khác chủng tộc cùng khu nhà. Dù vậy, có một nơi mà họ không bao giờ để thiếu: đó là góc học tập của con cái mình.
Như hầu hết các bậc cha mẹ người Việt Nam khác, họ cho con đến lớp mẫu giáo sớm để học tiếng Đức. Bây giờ, Dung học Trường cấp III ở Potsdam, là một trong những học sinh giỏi nhất của lớp với điểm trung bình là 1,5 (xét thang điểm từ 1-6, điểm 6 là trượt). Mùa hè năm ngoái, quỹ hỗ trợ các học sinh nhập cư có năng khiếu mang tên Start Foundation đã tặng học bổng cho cô bé 14 tuổi này. Khoảng 30% số học sinh được chọn ở Đông Đức là người Việt Nam. Chị em của Dung cũng đều học rất giỏi.
Dù học giỏi vậy nhưng phòng của các em không đầy sách, cũng chẳng có những trò chơi điện tử hỗ trợ học hành. Một tivi màn hình phẳng lớn trong phòng khách đối diện với bàn thờ, lúc nào cũng hương khói nhớ về tổ tiên. Phòng ở chật chội chất đầy thùng cactông chứa chai nước ngọt để cha mẹ bán hàng.
Người cha nói thứ tiếng Đức khó nghe. Vì vậy các con gái của ông dịch giúp câu chuyện về gia đình họ. Ông Nguyễn đi lao động xuất khẩu ở Liên Xô và nộp đơn xin cư trú ở Đức sau khi liên bang này tan rã. Nhiều năm sống trong tâm trạng lo lắng, cuối cùng họ được phép ở lại nếu chứng minh có đủ tiền để trang trải cuộc sống. 
Vậy là ông và vợ phải làm việc cật lực từ sáng sớm tới 22g đêm, đứng sau quầy bán hàng ăn. Suốt nhiều năm, Dung phải chăm em vì cha mẹ đi làm từ sáng sớm tới tối mịt mới về. Dù vậy, các con của ông Nguyễn vẫn học tốt và đem những điểm cao về khoe cha mẹ.
Chúng tôi muốn con mình học giỏi
Sao con ông học giỏi vậy, ông Nguyễn? Lần đầu tiên người đàn ông có dáng vất vả này mỉm cười. Ông có vẻ thích thú với chủ đề này. Câu trả lời đơn giản đến bất ngờ: “Vì tất cả cha mẹ Việt Nam đều muốn con mình học giỏi”.
“Giáo dục là tài sản có giá trị nhất đối với các gia đình Việt Nam” - bà Karin Weiss lý giải. Ngay cả khi cha mẹ có rất ít thời gian sau một ngày lao động vất vả, họ vẫn hỏi con mình về việc học hành, làm bài tập. Bà Weiss biết những gia đình Việt Nam có mức sống chỉ hơn mức nghèo một chút, vẫn chắt chiu từng đồng bạc để cho con đi học lớp tốt. Dù không cần phải như vậy, nhưng Dung và các anh chị em vẫn được cha mẹ hỗ trợ tối đa. Các em có máy tính để học. Khi muốn học piano, ngay lập tức cha mẹ mua về nhà cây đàn.
Tính ham học của người Đông Á là món quà quý giá nhất họ mang đến từ quê hương. Họ thường nói: “Có chí thì nên” hay “Tôi muốn con cái tôi có cuộc sống tốt hơn những gì chúng tôi đã trải qua”. Khi người Việt gặp nhau, câu đầu tiên họ hỏi thường là: “Con cái anh/chị học hành thế nào?”.
Với thế hệ trẻ, họ phải sống giữa hai nền văn hóa. Tiếng Đức của những đứa con quá khó để cho cha mẹ họ hiểu, còn tiếng Việt của những bậc cha mẹ thì các con lại không hiểu. Vì vậy khi gặp phải vấn đề tâm lý phức tạp, họ không biết dùng từ ngữ gì để nói nên gây tình trạng căng thẳng giữa các thành viên. Nhưng đây chỉ là những trường hợp cá biệt. 
Đa phần các gia đình Việt Nam vẫn giữ được truyền thống và tinh thần san sẻ ấm cúng. Con cái tôn trọng cha mẹ và có ước vọng lớn lao học tập để trở thành thành viên của tầng lớp cao trong xã hội Đức.
H.NGUYÊN lược dịch
Nguồn : Tuổi trẻ online


&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 
&nbsp;]]></description>
            <pubDate>2009/11/07 17:37:51</pubDate>
            <guid><![CDATA[CON CHÁU NGƯỜI VIỆT Ở ĐỨC...HỌC GIỎI:515]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[NƯỚC ĐỨC - NƠI CÁC CON, CHÁU TÔI ĐANG SINH SỐNG ...]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=511]]></link>
            <description><![CDATA[Nguyễn Văn Hương – Lần đầu tiên tôi được chứng kiến sức mạnh lốc bão của nhân dân, của chân lý
05/11/2009 | 1:00 sáng | 
Tác giả: Mạnh Cường Vũ
Thẻ: Hai mươi năm Bức tường Berlin sụp đổ
Mạnh Cường Vũ thực hiện
Lời người phỏng vấn: Tiến sĩ luật Nguyễn Văn Hương sang Cộng hòa Dân chủ (CHDC) Đức học đại học từ năm 1976. Sau khi tốt nghiệp vào giữa năm 1981, ông về nước đi làm. Cuối năm 1986 ông trở lại Đức để viết luận án tiến sĩ. Khi ông vừa nộp xong luận án thì Bức tường Berlin sụp đổ. Ông hiện là phó phòng pháp lý phụ trách các vấn đề người nước ngoài của chính phủ bang Berlin (CHLB Đức). Trong bài phỏng vấn sau đây, ông nhớ lại về quá trình sống và làm việc tại Đức cũng như chia sẻ những suy nghĩ về cộng đồng người Việt ở Berlin.
________________
Lần đầu tiên đặt chân lên nước Đức, ấn tượng của ông như thế nào?

 
Tiến sĩ Nguyễn Văn Hương
Nguyễn Văn Hương: Tôi tới thành phố Leipzig, CHDC Đức, vào một đêm đầu tháng Chín năm 1976. Ngày hôm sau nhà trường đưa tân sinh viên ra cửa hàng bách hoá lớn nhất thành phố mua sắm quần áo giày dép. Tôi thấy đường phố nhà cửa nào cũng đẹp, sạch, nhiều mùi thơm lạ, không có chỗ nào ồn ào như ở Việt Nam. Tôi chăm chú quan sát người Đức ăn mặc ra sao. Người Đức ai cũng đẹp. Quần ai cũng loe. Đàn ông từ trung niên đổ xuống tóc ai cũng dài. Phong cách đầy tự tin, phấn khởi của họ mách bảo tôi rằng họ không là những kẻ thiếu văn hoá. Hồi còn ở Việt Nam tôi không biết phẫn nộ khi các chú công an, các anh chị dân quân tự vệ rạch ống quần loe của ai đó đang đi trên đường, hoặc ghè đầu ai đó để cắt mớ tóc dài đủ trùm tai, chấm mắt. Tôi sợ đại sứ quán và ban quản lý sinh viên nhưng cũng sợ mình lạc lõng trên đời. Thế là mấy chiếc quần đầu tiên do tôi tự tay mua lại là những chiếc quần ống loe, khi đứng mà chụm chân vào nhau trông tôi như mặc váy. Tôi đã bắt đầu sự toàn cầu hoá bản thân như thế đấy!
Theo tôi biết, ông có mặt tại Berlin khi Bức tường Berlin sụp đổ vào ngày 9.11.1989. Cảm nhận của ông về quãng thời gian đó ra sao?
Nguyễn Văn Hương: Khi tôi vừa nộp xong luận án thì Bức tường Berlin bị nhân dân CHDC Đức đạp đổ. Tôi muốn nhấn chữ “đạp” ở đây bởi bức tường không đổ nếu không có hàng triệu bước chân nhân dân từ bỏ mảnh đất CHDC Đức hoặc xuống đường biểu tình đòi bầu cử trung thực, tự do ngôn luận, tự do lập hội đoàn, đòi quyền ra nước ngoài không phải xin phép nhà nước… Thực chất là đòi nhà nước thực hiện hiến pháp.
Cuộc sống tinh thần của tôi giàu lên nhiều do sự kiện Bức tường Berlin tan rã. Nhưng tôi ấn tượng hơn cả với cuộc biểu tình bột phát của hơn 500.000 công dân CHDC Đức trên Quảng trường Alexander Berlin vào ngày 4 tháng 11 năm 1989. Ngày hôm đó chính phủ CHDC Đức không thể phủ nhận được nữa một sự thật, rằng những nhà trí thức hàng đầu, lúc đó bị coi là những kẻ đối lập với chính phủ, mới chính là những người đại diện cho nhân dân, cho dân chủ, cho một chủ nghĩa xã hội nhân bản. Đứng trong biển người đó, lần đầu tiên tôi được chứng kiến bằng tất cả các dây thần kinh của mình sức mạnh lốc bão của nhân dân, của chân lý.
Hôm nay tôi vẫn xúc động mạnh khi nhớ tới ngày đó. Mười năm sau, khi quyết định cưới nhau, hai vợ chồng tôi đã chọn ngày mùng 4 tháng 11 đáng ghi nhớ.
Tôi nhớ đoàn người hân hoan, những dòng nước mắt hạnh phúc khi người dân được giải phóng khỏi sự giam hãm hơn 28 năm sau bức tường ngăn cản chủ nghĩa tư bản. Người Việt Nam ở CHDC Đức lúc đó, chủ yếu là dân lao động, cũng vui mừng vì bỗng nhiên họ được tiếp xúc với một thế giới cấm. Tuy nhiên đại bộ phận người Việt Nam vẫn gắn bó với Đông Đức cho tới ngày sáp nhập với Tây Đức.
Ông là một trong những người cuối cùng trở thành công dân nước CHDC Đức ngay trước khi nước Đức thống nhất. Duyên cớ nào dẫn đến quyết định này?
Nguyễn Văn Hương: Là bạn thân của một số người trong nhóm những nhà phê phán chính phủ CHDC Đức lúc bấy giờ, sau khi sập tường Berlin tôi may mắn được phong trào dân chủ thảo luận, đề xuất cải cách nhà nước, xã hội CHDC Đức cuốn hút. Khắp Đông Đức bấy giờ mỗi trung tâm chính trị đều có Hội nghị Bàn tròn với sự tham gia bình đẳng, hoà bình, nhiệt tình của đại diện mọi thành phần xã hội. Là người nước ngoài tôi trở thành chuyên gia cho mảng chính sách ngoại kiều tại Hội nghị Bàn tròn Đông Berlin, đồng thời là thành viên ban tư vấn cho bà Almuth Berger, Quốc vụ khanh CHDC Đức đặc trách chính sách ngoại kiều, người từng sang đàm phán với chính phủ Việt Nam hồi tháng Năm 1990. Sau đó tôi được chính phủ Đông Berlin tuyển dụng vào vị trí chuyên viên pháp lý trong cơ quan Đặc nhiệm viên đại diện ngoại kiều. Mấy tuần trước khi thống nhất hai nước Đức, bạn bè tôi lúc đó nhiều người đã lên nắm chính quyền vận động tôi xin nhập quốc tịch CHDC Đức. Họ muốn tôi chuyển tải những mong ước của chúng tôi tới nhà nước chung sắp tới, muốn có một sự bảo đảm về công việc cho tôi trong chế độ “bên kia”. Bốn giờ chiều ngày 2 tháng 10 năm 1990, tám giờ đồng hồ trước phút sáp nhập hai nhà nước, tôi nhận quốc tịch CHDC Đức. Ngày hôm sau nghiễm nhiên tôi là công dân CHLB Đức.
Công việc của ông liên quan nhiều đến đồng bào nhập cư sinh sống ở Berlin. Kỷ niệm sâu sắc nhất đối với ông trong quá trình công tác ở vị trí ấy?

Nguyễn Văn Hương: Công việc hàng ngày, xét cho cùng, cho tôi hân hạnh được tiếp xúc với vô vàn số phận không suôn sẻ của người di cư sang nước ngoài. Số lượng kỷ niệm sâu sắc với những số phận riêng biệt khá nhiều, tôi chẳng muốn sắp xếp thứ tự cho chúng. Vì vậy tôi xin kể một kỷ niệm với một nhóm người đồng cảnh.
Cuối năm 1990 không ít người Việt Nam lao động tại CHDC Đức cũ đành lòng phải hồi hương vì nhà máy phá sản, rơi vào tình trạng thất nghiệp. Luật pháp Đức quy định nhà máy phải trợ cấp cho mỗi người hồi hương 3000 Mark Đức cùng với 3 tháng lương. Một buổi sáng tại cơ quan, tôi nhận được thông tin có mấy chục công nhân Việt Nam sẽ phải bay về nước chiều hôm đó, trong khi nhà máy từ chối không trả cho họ số tiền quy định. Cùng một số đồng sự, tôi huy động nhiều nhà báo, phóng viên đài, vô tuyến truyền hình dội xuống nhà máy những câu hỏi chính đáng. Tôi ra sân bay vận động hãng hàng không lùi chuyến bay trong lúc chúng tôi đang đấu tranh với nhà máy. Dưới sức ép dư luận sẽ xảy ra và nguy cơ đền bù thiệt hại do phải huỷ chuyến bay, nửa tiếng đồng hồ trước giờ cất cánh ban giám đốc nhà máy xuất hiện tại phi trường, thanh toán toàn bộ số tiền phải trả cho từng người. Nhiều phụ nữ khóc khi nhận khoản tài sản lớn tưởng như đã mất đứt. Tôi đã vui nhiều ngày vì làm được một việc mà chính mình cũng không tin sẽ thành công.
Cộng đồng người Việt ở Berlin hiện nay ra sao? 

Nguyễn Văn Hương: Người Việt ở Đức sống hiền lành, chăm kiếm tiền cho gia đình. Người Đức biết người Việt chủ yếu là những người đặc biệt cần cù trong ngành phục vụ, nhưng hay kêu ca người Việt giấu mình quá kín. Vài năm trở lại đây, người Việt ở Berlin rất chăm xem VTV4 và các chương trình truyền hình thể thao. Berlin có ít nhất hai khu chợ Việt lớn, là nơi nhiều nguời Việt thích đến để giao lưu với nhau. Những người Việt rời quê hương sang Đức hồi thập kỷ 70, 80 thế kỷ trước sắp hết tuổi lao động. Nguy cơ tương lai nhiều người trong số họ sẽ cô đơn, dù ở hay về.
Người Việt thế hệ thứ hai, thứ ba được xã hội cho là nhóm ngoại kiều có năng lực nhất trong trường học. Nhưng nói thực, tôi thấy rất thiếu những người trẻ để tâm học những nghề khoa học phục vụ trực tiếp cộng đồng người Việt, như tâm lý học, y học, chăm sóc người già… Sự cọ xát giữa các thế hệ người Việt trong một gia đình nằm giữa khung văn hoá Âu châu nhiều khi dẫn đến hoàn cảnh trớ trêu. Giữa những thuyền nhân và người đi học, đi làm từ chế độ miền Bắc còn tồn tại một khoảng cách rất rõ. Tiếp xúc với nhau hầu hết là một sự bất đắc dĩ cho cả hai phía.
Berlin hiện nay không những là nơi tập trung đông người Việt nhất trên toàn nước Đức, mà có vẻ như cộng đồng người Việt tại đây ngày càng phát triển nhanh về số lượng. Ông nghĩ sao về hiện tượng này?
Nguyễn Văn Hương: Cộng đồng người Việt ở Berlin sẽ tiếp tục tăng dân số, do đón vợ chồng từ Việt Nam sang, sinh con đẻ cái ở đây. Chuyện này rất bình thường. Không bình thường là hiện tượng quá nhiều thanh thiếu niên Việt Nam vị thành niên sang Berlin đặt đơn xin tị nạn chính trị, trong khi không biết cha mẹ họ thực sự đang ở đâu. Cuộc đời, số phận mà họ kể với các cơ quan, tổ chức Đức nghe đau thương, ly kỳ khủng khiếp.
Năm ngoái, sau Hội thảo Berlin lần thứ nhất về Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (UN-Convention on the rights of the child), bốn nhóm chuyên gia Berlin được thành lập để khảo sát bốn lĩnh vực thì ba trong số đó thuộc về lý thuyết chung. Nhóm thứ tư không khảo sát vấn đề nào khác là “Trẻ em Việt Nam đi tị nạn một mình”. Hội thảo Berlin lần thứ hai sắp diễn ra vào thượng tuần tháng Mười Một năm nay lại cũng có riêng một ban chuyên báo cáo và thảo luận đề tài này.
Ông có thấy rằng nước Đức ngày nay là một đất nước thống nhất thực sự về mọi mặt?
Nguyễn Văn Hương: Tôi dám chắc những người Việt trung thực không kết luận rằng Việt Nam ngày nay sau 1975 đã hoàn toàn thống nhất về mọi mặt. Quá trình thống nhất hai nhà nước Đức bắt đầu từ cuối 1990 còn cần nhiều thời gian. Hậu quả nền chính trị và chính sách kinh tế CHDC Đức để lại rất nặng nề, nhiều năm nữa vẫn chưa khắc phục hết được. Ai qua những thành phố nhỏ, thị trấn của Đông Đức ngày nay cũng nhìn thấy cảnh hoang tàn vì công xưởng bỏ trống, ngưòi thất nghiệp đông, nhiều nhà cửa chưa được tu sửa lại theo chuẩn mới.
Một dẫn chứng cụ thể cho sự thiếu thống nhất là sự khác biệt của lương cho cùng một công việc chỉ vì một việc làm ở Đông, một việc làm ở Tây, tính theo địa giới hành chính trước khi nước Đức thống nhất. Berlin bây giờ là một thành phố, phải không ạ? Nếu cơ quan tôi nằm ở Đông Berlin thì tôi sẽ nhận số lương chỉ bằng khoảng 92% số lương tôi nhận khi cơ quan tôi nằm ở Tây Berlin. Năm ngoái cơ quan tôi sửa nhà, tạm rời sang một phố bên Đông Berlin, vậy là lương tôi năm ngoái ít hẳn đi, các chế độ thưởng cũng giảm mạnh. Trong nhiều ngành kinh tế thậm chí lương trả cho cùng một công việc ở phần Đông Đức chỉ bằng 80% lương ở Tây Đức, mà thời gian quy định phải làm việc ở Đông còn nhiều hơn ở Tây.
Ngoài ra, những định kiến về văn hoá, lối sống giữa dân Đông và Tây Đức sau 20 năm sáp nhập giảm không đáng kể. Không mấy ai dễ dàng rũ bỏ lai lịch, xuất xứ của mình trong chốc lát, việc thống nhất nhân dân hai nước Đức kéo dài là tất yếu. Cái may là hiếm có chính trị gia Đức nào phủ nhận điều này. Họ nhận thức được vấn đề và cùng cả xã hội tìm cách giải quyết. Các công đoàn và nhiều đảng chính trị thường xuyên đấu tranh cho sự nâng Đông Đức lên ngang bằng với Tây Đức.
Nếu có một mong ước cho người Việt tại Berlin và nước Đức nói chung, ông sẽ nói gì?
Nguyễn Văn Hương: Tôi mong người Việt Nam thế hệ thứ nhất ít phải lo toan hơn nữa về kinh tế để có ý thức và thời gian dành cho cuộc sống văn hoá, cuộc sống chính trị xung quanh mình nhiều hơn. Tôi cho rằng một cuộc sống văn hoá-xã hội ở Đức mà chỉ trụ trên chương trình truyền hình Việt Nam và sách báo nhập vào từ Việt Nam sẽ dẫn đến tình trạng phiến diện, về lâu về dài khó tha thứ được.
Còn nước Đức đã giàu rồi, không nhất thiết phải mỗi ngày giàu hơn, nhưng nền kinh tế nên vững chắc, xã hội phải ngày càng công bằng hơn. Và tôi mong nước Đức sẽ có nhiều biện pháp mạnh giảm thiểu những yếu tố huỷ hoại môi sinh, môi trường trong công, nông nghiệp. Tôi lo, không biết vài chục năm nữa thôi thế giới có còn không khí sạch, đất sạch, nước sạch mà sống không?

Xin cảm ơn ông và chúc ông có một ngày lễ vui vẻ trong dịp kỷ niệm này. 

© 2009 Mạnh Cường Vũ &amp; Nguyễn Văn Hương
© 2009 talawas blog
Create PDF 


Phản hồi

2 phản hồi (bài “Nguyễn Văn Hương – Lần đầu tiên tôi được chứng kiến sức mạnh lốc bão của nhân dân, của chân lý”)



 hangoc nói: 
05/11/2009 lúc 9:45 sáng
Câu chuyện hòa nhập vào xã hội Đức của tôi truân chuyên hơn đôi chút, có thể kể ra lấy chút thông tin cho những ai chưa biết.Ngày ấy tôi đang làm việc ở một xí nghiệp xây dựng thì tình hình biểu tình bên Đông Đức sục sôi lên cao điểm, cơ quan đóng cửa; đột nhiên cả nhà không có thu nhập, không biết vài hôm sau nữa sống bằng gì.Hàng xóm khuyên tôi nên nhập quốc tịch (CHDC) Đức để tránh những vấn đề có thể xảy ra với ngoại kiều mà không ai tiên lượng được. Tôi ra Sở cảnh sát trình bày, nhưng ở thời điểm đó họ cũng chẳng có một lời khuyên nào cụ thể.Ở CHDC Đức ngày đó có một cơ quan tên là Sở lao động (Arbeitsamt) nhưng không giống Sở lao động ở Tây Đức, nghĩa là họ không lo công ăn việc làm hay trợ cấp cho người thất nghiệp (XHCN làm gì có người thất nghiệp!). Tôi đi kiếm đủ việc làm vớ vẩn kiếm sống. Một bữa thấy trong hòm thư có một bưu thiếp của Sở cảnh sát mời lên để nói chuyện. Dòng chữ trong đó – nếu ai không rành tiếng Đức và không sống ở Đông Đức sẽ không hiểu ý nghĩa của nó – cho biết tôi cần trình diện “wegen Klärung eines Sachverhalts”; thực ra là một nội dung trung tính và quan liêu khô khan, nhưng thường là không có ẩn ý tốt đẹp gì. Tôi vứt bưu thiếp vào ngăn kéo và không trình diện: cảnh sát Đông Đức thời đó còn tồn tại vài ngày nữa là cùng.Mấy tháng sau, khi đã có công việc ổn định bên Tây Đức, tôi đến cảnh sát để chuyển địa chỉ, nhân tiện đem cả tờ thiếp để hỏi xem ngày đó người ta cần gì ở tôi. Thì ra đó là giấy gọi tôi lên nhận quốc tịch CHDC Đức – nhà nước XHCN ấy trước khi tàn lụi còn có một nghĩa cử tốt đẹp với số người lao động nước ngoài.Rất nhiều năm sau đó tôi mới “truy lĩnh” vụ quốc tịch đó một cách suôn sẻ. Thủ tục lâu la nhất là từ bỏ quốc tịch Việt Nam, và đơn xin phải nộp cho sứ quán ta để chuyển tiếp về phủ chủ tịch trong nước. Thời gian đợi khoảng 1-1,5 năm nếu tôi không nhầm. Do cần sớm tấm hộ chiếu Đức để sang Canada làm việc nên tôi đành phải chấp nhận một thủ tục “bôi trơn” ở phủ chủ tịch, một việc khuất tất trước khi bước chân vào một xã hội ít khuất tất hơn vạn lần.



 vantruong nói: 
05/11/2009 lúc 2:29 sáng
Một bài viết hay (très intéressant) những chứng nhân trực tiếp người Việt thời đó ở Đông Âu cũ nên lên tiếng nói. Cám ơn nhiều.
]]></description>
            <pubDate>2009/11/06 16:15:40</pubDate>
            <guid><![CDATA[NƯỚC ĐỨC - NƠI CÁC CON, CHÁU TÔI ĐANG SINH SỐNG ...:511]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[BÁM MẶT TIỀN !!!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=506]]></link>
            <description><![CDATA[Câu chuyện khoa học:
&#39;Loa phường&#39; xứ ta, xa lộ xứ người
Cập nhật lúc 14:51, Thứ Tư, 04/11/2009 (GMT+7)

,

-&nbsp;Chừng nào tiếng loa phường còn ra rả ngày đêm, chừng nào những bức tường chống ồn chưa xuất hiện, sẽ chưa có sự chuyển biến thực sự trong nhận thức, trong ứng xử đúng mức với những tác hại của ô nhiễm môi trường tiếng ồn...&nbsp;Chuyện chiếc loa phường ở ta, ngay giữa thủ đô Hà Nội, rôm rả trên báo chí trong những ngày gần đây, bỗng đeo đẳng người viết bài này trong chuyến hành trình xa. Không chỉ gợi nhớ một thời “gian lao mà anh dũng”, còn day dứt về một điều rộng hơn của hiện tại, chuyện ứng xử với ô nhiễm môi trường của thời “a còng”.&nbsp;Những bức tường chống ồn xa lộ&nbsp;Cùng lúc chiếc loa phường đang là nạn nhân của cuộc mổ xẻ, tôi có dịp đi lại trên những tuyến đường Tây Âu, những xa lộ, cao tốc liên tỉnh, liên quốc gia với một chiếc xe nhỏ. Và thực sự ấn tượng với những bức tường chống ồn dọc những con đường ấy.&nbsp;









Những bức tường giảm&nbsp;âm&nbsp;đa phong cách từ gạch, kính, bê tông, đá, đất, gỗ v.v…Tạo dáng bắt mắt như công trình mỹ thuật, hình vẽ ngộ nghĩnh trên bức tường kính trong, thảm hoa dây leo đỏ rực bám vào tường gạch dài hàng cây số… ở Pháp, Hà Lan, Đức, Bỉ... Ảnh: TTMCứ chạy qua mỗi một chung cư ở ngoại ô Paris hay Frankfurt, một “làng” nằm giữa cánh đồng cỏ mênh mông dọc những con đường dẫn đến Bruxelles, Amsterdam hay Bonn…, tôi lại ngắm nhìn hoặc chụp ảnh những bức tường giảm âm, phương tiện giảm tác hại tiếng ồn xe cộ qua lại đến sức khỏe những người sống ở ven đường (Bảng 1).&nbsp;



Các tác hại của ô nhiễm môi trường tiếng ồn&nbsp;1. Ảnh hưởng tai, nếu tiếp xúc lâu ngày với tiếng ồn, có thể dẫn đến khả năng nghe, phân biệt âm thanh. Nếu nặng, rách màng nhĩ.&nbsp;2. Rối loạn giấc ngủ (từ 35 dBA).&nbsp;3. Tăng rủi ro nhồi máu cơ tim (chịu liên tục 70 dBA)&nbsp;4. Rối loạn cơ quan nội tiết.&nbsp;5. Ảnh hưởng học tập trẻ em Những bức tường cao 2,5-3 mét, dài vài trăm mét cho đến vài kilomet. Vật liệu đủ loại, những gạch, kính, bê tông, đá, đất, gỗ v.v…Tạo dáng bắt mắt như công trình mỹ thuật, hình vẽ ngộ nghĩnh trên bức tường kính trong, thảm hoa dây leo đỏ rực bám vào tường gạch dài hàng cây số…&nbsp;Đâu đâu, không xa lộ, cao tốc nào tôi đi qua lại thiếu vắng những bức tường chống ồn như vậy. Tôi biết chắc rằng, tình hình cũng tương tự ở các nước phát triển khác như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc v.v…. Trên các trang website có thể tìm thấy những trang giới thiệu hình dáng thiết kế những loại tường ở các nẻo đường nước Mỹ từ thập niên 80 của thế kỷ trước.&nbsp;Tiêu chuẩn ô nhiễm tiếng ồn đã được đưa vào luật pháp ở nhiều quốc gia hàng chục năm nay. Người dân hiểu rõ điều đó, họ biết đòi hỏi nhà cầm quyền phải thực thi và yêu cầu pháp luật bảo vệ. Trước khi xây dựng một xa lộ đi qua, dân cư vùng lân cận phải được xem xét dự án chống ồn, họ không chấp nhận thì con đường không thể xây được. Chính một dự án xây đường tàu điện chạy ven thành phố Darmstadt, bên cạnh khu nhà tôi đang ở, đã phải hủy vì thiết kế tổng thể của nhà đầu tư không đáp ứng nguyện vọng hợp lý của dân chúng.&nbsp;Xa lộ ở ta, bao giờ?&nbsp;Đó là điều băn khoăn, có lẽ, của không ít người. Cho đến tháng 9 vừa rồi, khi đi trên đường cao tốc ra sân bay Nội Bài, tôi vẫn không thấy đâu một đoạn tường chống ồn như ở xứ người. Ở những địa phưong khác, Thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cũng thế.&nbsp;Không phải nước ta chưa có luật lệ! Tiêu chuẩn quốc gia về tiếng ồn (xem bảng 2) đã có từ hơn 10 năm trước. Theo tiêu chuẩn đó, các xa lộ đi qua khu dân cư bình thường không được vượt quá 60 dBA vào ban ngày và 50 – 55 dBA vào ban đêm.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bảng 2: Tiêu chuẩn tiếng ồn TCVN 5949 - 1998&nbsp;




&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Thời gian&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 6h-18h&nbsp;&nbsp;&nbsp;18h-22h&nbsp;&nbsp;22h-6h&nbsp;1. Khu vực&nbsp;đặc biệt yên tĩnh&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 50dBA&nbsp; &nbsp;&nbsp;45&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;40&nbsp;2. Khu dân cư/khách sạn/cơquan&nbsp;&nbsp; 60&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;55&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;50&nbsp;
3. Khu dân cư xen kẽ khu kinh tế&nbsp; &nbsp; 75&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;70&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 50 Cũng chẳng phải vì môi trường tiếng ồn ở nước ta không có vấn đề gì! Nhiều nhóm khảo sát môi trường đã đưa ra những thông số (Số liệu của Cục BVMT.2007) đến mức đáng báo động. Ở Hà Nội, mức độ tiếng ồn ở một vài đoạn đường đi qua khu vực dân cư đông đúc như sau: 80 dBA (khu Sài Đồng, Quốc lộ 5), 77 dBA (Giáp Bát, QL 1). Ở TP. Hồ Chí Minh: 78 dBA (đoạn vòng xoáy Phú Lâm, đường 3/2) và 82-85 dBA (Ngã tư Điện Biên Phủ - Đinh Tiên Hoàng).&nbsp;Rõ ràng, mức ô nhiễm tiếng ồn nói trên là rất cao, vượt quá nhiều so với mức giới hạn Tiêu chuẩn Quốc gia. Số liệu khảo sát cũng cho thấy mức tiếng ồn cao ở các tuyến giao thông thuộc các địa phương khác. Cùng với đà phát triển đất nước, tình trạng đó ngày càng nghiêm trọng.&nbsp;






Những bức tường giảm âm trên xa lộ. (Ảnh minh họa)Trong khi đó, những biện pháp hạn chế nguồn gây ồn, kiểm soát các phương tiện giao thông ở nước ta quá lỏng lẻo. Các lệnh cấm dùng còi to, giờ và đoạn đường cấm bóp còi, cấm lưu hành xe quá thời hạn sử dụng, không được chấp hành nghiêm túc, chưa tạo nên một nếp sống văn hóa giao thông trong dân chúng.&nbsp;Điểm yếu khác nữa là tác hại do môi trường tiếng ồn&nbsp;cũng chưa được nhận thức sâu rộng trong cộng đồng. Phải chăng, đó cũng là một trong những lý do để các nhà quản lý chưa quan tâm đúng mức và người dân chưa có tiếng nói mạnh mẽ đòi được đáp ứng một trong những tiêu chuẩn môi trường sống của mình.&nbsp;Chừng nào tiếng loa phường còn ra rả ngày đêm, chừng nào những bức tường chống ồn chưa xuất hiện, sẽ chưa có chuyển biến thực sự trong nhận thức, chưa ứng xử đúng mức với những tác hại của ô nhiễm môi trường tiếng ồn… và với cả những tác hại từ các dạng ô nhiễm môi trường khác đang đe dọa mọi người.&nbsp;Kết luận&nbsp;Một dân tộc càng văn minh, các yêu cầu về chất lượng sống càng cao và số tiêu chuẩn môi trường sống càng mở rộng. 
Bắt đầu từ những tiêu chuẩn thiết thân như độ sạch của khí thở, nước uống, tiếp theo là an toàn vệ sinh lương thực thực phẩm. Cao hơn là những tiêu chuẩn có ảnh hưởng lâu dài đến con người như liều chiếu xạ tự nhiên, hàm lượng khí độc hại Radon trong nhà ở v.v… Môi trường tiếng ồn đối với dân cư cũng đã nằm trong danh sách này. 
Đất nước muốn nhanh chóng trở thành quốc gia phát triển, dân tộc muốn sớm được xem là văn minh, không thể không triệt để thực thi Bộ Luật Bảo vệ Môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, nhanh chóng biến những trang giấy “trong tủ kính” thành hành động trong đời sống, thành văn hóa sống của cả cộng đồng.&nbsp;


Trần Thanh Minh

Nguồn :VNN]]></description>
            <pubDate>2009/11/05 07:05:01</pubDate>
            <guid><![CDATA[BÁM MẶT TIỀN !!!:506]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[ĂN GHÊ QUÁ !!!]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=505]]></link>
            <description><![CDATA[Bão không chỉ đến từ trời
Tác giả: Nguyễn Lâm Cúc
Bài đã được xuất bản.: 11 giờ trước
&nbsp;

Bên ngoài mưa bắt đầu nặng hạt. Mưa hoài, chán! Có người nói, bão trên quê hương tôi không chỉ đến từ trời!
Hôm nay tôi được mượn đi theo để tính tiền cho một cuộc tiếp khách.
Khi mới khởi hành, đoàn chúng tôi có 5 người. Thế nhưng lúc bia rót vào ly thì mâm nhậu đã lên đến 11 người, điện thoại vẫn chưa ngừng réo anh Năm, anh Ba. Rồi các anh Năm, chú Tám, anh Hai, anh Tư đã uể oải đến, bệ vệ ngồi xuống mâm nhậu khiến cho nhiều người thóm róm và hãnh diện, nhiều người thầm ganh ghét trong lòng. Tiệc tan, tôi là người ra về sau cùng.





Ảnh minh họa: Vietbao
Đây là lần thứ mấy tôi có mặt những bữa nhậu lênh láng như thế này cũng không nhớ nổi. Nhưng chắc chắn, đây chưa phải là lần sau cùng. Tôi vừa nghĩ như thế, vừa kiểm bia trong các thùng mở toang hoác để chầu chực bốn chung quanh. Trời ạ, bia lon hiệu Heniken vừa bung nắp vung vãi khắp mặt bàn và cả ở dưới gầm bàn. Tất cả mọi chiếc ly đều còn đầy bia, có ly bia tràn cả ra ngoài. Đĩa thịt Kỳ đà xào sả ớt vơi gần hết. Thố Baba hầm thuốc bắc còn một nửa. Chén gà ác ninh táo khô, cam thảo cũng mới vơi lưng lửng, những chiếc đầu gà đen thui, nằm nghẹo cổ buồn thiu. Còn nồi lẩu hải sản thì gần như chẳng ai đụng đến. Thật là một sự thừa mứa phí phạm!
Chủ quán đem ra tờ hóa đơn trên 5 triệu bạc. Nghĩa là bữa nhậu hơn một tấn lúa. Tết Kỷ Sửu vừa rồi, tôi nhớ lúa có hai ngàn tám mà nhà cậu Chín phải đi năn nỉ người ta mới mua dùm cho để có tiền ăn tết. Một lon bia giá trên hai mươi ngàn đồng, nghĩa là ba ký gạo trắng thơm phức, nghĩa là gần chục ký lúa. Những ký gạo trắng ấy, những hạt lúa mà cậu Chín lăn bùn quanh năm mới có được, chủ quán đang đổ ào ào vào thùng nước bẩn.
Tôi nhớ đến bọn trẻ lang thang lượm rác tôi vẫn gặp mỗi ngày trên đường, bọn chúng thường nhịn đói bữa trưa là xin nước uống qua cơn ở bất kỳ giếng nước thơm thảo nào.
Ra về, trời đã khuya, đường vắng tanh. Tôi vừa chạy vừa nhớ về một cuộc nhậu khác. Dạo nọ, một vị trưởng phòng (phòng nhỏ nhỏ thôi) đã nổi hứng sau cử nhậu trưa, xách xe con của cơ quan chở dăm bảy người vượt trên 200 km đường đèo, đến Hồ Tuyền Lâm - Đà Lạt, nhậu tiếp. Những chiếc ca nô ngược hồ Tuyền Lâm cập bến vào đâu đó trong rừng thông đại ngàn của Đà Lạt. Dưới bóng thông ẩn những mái tranh kiểu cọ đầy vẻ mời mọc và có đủ các món ăn chơi chiều đãi quí thượng đế lặn lội đến nơi này.
Nhóm mà tôi nhắc đến đã chọn một gian quán ấm cúng, thuê trọn gói. Họ gọi một con heo rừng, loại heo sữa cắt tiết pha rượu mật gấu, và nấu cháo. Một người đi theo giám sát việc làm heo. Nhưng đến khi cậu phục vụ còm nhom, có nước da vàng bủng, bưng nồi cháo bốc khói dọn ra bàn. Nhiều cặp mắt soi mói nhìn vào nồi, họ lật nghiêng, lật ngửa con heo nằm cong bên trong rồi phán: Mất mẹ nó miếng đùi rồi! Gã đàn ông mặc áo sọc ca rô đen đỏ, vục nguyên bàn tay vào nồi cháo lôi con heo ra, gật gù bảo đúng đúng, mất mẹ nó miếng thịt chỗ này này. Chủ quán được gọi đến. Anh phục vụ run như thằn lằn đứt đuôi, cúi mặt đứng lặng thinh một bên và nhận không biết bao nhiêu lời sỉ vả. Cuối cùng, nồi cháo không thể ăn hết, bởi họ còn phải xơi cái đầu heo luộc, bộ lòng xào củ riềng...
Khi tất cả mọi người xuống canô trở về, họ đã gặp cậu phục vụ kia với túi xách quần áo trên tay, ngồi khép nép ở cuối đuôi thuyền. Cậu ta đã mất việc. Hóa đơn buổi ăn chơi đó cho dăm người là hai tám triệu đồng (chưa kể một người bị hất ra lề đường)
Hai hôm trước, tôi lại có dịp tham dự cuộc họp tại đơn vị nọ, họ đang bàn việc quyên góp cứu trợ đồng bào bão lũ miền Trung. Vị trưởng phòng cất giọng hết sức thống thiết để nói về nỗi khổ của bà con vùng thiên tai gió quật, nước càn. Một người đàn ông mặc quần áo công nhân đứng đề nghị mỗi người góp một trăm ngàn, còn ai có hảo tâm góp nhiều hơn thì không nên hạn chế mức đóng góp. Tiếng nói của người bảo vệ va phải một sự im lặng lạnh như nước đá.
Vị trưởng phòng cất tiếng đầy vẻ thông cảm, thấu hiểu: Năm nay do khủng hoảng kinh tế, các đơn vị đều báo đỏ kinh phí, đơn vị chúng ta cũng khó khăn không kém. Chúng ta lại đã có hàng trăm cuộc đóng góp quanh năm, vì vậy để chia sẻ với đồng bào bão lũ miền Trung lần này chúng ta đành gửi đến họ tấm lòng và món quà tượng trưng, tôi đề nghị toàn đơn vị ủng hộ mỗi người mười ngàn đồng...?! Tiếng vỗ tay lẹt đẹt vang lên. Mười ngàn đồng được trừ từ tiền lương tháng đến.
Mọi người rời khỏi phòng họp, riêng bộ phận tài vụ ở lại để hợp thức hóa thanh toán những cuộc nhậu lênh láng từ năm trước kéo sang năm nay và còn dài dài về sau.
Bên ngoài mưa bắt đầu nặng hạt. Mưa hoài, chán!
Có người nói, bão trên quê hương tôi không chỉ đến từ trời!
Nguồn : Tuần việt Nam - VNN]]></description>
            <pubDate>2009/11/04 18:58:30</pubDate>
            <guid><![CDATA[ĂN GHÊ QUÁ !!!:505]]></guid>
         </item>         <item>
            <title><![CDATA[HÀ NỘI TRÊN ĐƯỜNG ĐÔ THỊ HÓA...]]></title>
            <link><![CDATA[http://vn.myblog.yahoo.com/vucquanh/article?mid=501]]></link>
            <description><![CDATA[Quy hoạch đô thị: &quot;Nhanh - Nhiều - Rẻ thì không Tốt&quot;
Tác giả: Nguyễn Trọng Huấn
Ngày đăng: 30/10/2009 06:00 GMT+7

&nbsp;
&nbsp;

Hiện trạng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là nạn nhân của cách phát triển đô thị theo phương pháp &quot;nở nồi&quot;. 
LTS: Bài viết tiếp theo của KTS Nguyễn Trọng&nbsp; Huấn trong chừng mực giúp độc giả bình tĩnh nhìn lại cách chúng ta xây dựng và phát triển đô thị quãng thời gian từ 1954 đến 1975.
Trước ngày thống nhất: Hà Nội tuy nghèo, nhưng thật đẹp!
Ngay sau tiếp quản thủ đô, một khu ở bằng gỗ, ngoài đê sông Hồng dành cho cán bộ được dựng gấp, đón lực lượng cán bộ từ chiến khu về, từ miền Nam tập kết ra, phần lớn xuất thân từ những làng quê vùng tự do, theo cách gọi hồi ấy.
Tập quán nông thôn và nếp sống đơn giản những ngày kháng chiến dễ dàng chấp nhận cách sống mỗi hộ một phòng, không bếp, không xí. Khu công cộng là một bể nước lớn, dùng chung. Rửa rau, vo gạo ở đấy, tắm giặt, vệ sinh cũng ở đấy. Mấy bà nội trợ ngày nào cũng gặp nhau, hôm nào nhà nào ăn gì, cả xóm đều biết. Chỉ kẹt mỗi sáng cả khu cùng đi cầu. Phải đợi. Sợ trễ giờ làm, có người nhăn nhó, nhưng cũng không xảy ra chuyện gì. Không khác bao nhiêu những ngày còn ở trong làng, trong rừng. Chẳng ai phàn nàn kêu ca.





Công viên Thống nhất khi vừa hoàn thành. Ảnh: hanoi.gov.vn
Công viên Thống nhất là một nét son, mọc lên từ vùng hồ ao trũng thấp phía nam thành phố với công sức của hàng triệu ngày công lao động xã hội chủ nghĩa. Một không gian rộng rãi, thoáng đãng, nước biếc, cây xanh, có liễu rủ bên hồ, có cầu qua đảo... hiện hình như từ trong cổ tích.
Câu lạc bộ Thống Nhất phố Hàng Trống, xung quanh hồ Gươm, thứ bảy, chủ nhật, người miền Nam tập kết tìm nhau đông như trẩy hội.
Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật &nbsp;của nhân dân lên cao. Sức chứa của Nhà hát lớn Hà Nội trở nên bé nhỏ, mấy đoàn cải lương bắc: &quot;Kim Chung&quot;, &quot;Chuông vàng thủ đô&quot;, rạp bé, cũ, suất diễn ít, không đủ đáp ứng. Phải xây thêm Nhà hát Nhân dân bằng gỗ để các Đoàn Cải lương Nam Bộ, Đoàn Tuồng liên khu Năm trình diễn.
Hà Nội quen dần phương thức sống mới, pha trộn gữa cách sống thị thành của cư dân tại chỗ và cách sống làng xã được cán bộ kháng chiến du nhập về. Sau này, như một nhà nghiên cứu người Pháp, Francois Corèse nhận xét: &quot;Hà Nội là một thành phố chấp nhận những mảng làng quê trong lòng đô thị&quot;.
Hà Nội tuy còn nghèo, nhưng thật đẹp.
Hồ Gươm giữa lòng thành phố như một đoá phù dung, đổi sắc theo vòng quay nhật qũy, sáng trắng, trưa hồng, chiều đỏ, ngả tím khi đêm về. Bóng cổ thụ nghiêng mình, la đà mặt nước. Hoa lộc vừng trải thảm dưới chân đi. Những hàng cây trên nhiều con phố, phủ bóng râm che mát khách bộ hành. Hồ Thiền Quang, hồ Tây, như những chiếc gương phản chiếu trời mây. Thu về, sương giăng, những cây bàng trút lá khắc lên trời xám một bức tranh thủy mặc. Thiên nhiên đẹp như tranh mà những toà biệt thự bên hồ là những nét chấm phá, thêm vào.
Cả xã hội cùng chí hướng, cuộc sống vô lo và cũng thật đáng yêu!
Phát triển kiểu &quot;nở nồi&quot;
Là thành phố thuộc địa &nbsp;của chế độ thực dân, Hà Nội là bản sao của mô hình đô thị tư bản. Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa bắt đầu. Quốc hữu hoá, cải tạo công thương nghiệp, công tư hợp doanh, xoá bỏ tư thương làm ăn cá thể. Cải tạo tư sản nhà đất. Trưng thu, trưng mua, Nhà nước thống nhất quản lý, phân phối lại. Chia nhà cho cán bộ trong biên chế. Những biệt thự cũ thiết kế cho một gia đình, nay là chỗ ở cho bốn, năm hộ. Cuộc &quot;phá phách&quot; bắt đầu.
Cơi nới, ngăn chia, chắp vá, đục khoét sao cho vừa với sức chứa bỗng tăng lên đột biến. Có sự phân hoá và phản ứng, nhưng trước một Điện Biên long trời lở đất như vừa mới xảy ra hôm qua, người Hà Nội ngơ ngác, chờ đợi. Trong khi bộ mặt đô thị không cần chờ đợi, xuống cấp từng ngày.





Trong những năm sau hòa bình lập lại, Hà Nội bắt đầu có chung cư cao tầng.Ảnh minh họa: Khu tập thể Kim Liên (hanoi.gov.vn)
Khu nhà ở 5 tầng đầu tiên lắp ghép bằng panen được chuyên gia Triều Tiên giúp, theo mô hình đô thị Xô viết do chuyên gia Liên Xô hướng dẫn làm quy hoạch, xây dựng ở Kim Liên. Trên một cánh đồng ngoại vi, mọc lên những ngôi nhà 5 tầng khang trang, niềm tự hào &nbsp;của một Hà Nội mới, Hà Nội xã hội chủ nghĩa. Có khu gia đình cho cán bộ cao cấp, cũng có khu tập thể cho cán bộ độc thân, sinh viên mới ra trường. Dành một số nhà làm khu chuyên gia, sau này thành khách sạn du lịch.
Khu tập thể Kim Liên là khu ở theo hình thức đô thị xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Hà Nội, coi như thị phạm. Còn lại, phần lớn vẫn là phố xá nội thành, kiểu cũ, cộng thêm một số khu tập thể theo cơ quan như thời kháng chiến: Khu Văn công Cầu Giấy, khu Đoàn Ca múa Tây Nguyên, khu tập thể Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục.... nhà tranh tre nứa lá như thời còn chiến khu. Hình thức cư trú này mãi đến 30 tháng 4 năm 1975, vẫn tồn tại.
Cách làm này để lại một bài học cho các thành phố khác, phát triển theo phương pháp &quot;nở nồi&quot;. Trên hệ thống giao thông của thành phố cũ, nống rộng ra. Cách làm này có hiệu quả kinh tế vì đầu tư rẻ, nhưng sẽ trở thành nguy hiểm nếu không biết điểm dừng.
Cơ sở hạ tầng không phát triển, những khu xây mới tăng áp lực lên hệ thống kỹ thuật hiện có, gây quá tải, và đổ không biết bao nhiêu tiền mà chẳng thấy bộ mặt đô thị mới ở đâu. Hiện trạng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là nạn nhân của cách làm này.
Việc những đồ án quy hoạch chung, dài hạn, dự báo cho sự phát triển đô thị 25 năm sau có gì đó giống những giấc mơ để những người làm quy hoạch còn rất nhiều bỡ ngỡ tập dượt nghề nghiệp, và trong những trường hợp nhất định, giải quyết địa điểm cho một số công trình xây dựng có yêu cầu. &quot;Quy hoạch phục vụ thiết kế, thiết kế phục vụ thi công&quot; là khẩu hiệu chỉ đạo công tác thời gian này. Còn cuộc sống thực tế một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh phát triển theo một quy luật khác, một hình thái khác.
Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mới phôi thai, các nhà máy quy mô nhỏ, công suất thấp, không cung ứng đủ cho tiêu dùng xã hội. Hợp tác xã nông nghiệp diễn ra rầm rộ nhưng người nông dân không quen với chế độ công điểm. Năng suất, sản lượng tụt dần. Gạo bán theo định mức. Bắt đầu nhập lương thực, ăn độn ngô, sắn, bột mỳ, tóm lại có gì ăn nấy, chống đói trước đã. Chế độ tem phiếu được áp dụng rộng rãi.
Bỡ ngỡ lúc đầu rồi cũng quen. Mọi người đều có công ăn việc làm, đều nghèo như nhau. Không ai dư thừa, thiếu thốn chút ít nhưng cũng công bằng. Hoàn toàn không có việc tự xây dựng nhà cửa. Hãy đợi đấy, đã có Nhà nước lo.
Không còn một Hà Nội rực rỡ với những cửa hàng, dãy phố, tư thương làm chủ, đèn đóm sáng choang ngày bộ đội mới về. Hết thời buôn bán, những cửa hàng tơ lụa mậu dịch quốc doanh trên phố Hàng Ngang, Hàng Đào mở làm cảnh, không mấy ai đủ tiền và đủ dũng cảm ghé mua. Xem là chính. 20 giờ, cửa đóng, cả phố tối om. Bộ mặt đô thị tiêu điều, xơ xác.
Cần thay đổi nhận thức và rồi người Hà Nội thích ứng khá nhanh. Tất cả xếp hàng, cả ngày xếp hàng là một tập quán đô thị mới cần học. Xếp hàng mua rau, mua nhu yếu phẩm, mua phở, mua bia... &nbsp;Không có mặt thì nhờ xếp vào đấy một hòn gạch giữ chỗ. Thỉnh thoảng cãi nhau nhưng nhìn chung, mọi người tôn trọng quyền tồn tại hợp lý của hòn gạch, đại diện cho chủ nhân đang bận một việc gì đó ở một nơi nào đó.
Toàn dân đi xe đạp. Toàn dân mặc áo đại cán. Trận đá bóng quốc tế trên sân Hàng Đẫy, toàn sân vận động mặc áo bông xanh, tối om. May mà còn có hệ thống tàu điện bánh sắt để bà con lao động, chuyển những gánh hàng rau vào các chợ từ khu vực ngoại thành.
Mậu dịch quốc doanh te tái đóng vai bà nội trợ của toàn xã hội. Nhưng cung không đủ cầu. Chưa đến lượt mình, hàng đã hết. Ông già dù tóc râu có bạc nhưng chen ngang. Thằng bé được mẹ sai ra xếp hàng, không mua được cá được rau thì chiều nay ăn đòn. Thế là cãi nhau, thậm chí văng tục. Không tuổi tác gì ở đây! Tất cả bình đẳng trước mớ rau, con cá. Đạo đức xã hội xuống cấp, băng hoại bắt đầu từ nhưng việc rất nhỏ. Mà đã quá nhiều việc nhỏ như thế diễn ra. Do chiến tranh, hay vì môi trường đô thị? Không thể phân định rạch ròi. Có thể là do cả hai.
Chiến trường miền Nam ngày càng nóng. Lác đác những cán bộ tập kết lên đường đi B. Miền Bắc nghiến răng, dồn sức dồn người vì miền Nam thân yêu, vì một ngày thống nhất đất nước dẫu còn xa, nhưng sẽ đến.
Công cuộc xây dựng miền Bắc, hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn vẫn diễn ra với mọi nỗ lực. Tốc độ xây dựng đô thị có chậm lại nhưng những đồ án quy hoạch cho tương lai vẫn được tiến hành. Quy hoạch Vinh, Nam Định, Thanh Hoá, Việt Trì, Thái Nguyên, Hòn Gai và các thị xã tỉnh lỵ... vẫn được nghiên cứu, vẫn rực rỡ những giấc mơ hoa về một tương lai. Vẽ xong xếp lại, vẽ phương án khác, chờ thời cơ.
Dân số tăng nhanh, tăng sức ép lên nhu cầu nhà ở. Một vị lãnh đạo đi tham quan Triều Tiên về, học được kinh nghiệm nước bạn đưa ra sáng kiến xây nhà năm tầng không có khu phụ. Không có bếp, xí cho từng hộ thì không cần cấp thoát nước, tất cả tập trung dưới đất, bỏ cửa hai lớp kính chớp theo kiểu Tây, người sử dụng sợ nắng có thể mua rèm cửa che lại. Tiền tiết kiệm được từ những khu phụ ấy, có thể xây thêm một ngôi nhà, sức chứa tăng gấp đôi (?!).
Loại hình cư trú này không được tán thưởng, dù là được cấp, không phải mua. Dư luận công nhân tại khu công nghiệp Việt Trì khi được phân nhà tuyên bố: &quot;Ông nào vẽ kiểu nhà thì lên đấy mà ở, công nhân chúng tôi ra chân đồi, che cái lán&quot;. Không thể mỗi bữa lại bê nồi niêu xong chảo từ tầng năm xuống nấu, xong lại bê mâm cơm lên nhà, khúc củi cháy dở cũng phải dụi tắt, cắp nách mang lên, kẻo mất... và nhiều điều phức tạp khác nữa.
Người tiêu dùng không chấp nhận những thử nghiệm nóng vội, duy ý chí. Sau này, trong đời sống, mọi người được nghe một câu chuyện tiếu lâm không phải không hay về chủ trương này, hơi chua cay nhưng chính xác.
Mấy ông kỹ sư kết cấu học ở Liên xô về đưa ra giải pháp nhà lắp ghép tấm lớn, tấm nhỏ, đề xuất với Hà Nội cho thực hiện ở khu Văn Chương, khu Trương Định. Đáp ứng một phần sức ép về nhu cầu nhà ở đang gia tăng, gãi đúng chỗ ngứa, hy vọng mở một lối thoát. Về kết cấu, đấy là một giải pháp sử dụng từ lâu ở những nước có nền công nghiệp tiến bộ, kèm theo công xưởng hoá sản xuất cấu kiện đúc sẵn, ta chưa đủ sức làm. Vì vậy thí điểm vẫn chỉ là thí điểm.
Có thể coi là một bài học rút ra, kỹ sư kết cấu thiết kế kiến trúc nên không lường hết tính phức tạp và tế nhị của cuộc sống. Họ được đào tạo cho một chuyên ngành khác. Trong loại nhà này, tất cả nhu cầu đều tính ở mức tối thiểu, về sau đều bị biến dạng do người dân buộc phải thêm vào.





Khu&nbsp; tập thể Kim Liên những năm gần đây. Ảnh: Vietnamnet.vnTrong thiết kế, lốt-gia (logia) là một khoảng hiên nhỏ để trồng vài khóm hoa, chủ nhà có thể kê chiếc ghế xếp nằm đọc báo sau một ngày làm việc mệt mỏi. Khoảng không gian sang trọng này đồng loạt được thay đổi thành chuồng gà, thành gian bếp, thành kho. Diện tích căn hộ 24 m2 cho một gia đình từ 4 đến 5 người, tối thiểu cũng phải có một không gian nhỏ, kín đáo làm kho cất một núi chăn bông áo ấm khi mùa Hè đến. Tất cả những lốt - gia được vẽ theo thiện chí của người thiết kế đồng loạt được hàn khung sắt chống trộm để biến thành diện tích phụ, nồi niêu xoong chảo phô hết ra mặt tiền. 
Sau thống nhất, người miền Nam ra thăm thắc mắc mãi: &quot;Hình như người Hà Nội thích ở chuồng?&quot;. Loại hình &quot;chuồng cư trú&quot; ấy ở Hà Nội đến nay vẫn còn.
Thêm một thí nghiệm thất bại! Chỉ có điều, mấy ông kỹ sư giàu sáng kiến ấy nhanh chóng bước vào hàng ngũ lãnh đạo, còn thí nghiệm &quot;nhiều sáng kiến&quot; nữa, và mở đường cho một trào lưu sẽ nở rộ sau này: toàn dân làm kiến trúc. Ai cũng có thể tự thiết kế và xây dựng cho mình một ngôi nhà! Tính chuyên nghiệp trong thiết kế kiến trúc là một khái niệm xa xỉ.
Người ta có thể bỏ ra hàng trăm triệu để sắm một đôi sư tử đá, vận chuyển từ Ngũ hành sơn về, nhưng chi trả vài trăm triệu cho một đồ án thiết kế ngôi nhà bạc tỷ của mình là một sự hoang phí khó tha thứ! Còn nhà cửa, cứ gọi mấy ông thầu. Nghề thầu xây dựng của mấy ông tay ngang là một nghề kiếm được.
Bài học rút ra không biết có đủ làm kinh nghiệm? Hầu hết những thử nghiệm trong xây dựng đô thị mang tính &quot;hàn lâm&quot; của các nhà quy hoạch, học được từ nước ngoài đem về áp dụng đều không thành công. Nó không ra đi từ thực tiễn đất nước, một thực tiễn vô cùng phong phú, biến động theo những đặc thù riêng, không giống bất cứ nơi đâu trên thế giới này.
Hà Nội thử nghiệm phá bỏ hệ thống tàu điện bánh sắt, thay vào đấy, một số tuyến xe điện bánh hơi (troleybus) học được từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Cũng lại là cách làm tạm bợ của người nông dân đã quen trong thời chiến. Một dàn dây thép đỡ cáp truyền năng lượng xuống động cơ giăng mắc khắp phố phường, như một dàn bầu dàn bí vĩ đại.
Cái tồn tại có thể được rút ra là những sáng kiến của người dân, vì chính họ, không ai khác, biết rõ họ cần gì và có thể làm gì trong những hoàn cảnh cụ thể. Và bài học vỡ lòng ngay cả trong nền kiến trúc đương đại là sự kết hợp chặt chẽ giữa người thiết kế và người sử dụng. Quan hệ này là bình đẳng, nếu không muốn công trình bị biến dạng.
Bài học trong hợp tác cũng chính là bài học dân chủ. Không chỉ trong từng ngôi nhà mà đầu tiên, trước hết, phải trong quy hoạch đô thị. Vì nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, người dân sẵn sàng phá vỡ mọi tư duy &nbsp;của nhà quy hoạch. Mà lấy gì đảm bảo những &quot;phát minh&quot; của nhà quy hoạch là đúng? Hệ thống giao thông đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là một điển hình.
Chiến tranh phá hoại mở rộng ra miền Bắc. Nhiều thành phố bị dội bom, thị xã Đồng Hới và một số thị xã, thị trấn bị san thành bình địa, hệ thống cầu đường, các cơ sở công nghiệp, dẫu còn nhỏ bé, cũng bị đánh phá. Các cơ quan, trường học sơ tán về nông thôn, chuyển sang cuộc sống thời chiến. Lác đác một số kiến trúc sư quy hoạch tốt nghiệp ở Nga và một số nước xã hội chủ nghĩa lần lượt về nước. Không còn đô thị để nghiên cứu, chuyển sang quy hoạch nông thôn, đợi thời cơ.
Bài học: Nhanh - Nhiều - Tốt - Rẻ
Năm 1972, người Mỹ, trong nỗ lực cuối cùng, dùng B52 rải thảm Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, đánh vào các khu dân cư đông người nhằm làm nhụt ý chí quyết thắng &nbsp;của Việt Nam. Cả miền Bắc ghếch nòng pháo lên trời đánh trả. Hiệp định Paris ký ngày 27 tháng Giêng năm 1973, buộc toàn bộ quân đội Mỹ và đồng minh rút hết về nước.
Một không khí phấn chấn nhanh chóng truyền lan. Hà Nội trong hào quang chiến thắng &quot;rũ bùn đứng dậy chói loà&quot;. Bộ Xây dựng đẩy nhanh việc quy hoạch mở rộng thủ đô theo Nghị Quyết của Bộ Chính trị sang Bắc sông Hồng, đầm Vạc, Vĩnh Yên làm trung tâm mới. Mời 12 nước xã hội chủ nghĩa, mỗi nước giúp quy hoạch cho Việt Nam một thành phố.





Khu tập thể Khương Thượng những năm gần đây. Ảnh: nuocnga.netLiên Xô giúp quy hoạch thủ đô Hà Nội, Ba Lan giúp Hải Phòng, CHDC Đức giúp Vinh, Rumani giúp Nam Định và thị xã Phủ Lý, Hungari giúp quy hoạch Hòn Gai - Bãi Cháy, Bungari giúp thị xã Thái Bình, CHDCND Triều Tiên giúp thị xã Bắc Giang, Cu ba giúp quy hoạch thị xã Đồng Hới... 
Đoàn chuyên gia xây dựng của Đảng Cộng sản Nhật do đồng chí KTS NoRoLara - Moriaki làm trưởng đoàn sang ta giới thiệu kinh nghiệm xây dựng đô thị Nhật Bản, đóng góp ý kiến về quy hoạch xây dựng và cải tạo thủ đô.
Một kiến trúc sư Việt kiều từ Đan Mạch bay gấp về Hà Nội để kịp giới thiệu với kiến trúc sư Việt Nam những kinh nghiệm kiến trúc có giá thành tiết kiệm cho kịp tình hình tái thiết đất nước.
Một số công ty kinh doanh nhà Nhật Bản sang chào hàng nhà lắp ghép bằng vật liệu nhẹ. Khi ta đưa ra phương châm xây dựng của Việt Nam &quot;Nhanh - Nhiều - Tốt - Rẻ&quot; thì được giải thích: Nhanh - Nhiều - Tốt thì không thể Rẻ, còn muốn Nhanh - Nhiều - Rẻ thì không thể Tốt. Có lẽ bài học đơn giản ấy là bài học đầu tiên mà giới kiến trúc Việt Nam được tiếp cận với tư duy &quot;kinh tế thị trường&quot; lúc ấy còn rất xa lạ.
Viện Léningrad sang Hà Nội. Câu hỏi đoàn bạn đặt ra là: &quot;Cách nhau 60 km, Hà Nội - Vĩnh Yên là một hay hai thành phố?&quot;. Ta trả lời: &quot;Theo Nghị quyết của Bộ Chính trị Việt Nam là Một&quot;. Quyết định này cho ra một sản phẩm duy nhất: Cầu Thăng Long còn sử dụng đến bây giờ.
Quy hoạch mở rộng thủ đô được ký với Viện Quy hoạch Léningrad. Hợp đồng hoàn thành khoảng năm 1979 - 1980, khi miền Nam đã thống nhất hoàn toàn.
Đất nước thống nhất, số lượng và bố cục hệ thống đô thị trên cả nước thay đổi về căn bản, xuất hiện mạng lưới các đô thị miền Nam với Sài Gòn như một chủ thể đối trọng so sánh, chủ trương mở rộng Hà Nội lên Vĩnh Yên không còn cơ sở thực hiện.
Tình thế mới. Hệ thống đô thị được mở rộng ra trên cả nước. Địa bàn quy hoạch, phương pháp quy hoạch đặt ra những vấn đề mới. Lực lượng phải dàn mỏng, san sẻ cán bộ cho miền Nam. Tính chất và kết cấu đô thị miền Nam là một hệ thống hoàn toàn phi xã hội chủ nghĩa.
Nói cho cùng, vì cách mạng phân công, một số cán bộ bước vào mội trường quy hoạch đô thị, vẽ cho đất nước những thành phố to đẹp mười lăm, hai mươi năm sau, nhưng đã trông thấy chiếc thang máy bao giờ đâu? Ngay cả những người từng được đi thang máy vì có du học nước ngoài thì Sài Gòn vẫn là một thành phố gây ấn tượng mạnh về nhiều mặt. Một đô thị kiểu chủ nghĩa tư bản ngay trên đất nước mình? Một biểu hiện &nbsp;của phồn vinh giả tạo vẫn được học lâu nay (?!). Khác với tất cả những gì được học và đã thử làm trong nhiều năm qua.
Nguồn : Tuần VN Net]]></description>
            <pubDate>2009/10/31 08:51:04</pubDate>
            <guid><![CDATA[HÀ NỘI TRÊN ĐƯỜNG ĐÔ THỊ HÓA...:501]]></guid>
         </item>        </channel>
        </rss><!-- w1.blog.sg1.yahoo.com compressed/chunked Wed Nov 25 09:41:57 SGT 2009 -->
