Thư mục: Tổng hợp |
Quan trọng
Đăng ngày: 14:38 10-11-2009

Albert
Arnold Gore, Jr.
(tên thường được gọi Al Gore; sinh ngày 31 tháng 3 năm 1948) là
Phó Tổng thống thứ 45 Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, ông giữ chức vụ này từ năm 1993 đến
2001 dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Trước khi nhậm chức Phó Tổng thống,
Gore là dân biểu đại diện tiểu bang Tennessee
trong Hạ viện (1977–85), và là Thượng Nghị sĩ tại Thượng viện Hoa Kỳ (1985–93).
Gore đóng một vai trong bộ phim tài liệu đoạt giải Oscar An Inconvenient
Truth (tượng vàng Oscar được trao cho đạo diễn Davis Guggenheim,
và ông tặng nó cho Gore trong chương trình) [1].
Gore từng là ứng cử viên Đảng Dân chủ cho chức Tổng thống trong kỳ tổng tuyển cử
năm 2000, đó là một trong những cuộc bầu cử gây tranh cãi nhất trong lịch sử
Hoa Kỳ [2]. Sau khi xảy ra
nhiều vấn đề về kiểm phiếu, và kết quả bầu cử bị bác tại tòa của tiểu bang
Florida, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ mở vụ kiện Bush vs Gore, quyết định ngừng quá
trình đếm phiếu, để cho George W. Bush nắm được đa số trong đại cử tri
(electoral college) và do vậy Bush trở thành Tổng thống Hoa Kỳ [3].
Hiện nay, Gore làm chủ một đài truyền hình cáp ở Mỹ, Current TV, đài này đã
giành giải Primetime Emmy năm 2007 về Thành tích Sáng tạo Nổi bật về Truyền
hình Tương tác (Outstanding Creative Achievement in Interactive Television) [4].
Ông cũng là chủ tịch công ty Generation Investment Management, giám đốc của
Apple Inc., cố vấn không chính thức của ban quản lý Google, và là chủ tịch
Alliance for Climate Protection (Liên minh Bảo vệ Khí hậu).
Gore đi nhiều nơi để diễn thuyết về tình trạng nóng ấm toàn cầu mà ông gọi là “cuộc
khủng hoảng khí hậu”. Năm 2006, ông tham gia diễn xuất trong phim tài
liệu An Inconvenient Truth (Sự thật mất lòng) tập trung
vào chủ đề môi trường và tình trạng nóng ấm toàn cầu. Phim này đoạt giải Oscar.
Dưới sự lãnh đạo của Gore, một trong những tổ chức của ông, Save Our Selves, thực
hiện một chuỗi các buổi hoà nhạc từ thiện mang tên Live Earth tại
12 địa điểm trên 7 đại lục, trong ngày 7 tháng 7 năm 2007 (07.07.07), như là một
phần trong nỗ lực thu hút sự chú ý của công luận vào tình trạng biến đổi khí hậu.
Cùng với Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), Gore được trao tặng
giải Nobel Hòa bình năm 2007 “vì những nỗ lực xây dựng và giúp mọi người nhận
thức về sự thay đổi khí hậu mà tác nhân chính là con người, cũng như thiết lập
nền tảng cho các biện pháp cần thiết để xử lý vấn nạn này”. [5]
Mặc dù Gore vẫn thường tuyên bố “Tôi không có ý định ra tranh cử lần nữa”, vẫn
tiếp tục có những đồn đoán ông sẽ tham gia cuộc đua giành sự tranh cử của Đảng
Dân chủ cho kỳ bầu cử tổng thống năm 2008.
Thiếu thời
Albert A. Gore, Jr. chào đời ở Washington, D. C., là con trai của Albert Arnold
Gore, Sr.. Al Gore, Sr. là Dân biểu Hoa Kỳ (1939-1944, 1945-1953), Thượng Nghị
sĩ Hoa Kỳ (1953-1971) đại diện tiểu bang Tennessee .
Thân mẫu của Gore là Pauline LaFon Gore, một trong những phụ nữ đầu tiên tốt
nghiệp Trường Luật Đại học Vanderbilt. Tuổi thơ của Gore được chia đều cho Washington và Carthage ,
Tennessee . [6] Trong
năm học, gia đình của cậu ngụ trong một khách sạn tại thủ đô, và suốt mùa hè, cậu
phải làm việc trong nông trang của gia đình ở Carthage , ở đây người ta trồng cỏ và chăn
nuôi súc vật. [7]
Gore đến học Trường St. Albans dành cho giới giàu có, xếp thứ 25 trong số
51 học sinh trong năm cuối cấp. Để chuẩn bị vào đại học, Gore phải qua kỳ thi
SAT với điểm số 1355. Chỉ số IQ của Gore trong khi theo học tại Trường St.
Albans trong năm đầu (1961) và năm cuối (1964) là 133 và 134.
Năm 1965, Gore vào Đại học Harvard, đây là viện đại học duy nhất mà Gore nộp
đơn. Tại đây, Gore bị xếp vào trong số các sinh viên học dở nhất lớp. Sau khi
nhận ra mình không thích thú gì với chuyên ngành ngữ văn Anh, Gore quyết định đổi
ngành học và tìm thấy niềm đam mê với môn chính quyền học, sau đó tốt nghiệp hạng
danh dự vào tháng 6 năm 1969 với văn bằng Cử nhân chuyên ngành Chính quyền học.
[8]
Gore chống Chiến tranh Việt Nam, và lẽ ra có thể tránh đi phục vụ ở hải
ngoại bằng cách chấp nhận một vị trí trong Lực lượng Vệ binh Quốc gia mà một
người bạn của gia đình đã dành sẵn cho ông. Nhưng Gore nói rằng nghĩa vụ công
dân đã thúc đẩy ông phục vụ đất nước trong khả năng của mình. [9]
Gore gia nhập Lục quân Hoa Kỳ ngày 7 tháng 8 năm 1969. Sau khi qua khóa huấn
luyện cơ bản tại Fort
Dix , Gore nhận nhiệm vụ
phóng viên cho nhật báo The Army Flier. [10] Bảy tháng trước khi giải
ngũ, Gore được cử đến Việt Nam
vào ngày 2 tháng 2 năm 1971. Ông phục vụ bốn tháng trong Trung đoàn Công binh
20 ở Biên Hòa, và thêm một tháng ở Bộ Chỉ huy Công binh Lục quân ở Long Bình. [11]
Gore được giải ngũ hai tháng trước thời hạn để kịp vào Trường Thần học, Đại
học Vanderbilt. Năm 1970, Gore kết hôn với Mary Elizabeth Aitchenson (còn gọi
là Tipper), người mà Gore đã gặp gỡ trước đó tại một buổi tiệc khiêu vũ ở trường
trung học tại Washington, D. C.
Trong thời gian năm năm, Gore là phóng viên cho nhật báo The Tennessean tại
Nashville, Tennessee. Những phóng sự điều tra của Gore về những vụ tham nhũng của
các thành viên Hội đồng Thành phố Nashville
dẫn đến việc bắt giữ và truy tố hai nghị viên hội đồng thành phố về hai tội
danh khác nhau. [12] Nhưng vụ này cũng đem đến cho Gore cảm giác
hoang mang vì nhận thức rằng một nhà báo có thể vạch trần các hành vi sai trái
nhưng lại không thể sửa chữa chúng. Từ nhận thức này, Gore quyết định bỏ nghề
báo và đi học luật. Nhưng trước khi tốt nghiệp, Gore biết được vị dân biểu đại
diện khu vực bầu cử của mình đang tính đến việc về hưu, thế là Gore bỏ học để bắt
đầu sự nghiệp chính trị của mình.
Sự nghiệp Chính trị (1976 – 2000)
Viện Dân biểu
Khi Dân biểu Joe L. Evins tuyên bố nghỉ hưu sau 30 năm tại chức, Gore quyết định
bỏ học trong tháng 3 năm 1976 để ra tranh cử ghế dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, đại
diện cho hạt bầu cử số bốn của tiểu bang Tennessee. Gore đánh bại Stanley
Rogers trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ, rồi tiến vào cuộc tổng tuyển cử
mà không có đối thủ để lần đầu tiên nhận lấy một vị trí trong Viện Dân biểu Hoa
Kỳ, khi ấy ông 28 tuổi. [13] Ông tái đắc cử ba lần trong năm 1978,
1980, và 1982. Năm 1984, Gore đắc cử vào Thượng viện Hoa Kỳ, chiếm ghế đang bỏ
trống của Lãnh tụ phe đa số Cộng hòa Howard Baker. Gore đại diện cho tiểu bang
Tennessee tại Thượng viện cho đến năm 1993, khi ông trở thành Phó Tổng thống Hiệp
Chủng Quốc Hoa Kỳ. [13]
Trong thời gian phục vụ tại Quốc hội, Gore có chân trong Ủy ban Quân bị
và Ủy ban Thương mại, Khoa học và Giao thông. [13] Cuối thập niên
1980, ông đệ trình dự luật Gore, được thông qua để trở thành Luật Vi tính và
Truyền thông năm 1991, đạo luật này đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự
phát triển của Internet. [14]
Thượng Nghị sĩ Al Gore đã hai lần yêu cầu chính phủ Mỹ rút lại sự ủng hộ
dành cho Saddam Hussein, nêu lý do Hussein sử dụng khí độc, ủng hộ khủng bố, và
phát triển chương trình hạt nhân, nhưng bị chống đối bởi chính phủ Reagan và
chính phủ Bush. [15] [16] Khi phát động Chiến dịch Al-Anfal, Hussein
đã sử dụng khí độc tấn công người Kurd ở Iraq, Gore đứng ra đồng bảo trợ Đạo luật
Ngăn chặn Diệt chủng năm 1988 nhằm chấm dứt mọi trợ giúp dành cho Iraq. Dự luật
bị đánh bại, một phần do sự tích cực vận động hành lang từ Tòa Bạch Ốc, phần
khác là do Tổng thống Reagan đe dọa dùng quyền phủ quyết. [15]
Bầu cử Tổng thống năm 1988
Gore ra tranh cử tổng thống trong kỳ tuyển cử năm 1988, nhưng không
thành công khi Michael Dukakis giành được sự đề cử của Đảng Dân chủ. [13]
Chiến lược tranh cử của Gore là bỏ qua cuộc bầu cử sơ bộ ở Iowa ,
và ít quan tâm đến kết quả sơ bộ ở New Hampshire ,
nhưng tập trung vận động ở các tiểu bang miền Nam . Ông chiến thắng trong các cuộc
bầu cử sơ bộ ở Arkansas , Kentucky ,
North Carolina , Oklahoma ,
và Tennessee , [13] [17] nhưng lại bị
đánh bật khỏi cuộc đua khi thất bại trong cuộc bầu cử sơ bộ ở New York .
Ngày 3 tháng 4 năm 1989, cậu con trai sáu tuổi của Gore, Albert, suýt bị giết
chết trong một tai nạn giao thông đã khiến cha cậu phải quyết định dành thời
gian bên cạnh con trai trên giường bệnh, thay vì chuẩn bị cho kỳ bầu cử tổng thống
năm 1992. Trong thời gian này, Gore bắt tay viết cuốn Earth in the Balance về
chủ đề bảo vệ môi trường. Đây là tác phẩm đầu tiên của một thượng nghị sĩ đương
nhiệm có tên trong bảng liệt kê sách bán chạy nhất của tờ The New York Times, kể
từ quyển Gương Can đảm nơi Nghị trường của John F. Kennedy. [13]
Phó Tổng thống
Ngày 9 tháng 7 năm 1992, Bill Clinton chọn Gore đứng chung liên danh cho cuộc bầu
cử tổng thống năm 1992. Ngày 20 tháng 1 năm 1993, Gore nhậm chức Phó Tổng thống
thứ 45 của Hoa Kỳ. Clinton và Gore tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai năm 1996.
Theo tường trình của chính phủ, nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển trong suốt tám
năm cầm quyền của chính phủ Clinton-Gore. Một trong những nhân tố thúc đẩy sự
phát triển kinh tế là Đạo luật Omnibus Budget Reconciliation năm 1993 mà Gore,
trong cương vị Chủ tịch Thượng viện, đã bỏ lá phiếu quyết định nhằm phá vỡ thế
cân bằng trong kết quả kiểm phiếu. Chính phủ đã hợp tác tốt với Viện Dân biểu
trong nỗ lực cắt giảm chi tiêu liên bang, rồi dần dần cân bằng ngân sách liên
bang. Một trong những chức trách của Phó Tổng thống Gore là lãnh đạo đề án Kiểm
tra Hoạt động Quốc gia với mục tiêu vạch ra sự lãng phí, gian trá, và những lạm
dụng khác đang diễn ra trong chính phủ liên bang, cũng như tập trung vào nhu cầu
tinh giản bộ máy hành chánh và cắt giảm số lượng các luật lệ và qui định. Gore
cho rằng những nỗ lực này đã cung cấp những định hướng cần thiết cho Tổng thống
Clinton khi ông
tiến hành chương trình thu gọn bộ máy hành chánh của chính phủ liên bang.
Năm 1993, trong một cuộc tranh luận với Ross Perot trong chương trình Larry
King Live của đài CNN về chủ đề tự do thương mại, Gore đưa ra luận cứ ủng hộ tự
do thương mại và nỗ lực thông qua hiệp ước NAFTA, trong khi Perot chống lại những
điều này. Những cuộc thăm dò dư luận cho thấy đa số người Mỹ tin rằng Gore đã
thắng trong cuộc tranh luận, và tỏ ý ủng hộ NAFTA. Dự luật được thông qua tại Hạ
viện với kết quả kiểm phiếu 234 – 200.
Năm 1997, Gore là viên chức chính phủ cao cấp nhất tham gia một cuộc đua
marathon khi đương chức. Gore hoàn tất cuộc đua Marathon Thủy quân Lục chiến
trong 4 giờ 54 phút 25 giây.
Năm 1998, Gore khởi sự vận động cho chương trình phóng một vệ tinh NASA có thể
liên tục quan sát trái đất, đánh dấu một bước tiến lớn trong lãnh vực này kể từ
lúc phi hành đoàn phi thuyền Apollo 17 thực hiện bức ảnh trứ danh Viên Bi Xanh
chụp trái đất từ khoảng cách 29 000 km trong năm 1972. Vệ tinh “Triana” được đặt
ở vị trí L1 (Lagrangian Point), cách trái đất 1,5 triệu km.
Cũng trong năm 1998, Gore bắt đầu cộng tác với đề án Digital Earth nhằm xây dựng
một hệ thống trình bày những ảnh ảo về trái đất trên Internet, nối kết và tương
tác với các nguồn dữ liệu trên khắp thế giới.
Bầu cử Tổng thống năm 2000
Sau khi hoàn tất hai nhiệm kỳ Phó Tổng thống, Gore quyết định ra tranh cử trong
cuộc chay đua vào Tòa Bạch Ốc năm 2000, và chọn Thượng Nghị sĩ Joe Lieberman đứng
chung liên danh. Đây là một trong những kỳ bầu cử tổng thống có kết quả sít sao
nhất, cũng như gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
Con gái của Gore, Karenna Gore Schiff, hoạt động tích cực cho chiến dịch vận động
trong cương vị Chủ tịch Youth Outreach. Cùng với diễn viên điện ảnh nổi tiếng
Tommy Lee Jones, Jones từng là bạn cùng phòng với Al Gore khi hai người theo học
tại Đại học Harvard, Schiff chính thức đề cử Gore làm ứng cử viên tổng thống tại
Đại hội Đảng Dân chủ năm 2000 ở Los Angeles. Cô cũng là người giới thiệu Al
Gore khi ông tuyên bố bắt đầu chiến dịch tranh cử.
Suốt trong thời gian vận động, Gore và đối thủ thuộc Đảng Cộng hòa, Thống đốc
Tiểu bang Texas George W. Bush, ngang điểm nhau. Đến ngày bầu cử, kết quả sít
sao đến độ phải mất hơn một tháng chờ đợi kết quả sau cùng ở tiểu bang Florida . Ngay trong đêm
bầu cử, các mạng lưới tin tức đưa tin thắng lợi của Gore tại Florida, rồi cải
chính, rồi gọi Bush là người chiến thắng, rồi lại cải chính. [18]
Cuối cùng, cuộc đua được quyết định bởi 537 phiếu cách biệt tại Florida để toàn bộ 25
phiếu cử tri đoàn của tiểu bang dành cho Bush. Gore thừa nhận thất bại sau khi
Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ phán quyết trong vụ Bush verus Gore việc tái kiểm phiếu
tại Florida
là vi hiến. Dù bất đồng với phán quyết của Tòa Tối cao, Gore tuyên bố, “vì sự
đoàn kết dân tộc và sức mạnh của nền dân chủ, tôi quyết định nhượng bộ”. [19]
Như vậy, Gore là ứng cử viên thứ ba trong lịch sử Hoa Kỳ giành được đa số phiếu
phổ thông (khoảng nửa triệu phiếu nhiều hơn đối thủ) nhưng lại thua số phiếu của
cử tri đoàn. Gore có 266 phiếu cử tri đoàn so với 271 phiếu dành cho Bush. [20]
Sau này, trong một lần diễn thuyết về tình trạng nóng ấm toàn cầu, Gore
đã nói đùa khi tự giới thiệu là “người lẽ ra là Tổng thống Hoa Kỳ”.
Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2000, Gore thường giới thiệu các thành
tựu kinh tế là kết quả của những chính sách được thiết kế bởi chính phủ dưới
quyền lãnh đạo của ông và Clinton – 22 triệu việc làm mới, con số kỷ lục những
người sở hữu ngôi nhà của mình, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong 30 năm, trả
360 tỉ USD nợ quốc gia, tỷ lệ nghèo thấp nhất trong 20 năm, chuyển đổi mức thâm
hụt ngân sách lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ trở thành mức thặng dư ngân sách
cao nhất, chi tiêu liên bang thấp nhất trong ba thập niên, gánh nặng thuế lợi tức
đóng cho liên bang thấp nhất trong 35 năm, và con số gia đình có sở hữu chứng
khoán cao nhất.
Sau nhiệm kỳ Phó Tổng thống
Giáo dục
Năm 2001, Gore nhận lời giảng dạy cho bốn viện đại học trong cương vị giáo sư
thỉnh giảng (Trường Cao học Báo chí Đại học Columbia ,
[21] Đại học Fisk, [22] Đại học Tiểu bang Tennessee , [23]
và UCLA [24]). Tháng 4 năm 2007, ông được bầu làm thành viên danh dự
của Hàn lâm viện Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ (hầu hết những người đoạt giải
Nobel đều được bầu vào vị trí danh dự này trước khi họ được trao tặng giải
Nobel).
Hoạt
động Công dân
Ngày 23 tháng 9 năm 2002, trong một diễn văn đọc trước Câu lạc bộ
Commonwealth, Gore đã trình bày quan điểm được nhiều người xem là mạnh mẽ nhất
chỉ trích Tổng thống George W. Bush và Quốc hội về sự vội vã của họ khi tiến
hành cuộc chiến, ngay cả khi chưa có dấu hiệu rõ ràng về thái độ thù địch của
Iraq. Lúc ấy Gore đã cảnh báo về gánh nặng chi tiêu dành cho cuộc chiến, nguy
cơ uy tín của nước Mỹ sút giảm trên trường quốc tế, và những tra vấn về tính hợp
pháp của Chủ thuyết Bush về chiến tranh ngăn chặn. [25] [26]
Tháng 9 năm 2005, Gore thuê hai máy bay để di tản 270 người khỏi New
Orleans sau trận bão Katrina. Ông cũng lớn tiếng chỉ trích chính phủ liên bang
và địa phương về cung cách giải quyết hậu quả cơn bão. [27]
Kêu gọi Quan tâm đến Môi trường
Theo một bài đăng trên tờ The Concord Monitor ngày 27 tháng 2 năm 2007, “Gore
là một trong những chính trị gia đầu tiên thấu hiểu mức độ nghiêm trọng của
tình trạng thay đổi khí hậu, đã kêu gọi cắt giảm lượng khí thải carbon dioxide
cũng như các loại khí đốt gây hiệu ứng nhà kính. Từ thập niên 1970, ông đã tổ
chức cuộc điều trần đầu tiên của Quốc hội về chủ đề này ”. [28] Suốt
trong thời gian làm việc tại Quốc hội, Gore đã đứng ra đồng tổ chức các phiên
điều trần về chất thải độc hại trong năm 1978-1979, cũng như về tình trạng nóng
ấm toàn cầu trong thập niên 1980. Ngày 14 tháng 5 năm 1989, khi đang là Thượng
Nghị sĩ, Gore cho đăng một bài xã luận trên tờ Washington Post, ông viết “Nhân
loại đột nhiên bước vào một mối tương quan mới với tinh cầu Trái Đất. Những khu
rừng trên khắp thế giới đang bị tàn phá; lổ hỗng khổng lồ trên tầng ozone đang
ngày càng lan rộng. Các loài sinh vật đang chết dần mòn ở mức độ cao chưa từng
thấy.”
Vào Ngày Trái Đất năm 1994, Gore khai trương Chương trình GLOBE, một đề án giáo
dục và khoa học, theo tạp chí Forbes, “sử dụng những tiện ích Internet vào mục
tiêu gia tăng sự quan tâm của sinh viên về môi trường sống của họ”.
Cuối thập niên 1990, Gore đẩy mạnh cuộc vận động phê chuẩn Hiệp ước Kyoto nhằm
cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, nhưng nỗ lực của ông bị vô hiệu
hóa bởi Nghị quyết Byrd-Hagel, được thông qua tại Thượng viện với số phiếu đồng
thuận 95-0, thể hiện lập trường của Thượng viện là Hoa Kỳ không nên ký bất cứ
hiệp ước nào mà không có sự ràng buộc về mục tiêu và lịch trình (cắt giảm lượng
khí thải) đối với các quốc gia tiên tiến cũng như các nước đang phát triển, hoặc
nếu hiệp ước “gây ra sự thiệt hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế nước Mỹ”.
Ngày 12 tháng 11 năm 1998, Gore ký tượng trưng bản hiệp ước, nhưng chính phủ Clinton không bao giờ đệ
trình Thượng viện để thông qua.
Trong những năm gần đây, Gore bận rộn du hành khắp thế giới để tham dự và nói
chuyện tại các sự kiện tập chú vào chủ đề tình trạng nóng ấm toàn cầu và biện
pháp ngăn chặn. Khán giả thường đứng lên hoan hô sau khi nghe Gore diễn thuyết.
Trong phần độc thoại trong phim An Inconvenient Truth (Một sự thật mất lòng),
Gore cho biết ông đã trình bày bài nầy ít nhất là một ngàn lần. Ông được trả
120 000 USD khi đến diễn thuyết tại Regina ,
Saskatchewan , Canada .
[29]
Ngày 7 tháng 7 năm 2007, một chuỗi những buổi hòa nhạc từ thiện được tổ
chức tại các địa điểm khác nhau trên khắp thế giới, trong nỗ lực đánh thức sự
quan tâm của công chúng đối với sự biến đổi khí hậu. Đây là sáng kiến tâm huyết
của Gore và Kevin thuộc tổ chức Save Our Selves.
Ngày 21 tháng 7 năm 2007, Gore tuyên bố cộng tác với minh tinh điện ảnh Cameron
Diaz tổ chức cuộc thi về khí hậu trên truyền hình Sáu mươi giây để cứu Trái Đất,
nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của công chúng trong nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng
khí hậu. Bạn có thể xem đoạn phim đoạt giải ở đây.
Gore tham gia diễn xuất trong phim An Inconvenient Truth (Sự thật mất lòng), cuốn
phim đoạt giải Oscar năm 2007 cho thể loại phim tài liệu. Khi được trao giải
Oscar, đạo diễn Davis Guggenheim yêu cầu Gore bước lên bục nhận giải cùng với
đoàn làm phim. Gore phát biểu ngắn gọn, “Chúng ta cần phải giải quyết cuộc khủng
hoảng khí hậu. Đây không phải là vấn đề chính trị mà là vấn đề đạo đức. Mọi thứ
đã sẵn sàng để bắt đầu, miễn là chúng ta có đủ quyết tâm".
Phát hành ngày 24 tháng 5 năm 2006, cuốn phim thu thập chứng cứ về tình trạng
nóng ấm toàn cầu mà con người là tác nhân, cũng như đưa ra lời cảnh báo về hậu
quả của nó, nếu con người không chịu hành động kịp thời để thay đổi các thói
quen tác hại đến môi trường sống. Cuối tháng 7, An Inconvenient Truth vượt qua
phim Bowling for Columbine của đạo diễn Michael Moore (xoay quanh chủ đề về vụ
Thảm sát Trường Trung học Columbine và tình trạng bạo hành có vũ khí) để chiếm
vị trí thứ ba trong số những phim tài liệu được xem nhiều nhất trong lịch sử
Hoa Kỳ. [30] Gore cũng cho xuất bản một cuốn sách cùng tên, tác phẩm
này trở nên sách bán chạy nhất.
Giải Nobel Hòa bình năm 2007
Ngày 12 tháng 10 năm 2007, cùng với Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu
(Chủ tịch ủy ban là Rajendra K. Pachauri ở Dehli, Ấn Độ), Gore được trao tặng
Giải Nobel Hòa bình năm 2007 [31] “vì những nỗ lực xây dựng và giúp
mọi người nhận thức về tình trạng thay đổi khí hậu mà con người là tác nhân
chính, cũng như thiết lập nền tảng cho các biện pháp cần thiết để xử lý vấn nạn
này”. [32]
Gore đưa ra lời đáp từ sau khi giải Nobel được công bố:
Thật là một vinh dự to lớn khi nhận Giải
Nobel Hòa bình. Ý nghĩa của nó còn lớn lao hơn nữa khi tôi được hân hạnh chia sẻ
giải thưởng này với Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu – một tổ chức
khoa học danh giá của thế giới được cống hiến cho mục tiêu nâng cao sự hiểu biết
của công chúng về cuộc khủng hoảng khí hậu – với các thành viên đã tận tụy làm
việc không mệt mỏi trong nhiều năm qua. Chúng ta đang đối diện với nguy cơ có
thật về tình trạng nguy cấp của tinh cầu này. Cuộc khủng hoảng khí hậu không phải
là một vấn đề chính trị, mà là một thách thức đối với đạo đức và lương tri của
toàn thể nhân loại. Nó cũng là cơ hội lớn nhất dành cho chúng ta để có thể nâng
cao tầm nhận thức của mọi người trên thế giới. Vợ tôi, Tipper, và tôi quyết định
dành toàn bộ số tiền thưởng cho Liên minh Bảo vệ Khí hậu (Alliance for Climate
Protection), một tổ chức lưỡng đảng và phi lợi nhuận, có mục tiêu thay đổi nhận
thức của công chúng tại Hoa Kỳ và trên thế giới về tính cấp bách của các biện
pháp giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu.
Ngày 10 tháng 12 năm 2007, Al Gore và Pachauri nhận Giải Nobel Hòa bình năm
2007 tại Oslo, Na Uy. [33] [34] [35]
Internet và Kỹ thuật
Với chức trách của Thượng Nghị sĩ và Phó Tổng thống, Gore hoạt động tích cực
trong nỗ lực phát triển và phổ cập Internet. Theo Campell-Kelly và Aspray, đồng
tác giả của Computer: A History of the Information Machine, mãi cho đến đầu thập
niên 1990, việc sử dụng Internet trong quảng đại quần chúng vẫn còn hạn chế, và
nhận xét "mục tiêu đem đến cho người dân Mỹ bình thường cơ hội tiếp cận với
mạng toàn cầu đã thúc đẩy Thượng Nghị sĩ Al Gore từ cuối thập niên 1970"
đã giúp ông phát triển các thể chế pháp lý nhằm giải quyết các trở ngại để đạt
đến mục tiêu này. Gore bắt tay soạn thảo đạo luật High Performance Computing
and Communication năm 1991, [36] (thường gọi là Dự luật Gore) được
thông qua ngày 9 tháng 12 năm 1991, dọn đường cho việc thành lập Cơ sở Hạ tầng
Thông tin Quốc gia (National Information Infrastructure, viết tắt NII) - một mạng
lưới kết nối các phương tiện truyền thông, dịch vụ tương tác, phần cứng và phần
mềm có thể điều phối được, máy vi tính, kho dữ liệu và các thiết bị điện tử hầu
có thể cung cấp cho người dùng một khối lượng khổng lồ các loại thông tin. [37]
Al Gore thích gọi mạng thông tin khổng lồ này là "siêu xa lộ thông
tin" (information superhighway).
Từ năm 2003, Gore có chân trong ban giám đốc của Apple Inc., và là cố vấn trưởng
cho Google Inc. [38]
Ngày 6 tháng 6 năm 2005, Gore được trao Giải Thành tựu Trọn đời của The
Webby Awards vì "ba thập niên đóng góp cho Internet". Gore, trong phần
đáp từ (giới hạn trong năm từ theo qui định của Webby Awards), đã nói đùa:
"Please don't recount this vote" (Xin đừng tái kiểm phiếu).
Gia
đình
Gore có một người chị, Nancy Gore Hunger, qua đời năm 1984 vì ung thư
phổi.
Gore kết hôn với Mary Elizabeth Aitcheson (Tipper Gore). [39] Hai
người có bốn con: Karenna (sinh ngày 6 tháng 8 năm 1973), kết hôn với Andrew
"Drew" Schiff; [40] Kristin (sinh ngày 5 tháng 6 năm
1977), kết hôn với Paul Cusack; Sarah (7 tháng 1 năm 1979), kết hôn với doanh
nhân người Mỹ gốc Đài Loan Bill Lee (李君偉); [41]
và Albert III (19 tháng 10 năm 1982). Sarah hiện là sinh viên trường Y của Đại
học California tại San Francisco . Albert làm việc cho nhà xuất bản
tạp chí từ thiện Good. Gore có hai cháu ngoại: Wyatt Gore Schiff (4 tháng 7 năm
1999) và Anna Hunger Schiff (23 tháng 8 năm 2001).[42]
Gia đình Gore đang sống tại Nashiville , Tennessee , và sở hữu một nông trang gần Carthage . Họ là thành viên Nhà thờ Baptist
Missionary New Salem ở Carthage .
Tác
phẩm
* Gore, Al (2009, forthcoming). The Path to
Survival, Rodale Books. ISBN 1-59486-734-8.
* Know Climate Change and 101 Q and A on
Climate Change from 'Save Planet Earth Series', 2008 (children's books) [43]
* Gore, Al (2007). The Assault on Reason, New York : Penguin. ISBN
1-59420-122-6.
* Gore, Al (2006). An Inconvenient Truth: The
Planetary Emergency of Global Warming and What We Can Do About It, New York : Rodale Books.
ISBN 1-59486-567-1.
* Gore, Al (2002). Joined at the Heart: The
Transformation of the American Family. ISBN 0-8050-7450-3.
* Gore, Al (2002). The Spirit of Family. ISBN
0-8050-6894-5.
* Gore, Al (2001). From Red Tape to Results:
Creating a Government That Works Better and Costs Less. ISBN 1-58963-571-X.
* Gore, Al (1998). Common Sense Government:
Works Better & Costs Less: National Performance Review (3rd Report). ISBN
0-7881-3908-8.
* Gore, Al (1997). Businesslike Government:
lessons learned from America 's
best companies. ISBN 0-7881-7053-8.
* Gore, Al (1992). Earth in the Balance:
Forging a New Common Purpose, Earthscan. ISBN 0-618-05664-5.
* Transcript: Former Vice President Gore's
Speech on Constitutional Issues, January, 2006
* Transcript of Al Gore's speech at the
Sierra Summit, September 9, 2005
* Remarks of Former Vice President Al Gore to
the Democratic National Convention, 2004
* Transcript: Former Vice President Al
Gore:Matching our Nation's Economic Course to Our Current Realities — Brookings
Institution, October, 2002
* Transcript: Gore remarks on Florida vote
certification, November 27, 2000
Chú
thích
1. Freedman, Wayne. “Draft Gore Campaign Gains
Steam In SF”, KFSN-TV, 11 tháng 10, 2007. Truy cập 12 tháng 10, 2007.
2. "Al Gore". Encyclopedia Britannica.
(2007). Encyclopædia Britannica, Inc..
3. George W. Bush, et al., Petitioners v. Albert
Gore, Jr., et al., 531 U.S.
98 (2000).
4. 59th Primetime Emmy Awards
5. Peace 2007
6. “Albert Gore Jr.: Son of a senator”. CNN. Truy
cập 24 tháng 2 năm 2007.
7. Zelnick, Bob (1999). Al Gore: A Political
Life, Regnery Publishing. ISBN 0-89526-326-2.
8. Al Gore Biography
9. “For Gore, Army Years Mixed Vietnam and
Family Politics”. New York Times. Truy cập 25 tháng 2 năm 2007.
10.
Al Gore's Journey
11.
Gore Chronology
12.
“Al Gore, boy reporter”. Truy cập
9 tháng 5 năm 2007.
13.
a b c d e f Albert A. Gore, Jr.,
45th Vice President (1993-2001)
14.
Kleinrock, Leonard. “The Internet
rules of engagement: then and now”, lk.cs.ucla.edu. Truy cập 1 tháng 6 năm
2007.
15.
a b Al, Gore (September 29,
1992), Speech by Senator Al Gore,
http://www.reasons-for-war-with-iraq.info/gore_speech_9-29-92.html
16.
Al, Gore (September 29, 1992),
Rewind: Gore Blasts G.H.W. Bush for Ignoring Iraq Terror Ties, .breitbart.tv
(CSPAN), http://www.breitbart.tv/?p=1602
17.
THE FIRST SUPER TUESDAY
18.
Online NewsHour
19.
VICE PRESIDENT AL GORE DELIVERS
REMARKS
20.
"It's a Mess, But We've Been
Through It Before". Time Magazine. Retrieved on September 6, 2006
21.
"Former Vice President Al
Gore to Teach at Columbia 's School of Journalism ".
Columbia University . January 25, 2001.
22.
"Al Gore To Teach At Fisk University
— Brief Article". findarticles.com. COPYRIGHT 2001 Johnson Publishing Co..
COPYRIGHT 2001 Gale Group.
23.
"The Faculty: Al Gore".
©2001–02 Middle Tennessee State
University
24.
"TRAINING THE NEXT COMMUNITY
BUILDERS: Gore taps faculty expertise". Copyright 2001 UC Regents.
25.
Text of speech given by Al Gore
on September 23, 2002
26.
Gore challenges Bush Iraqi policy
27.
Duncan Mansfield / Associated
Press. "Al Gore airlifts Katrina victims out of New Orleans ". The Detroit News. September 9, 2005.
28.
Monitor staff (February 27 2007).
“Oscar win was one more first for Al Gore”. Monitor editorial. Concord Monitor. Truy cập 29 tháng 5 năm
2007.
29.
Al Gore coming to Saskatchewan cbcnews.
Thursday, April 5, 2007 | 8:59 AM CT
30.
"DOCUMENTARY:
1982–Present". Box Office Mojo. (Rankings).
31.
BBC (12 tháng 10 năm 2007).
“Indian's surprise at Nobel award”. BBC.
32.
“Peace 2007”. Nobel Foundation.
Truy cập 12 tháng 10 năm 2007.
33.
Al Gore (10 tháng 12 năm 2007).
“Nobel Prize Acceptance Speech, December 10, 2007”. Al Gore.
34.
Aftenposten Newspaper: Peace
Prize winners issue urgent calls for action
35.
Al Gore Wins the 2007 Nobel Peace
Prize
36.
Search Results - THOMAS (Library
of Congress)
37.
Chapman, Gary; Rotenberg, Marc
(1995), Johnson, Deborah G.; Nissanbaum, Helen, eds., Computers, Ethics, &
Social Values, Englewood
Cliffs: Prentice Hall, tr. The National Information Infrastructure:A Public
Interest Opportunity : 628–644
38.
“Albert Gore Jr.: Former Vice
President of the United
States ”, apple.com, apple.com, March 2003.
Truy cập 2 tháng 6 năm 2007.
39.
Gore as Candidate: Traveler
Between 2 Worlds, New York Times, January 21, 1988,
40. Gore's Eldest Daughter Weds New York Doctor In
Washington
41.
Wihlborg, Ulrica (14 tháng 6 năm
2007). “Al Gore's Daughter Sarah Gets Married”. People Magazine. Truy cập 17
tháng 7 năm 2007.
42.
“Keynote Speaker”. Orange County
Health Care Agency. Truy cập 4 tháng 7 năm 2007.
43.
Al Gore releases children's Book
on climate change

Hế nô pạn. Nice to meet U. xinhdesign - 14:46 25-11-2009
- 20:06 22-11-2009
Have a nice day ! Chuc cau co mot ngay moi vui ve ! - 02:31 20-11-2009
Xuân 2010 đang đến! Bạn muốn in lịch? Bạn đang cân nhắc... - 13:02 19-11-2009
Giảm giá cực shock Sim Vip, Sim Năm Sinh .... 999.888 chỉ có 1.999k,... - 10:20 19-11-2009


Alibaba.Vungoimora.net 23:07 20-11-2009
Cho gởi quảng cáo ở đây tí nha
quach lon ton 20:41 10-11-2009
♀♂♥ღஐ:._ V0dkA _.:ღஐ♥♀♂ 20:37 10-11-2009
xinhdesign09:57 11-11-2009
21 18:32 10-11-2009
nh0c_ck4n_d0j_3006 16:54 10-11-2009
nh0c_ck4n_d0j_3006 16:49 10-11-2009
Dài thế?Không đủ kiên nhẫn để đọc chú à!Hỳ2.Mà dạo này chú đi đâu thế?đang có chuyện muốn nói thì lại chẳng thấy mặt đâu cả là sao!Haiz!